Võ Văn Đạt Em
Trường Đại học Kinh tế - Luật,
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Abstract
In alignment with the global trend of digital transformation, electronic notarization has emerged as an inevitable development, particularly in the aftermath of the Covid-19 pandemic. This advancement significantly contributes to enhancing the efficiency, transparency, and legal security of civil and commercial transactions. This paper systematically analyzes pioneering electronic notarization models adopted in various countries such as the United States, Estonia, France, and South Korea. Through this comparative approach, it seeks to draw valuable lessons and insights that may inform the adaptation and implementation of electronic notarization in the context of Vietnam. Additionally, the study proposes recommendations aimed at fostering the development and modernization of the notarization system in Vietnam in the coming period.
Keywords: Comparative law, digital signature, digital transformation, electronic notarization, notarization law.
1. Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết, công chứng là một hoạt động có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội như: xác lập tính pháp lý của các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, các nhu cầu giao dịch từ xa và mô hình công chứng như hiện nay bộc lộ nhiều hạn chế không còn phù hợp. Ở nhiều nước trên thế giới, công chứng điện tử đã được triển khai và khung pháp lý quy định về công chứng điện tử gần như hoàn chỉnh . Tại Việt Nam, Luật công chứng năm 2014 hầu như chưa triển khai thực hiện công chứng điện tử mà chỉ dừng lại ở mức độ đề cập, gần đây Luật công chứng năm 2024 vừa được ban hành đã ghi nhận và có một bước tiến đáng kể về công chứng điện tử nhưng vẫn chưa đầy đủ và chi tiết. Do đó, việc nghiên cứu về công chứng điện tử của các quốc gia đã triển khai hiệu quả để gợi mở hướng đi cho Việt Nam là điều cần thiết.
2. Khái niệm
Khái niệm công chứng điện tử được ghi nhận tại một số quốc gia trên thế giới nhưng có sự khác nhau về điều kiện kinh tế, xã hội nên mỗi quốc gia có những cách tiếp cận khác nhau về công chứng điện tử.
Luật công chứng Estonia (Notarisation Act) không có quy định rõ ràng khái niệm công chứng điện tử trong Luật công chứng. Tuy nhiên điều này được công nhận và triển khai thực hiện thông qua các quy định và hướng dẫn của Phòng công chứng Estonia (Estonian Chamber of Notaries). Công chứng điện tử có thể được hiểu là thực hiện các hành vi công chứng bằng phương thức từ xa, trong đó công chứng viên và các bên tham gia kết nối qua hệ thống điện tử an toàn sử dụng các công cụ định danh số như ID-card, Mobile-ID hoặc e-Resident ID.
Tại Điều 2 Luật công chứng Hàn Quốc (Notary Public Act) là hình thức được thực hiện thông qua phương tiện điện tử, cho phép người yêu cầu công chứng và công chứng viên kết nối từ xa qua nền tảng trực tuyến để xác thực và chứng thực tài liệu mà không cần gặp mặt trực tiếp. Công chứng viên sử dụng chữ ký số để chứng thực, xác thực lên các tài liệu điện tử và các tài liệu đã được số hóa mã.
Theo Điều 62 Luật công chứng 2024 mô tả như sau “Công chứng điện tử là việc công chứng được thực hiện bằng phương tiện điện tử để tạo lập văn bản công chứng điện tử tuân thủ nguyên tắc và quy định của pháp luật”. Như vậy có thể hiểu công chứng điện tử là việc công chứng được thực hiện thông qua phương tiện điện tử, sử dụng chữ ký số, chứng thư số và các phương tiện công nghệ để xác minh thay thế cho việc đến trực tiếp nơi công chứng như cách truyền thống trước đây.
3. Đặc điểm của công chứng điện tử
Công chứng là hoạt động nhằm xác định tính xác thưc, tính hợp pháp của các giấy tờ tài liệu như: hợp động, giao dịch, văn bản và sự kiện góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho tổ chức, cá nhân. Trong bối cảnh xu hướng phát triển ngày càng mạnh mẽ của quá trình chuyển dổi số đặc biệt là tại nhiều quốc gia trên thế giới. Không chỉ là thay đổi về quy trình công chứng điện tử mà còn thay đổi một cách toàn diện về cách thức, phương tiện và môi trường pháp lý trong hoạt động công chứng. Việc hiểu rõ về đặc điểm của công chứng điện tử là cơ sở quan trọng để thiết kế và ứng dụng triển khai mô hình công chứng một cách hiệu quả và hiện đại.
3.1. Diễn ra trong môi trường số hóa
Khác với phương pháp truyền thống công chứng điện tử được tiến hành trong môi trường số hóa. Việc lập, ký và lưu trữ hồ sơ tài liệu công chứng không còn phụ thuộc vào giấy tờ vật lý mà nó được thay thế bằng phần mềm, nghiệp vụ chuyên dụng, tích hợp với giao diện web hoặc phần mềm di động. Để bảo đảm tính xác thực và an toàn pháp lý công chứng điện tử sử dụng công cụ định danh điện tử, tài khoản định danh số, sinh trắc học. Các tài liệu sau khi được công chứng sẽ được lưu trên hạ tầng điện toán đám mây hoặc máy chủ tập trung, giúp bảo đảm tính bảo mật, có tính lâu dài bảo đảm tra cứu bất cứ khi nào. Hoạt đông công chứng diễn ra trong môi trường số hóa không những giúp không tiếp xúc trực tiếp, rút ngắn thời gian mà còn nâng cao tính minh bạch, giám sát chặc chẽ góp phần phòng ngừa tiêu cực trong lĩnh vực công chứng. Đây là nền tảng thiết yếu để hiện đại hóa công chứng trong bối cảnh chuyển đổi số.
3.2. Sử dụng chữ ký số có giá trị pháp lý
Một đặc điểm quan trọng của công chứng điện tử là sử dụng chữ ký số có giá trị thay thế cho chữ ký truyền thống. Chữ ký số là dạng chữ ký được tạo ra từ công nghệ mã hóa gắn liền với danh tính của người ký, có thể kiểm tra và xác minh được. Trong công chứng điện tử cả công chứng viên và những người công chứng đều có thể ký vào văn bản điện tử bằng chữ ký số thông qua các thiết bị điện tử máy tính, điện thoại thông minh hoặc thiết bị chuyên dụng khác. Việc sử dụng chữ ký điện tử giúp đảm bảo tính xác thực, chống việc chối bỏ trách nhiệm pháp lý. Tại Việt Nam Luật giao dịch điện tử năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã mở đường cho việc áp dụng chữ ký số trong các thủ tục pháp lý trong đó có công chứng. Đây là bước đi quan trọng để triển khai thực hiện chuyển đổi sang mô hình công chứng điện tử trong thời gian tới.
3.3. Tiết kiệm thời gian và chi phí
Công chứng điện tử không cần phải có sự tiếp xúc trực tiếp giữa công chứng viên và người yêu cầu công chứng mà được thực hiệc thông qua các phương tiện công nghệ. Bên cạnh đó công chứng điện tử giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí đi lại, chi phí in ấn tài liệu và lưu trữ hồ sơ.
3.4. Dễ dàng tra cứu và liên thông cơ sở dữ liệu
Hồ sơ công chứng sau khi đã hoàn thành sẽ được lưu trữ dưới dạng tài liệu điện tử có tính bảo mật cao, giúp cho việc tìm kiếm và truy xuất một cách nhanh chóng và chính xác trên dữ liệu hệ thống dịch vụ công như: dữ liệu đất đai, dân cư, doanh nghiệp, tài sản bảo đảm…Nhờ đó mà công chứng viên nhanh chóng xác minh nhân thân, quyền sở hữu, tình trạng pháp lý liên quan. Việc tra cứu dữ liệu được liên thông giúp công chứng viên rút ngắn thời gian và hạn chế sai sót đồng thời nâng cao tính minh bạch và chính xác trong giao dịch.
3.5. Công chứng điện tử mang tính linh hoạt cao
Công chứng điện tử mang tính linh hoạt cao, cho phép người dân thực hiện ở bất kỳ đâu và bất kỳ thời điểm nào miễn là có đầy đủ các trang thiết bị phù hợp để thực hiện công chứng (máy tính, điện thoại thông minh và mạng internet ổn định). Điều này giúp tiết kiệm thời gian, công sức đặc biệt là rất hữu ích trong điều kiện người yêu cầu công chứng ở những nơi có khoảng cách ở xa như: vùng sâu vùng xa, hải đảo hoặc đang ở nước ngoài. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, sự liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia trong hoạt động công chứng điện tử. Ngoài ra còn phụ thuộc vào trình độ, thói quen, kỹ năng sử dụng công nghệ của người dân cũng góp phần làm hiệu quả cho công chứng điện tử.
4. Pháp luật công chứng điện tử ở một số quốc gia
Theo thống kê của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tính đến tháng 6 năm 2025 có khoảng hơn 60 quốc gia đã triển khai hoặc công nhận công chứng điện tử và công chứng từ xa. Sự phát triển mạnh mẽ bởi xu hướng thay đổi công nghệ và nhu cầu không tiếp xúc trực tiếp ngày càng tăng đạc biệt là trong bối cảnh đại dịch Covid-19.
4.1. Công chứng điện tử tại Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ hợp pháp hóa công chứng từ xa (Remote Online Notarization - RON) và được cho phép ở nhiều tiểu bang. Hoa Kỳ là quốc gia theo hình thức liên bang nên luật công chứng ở mỗi bang xây dựng theo hướng khác nhau dẫn đến mức độ triển khai áp dụng cũng khác nhau. Tuy nhiên, tính đến năm 2024 có khoảng 40 bang đã phê chuẩn và áp dụng công chứng từ xa (RON) và hầu hết tất cả 50 tiểu bang đã cho phép công chứng điện tử trong một số hình thức như: bang Virginia là tiểu bang đầu tiên cho phép công chứng từ xa qua video theo thời gian thực vào năm 2011, hình thức công chứng này yêu cầu xác minh danh tính qua công nghệ xác thực và lưu trữ bản ghi hình với thời gian tối thiểu là 5 năm; tại bang Texas công chứng từ xa cũng được thực hiện vào năm 2018; tại bang Florida cũng được thực hiện vào năm 2020. Theo đó công chứng viên phải được đào tạo và đăng ký thực hiện công chứng điện tử và từ xa với cơ quan chức năng của chính quyền tiểu bang. Nơi công chứng phải sử dụng các phương pháp xác minh danh tính để xác minh dữ liệu cá nhân (KBA – Knowledge-Based Authentication), nhận diện qua giấy tờ tùy thân, sinh trắc học, v.v. Luật Hoa Kỳ yêu cầu ghi hình toàn bộ phiên công chứng và lưu trữ trong thời gian tối thiểu 5 năm. Các nền tảng được sử dụng trong công chứng từ xa phải tuân thủ các tiêu chuẩn quy định của chính quyền tiểu bang như: ghi hình theo thời gian thực, bảo mật dữ liệu, lưu trữ bản công chứng đúng thời gian quy định (các nền tảng công chứng từ xa được chấp nhận hiện nay tại Hoa Kỳ Notarize, DocuSign Notary, Signix, Nexsys Clear Sign, BlueNotary). Hình thức công chứng từ xa công chứng viên sử dụng chữ ký điện tử, đóng dấu điện tử và văn bản công chứng của tiểu bang này sẽ được các tiểu bang khác công nhận, dựa trên nguyên tắc công nhận lẫn nhau trừ một số giao dịch mà tiểu bang yêu cầu công chứng theo luật riêng của tiểu bang.
4.2. Estonia: Hệ sinh thái e-Government toàn diện
Estonia là quốc gia tiên phong trong việc thực hiện dịch vụ công điện tử thông qua hệ sinh thái e-Government toàn diện hay còn gọi là e-Estonia là hệ thống tiên tiến giúp cho công dân và cư dân tương tác với nhà nước thông qua giải pháp công nghệ thông tin bao gồm: căn cước điện tử (e-ID), xác thực trực tuyến và chữ ký mẫu ( Mobile-ID và Smart-ID), cư trú điện tử (e-Residency), i-Voting (bầu cử trực tuyến) và nhiều ứng dụng di động khác. Năm 2020 phòng công chứng Estonia ((Estonian Chamber of Notaries) đã tiến hành cho thử nghiệm dịch vụ công chứng điện tử e-Notary, cho phép thực hiện công chứng điện tử qua cuộc gọi video, ban đầu dịch vụ này được sử dụng tại một số đại sứ quán tại nước ngoài. Sau đó, do tác động của đại dịch Covid-19, hệ thống nhanh chóng được mở rộng và cho phép người dùng thực hiện tất cả các dịch vụ ở bất kỳ đâu trên thế giới. Công chứng điện tử được thực hiện với hầu hết các giao dịch chuyển nhượng bất động sản, lập di chúc, ủy quyền ngoại lệ duy nhất là đăng ký kết hôn và ly hôn bắt buộc phải gặp mặt công chứng trực tiếp. Hệ thống tra cứu thông tin từ 16 cơ sở dữ liệu quốc gia bao gồm: đăng ký bất động sản, đăng ký dân sư, đăng ký doanh nghiệp giúp tạo điều kiện thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng. Hệ thống e-Notary được lưu trữ trên máy chủ của Bộ Tư pháp, đảm bảo an toàn dữ liệu và tuân thủ quy định bảo mật dữ liệu chung liên minh Châu Âu GDPR (General Data Protection Regulation). Quy trình thực hiện đầu tiên là đăng nhập vào tài khoản ID kỹ thuật số; chọn công chứng viên, chọn dịch vụ và bắt đầu đặt lịch hẹn; đến thời gian hẹn người yêu cầu công chứng liên hệ kết nối với công chứng viên qua video để thực hiện công chứng; sau khi xác minh, các bên ký kết hợp đồng điện tử; sau khi hoàn tất tài liệu công chứng được lưu trữ và sau đó có thể truy cập qua cổng thông tin dịch vụ.
4.3. Công chứng điện tử tại Cộng hòa Pháp
Tương tự các quốc gia khác, Pháp công chứng điện tử khởi đầu từ năm 2008, để tiến hành triển khai công chứng điện tử quốc gia này đã tiến hành sửa đổi các văn bản luật có liên quan như: Bộ luật Dân sự năm 2000, ban hành các quy định về công chứng điện tử. Các văn bản được công chứng được công nhận tương đương với văn bản giấy và toàn bộ các văn bản công chứng điện tử được lưu tại Trung tâm MICEN (Minutier Central Électronique des Notaires de France) có giá trị đầy đủ và được bảo lưu tới 75 năm, đặt dưới sự giám sát chặc chẽ của Hội đồng công chứng tối cao Pháp. Pháp cũng được được xem là một trong những quốc gia tiên phong trong việc chuẩn hóa và triển khai công chứng điện tử tại Châu Âu, các lĩnh vực được áp dụng như hợp đồng mua bán bất động sản, di chúc, thỏa thuận tài sản giũa vợ và chồng, thành lập công ty, v.v. các văn bản công chứng được thực hiện toàn bộ được số hóa cho toàn bộ quá trình công chứng không thông qua việc in ấn.
4.4. Hàn Quốc: Tích hợp công chứng vào cổng dịch vụ công
Tại Hàn Quốc, hệ thống công chứng điện tử (e-Notarization) đã được triển khai từ năm 2010 nhằm hiện đại hóa quy trình công chứng và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của công chứng từ xa. Hệ thống công chứng điện tử này cho phép người dùng xác thực thông qua máy tính và điện thoại thông minh. Tuy nhiên, một số quy định pháp luật chưa hoàn chỉnh nên mãi đến năm 2018 công chứng từ xa mới được triển khai cho phép người công chứng gặp mặt công chứng viên qua hội nghị truyền hình và nhận tài liệu công chứng trực tuyến thay vì trực tiếp đến tổ chức hành nghề công chứng. Không phải tất cả công chứng viên đều được phép thực hiện công chứng điện tử mà chỉ có một số người được cấp phép và chịu sự giám sát chặc chẽ của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ.
Công chứng điện tử tại Hàn Quốc được điều chỉnh bởi Luật công chứng viên (Notary Public Act) và Luật Chữ ký điện tử (Digital Signature Act). Các giao dịch được phép thực hiện công chứng điện tử là các giao dịch thông thường không đòi hỏi nghiêm ngặt xác minh sự hiện diện thực tế và cần phải thẩm định cụ thể như: hợp đồng chuyển nhượng tài sản, giấy ủy quyền, di chúc, cam kết nợ và bảo lãnh, biên bản thỏa thuận, các giao dịch về sở hữu trí tuệ và thương mại quốc tế. Theo đó, Bộ Tư pháp Hàn Quốc không cho phép công chứng từ xa với một số giao dịch như: chuyển nhượng, thế chấp bất động sản; khai nhận di sản; giao dịch liên quan đến quyền giám hộ; hợp đồng hôn nhân, ly hôn.
5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Với lần sửa đổi Luật Công chứng 2024 Việt Nam với vai trò là nước triển khai công chứng điện tử sau, với danh nghĩa là tác giả của bài viết tôi cho rằng để có thể tận dụng tối đa kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước chúng ta cần phải có những bước nghiên cứu, chuẩn bị kỹ lưỡng cho các yếu tố sau để bảo đảm triển khai và bắt kịp với xu hướng thế giới như:
5.1. Phát triển hạ tầng kỹ thuật và cơ sở dữ liệu
Luật công chứng 2014 có quy định việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đây được cho là một bước tiến trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý trong lĩnh vực công chứng, nhiều địa phương có kế hoach xây dựng cơ sở dữ liệu và nhiều phần mềm được đưa vào sử dụng. Tuy nhiên so với phần mềm quản lý mà Việt Nam đang sử dụng với các quốc gia trên thế giới thì chưa được hoàn toàn xem là hoạt động công chứng điện tử.
Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng đối với công chứng điện tử. Hiện nay, cơ sở dữ liệu quốc gia về một số lĩnh vực chưa được hoàn thiện chẵn hạn như cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai vẫn chưa được hoàn thiện về pháp luật lẫn thực tế. Trong khi đó, đây là một trong những loại tài sản thường xuyên giao dịch và thường xuyên xảy ra tranh chấp. Những dữ liệu công chưa cho phép khai thác theo đúng dữ liệu theo hướng mở, điều này đã tạo những khó khăn cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận với các dữ liệu đáng tin cậy, điều này là rào cản có sự phát triển của công chứng điện tử. Do đó trong thời gian tới cần xây dựng hệ thống công chứng điện tử quốc gia, kết nối cơ sở dữ liệu dân cư, đất đai, tư pháp…. Bên cạnh đó hợp tác công – tư trong phát triển phần mềm, đảm bảo an ninh mạng, blockchain để đảm bảo công chứng điện tử được hoạt động hiệu quả. Song song, đó cũng nên quy định trách nhiệm của công chứng viên khi được quyền khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ công chứng để góp phần bảo mật về an toàn thông tin quốc gia, đồng thời thể hiện sự tuân thủ pháp luật trong sử dụng dữ liệu quốc gia.
Tại một số nước, cụ thể là Đức các bên liên quan và công chứng viên không được tự do lựa chọn hệ thống thông tin liên lạc (video) để phục vụ cho quá trình công chứng trực tuyến. Các bên này sẽ sử dụng các nền tảng thông tin liên lạc công chứng trực tuyến theo quy định của Phòng công chứng liên bang vận hành. Tuy nhiên, hiện nay với Luật công chứng 2024 cho phép các công chứng viên và người yêu cầu công chứng thực hiện công chứng trực tuyến thông qua phương tiện truyền hình trực tuyến nhưng không đưa ra các hướng dẫn cũng như điều kiện áp dụng dẫn đến khó khăn trong vấn đề áp dụng và tiềm ẩn nhiều rủi ro về tính bảo mật cũng như sự thống nhất trong sử dụng nền tảng trực tuyến trong hệ thống cơ quan công chứng. Bên cạnh đó pháp luật cần phải xây dựng cơ sở để lưu trữ video công chứng giữa công chứng viên và người tham gia để làm chứng cứ theo thời gian quy định. Do đó, Việt Nam có thể tham khảo thêm kinh nghiệm triển khai công chứng điện tử các nước để xây dụng hệ thống công chứng hiệu quả và an toàn hơn trong thời gian tới.
5.2. Đào tạo công chứng viên thích ứng chuyển đổi số
Hiện nay Luật công chứng 2024 bắt đầu có hiệu lực, việc đào tạo và bổ nhiệm công chứng viên công chứng điện tử là vấn đề cần thiết. Tuy nhiên, pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Trong khoảng thời gian ngắn trước khi Luật công chứng có hiệu lực làm là việc chuẩn bị chương trình đào tạo chưa kịp thời và đầy đủ các vấn đề liên quan như: chữ ký số, chứng thư số, tài liệu số, xác minh danh tính điện tử, công chứng từ xa, sử dụng các nền tảng công nghệ…chưa quy định về chuẩn công công nghệ thông tin của chứng viên điện tử. Hiện nay, cơ sở duy nhất đào tạo công chứng viên là Học viện Tư pháp đảm nhận vẫn còn duy trì đào tạo theo hướng chú trọng kỹ năng công chứng theo lối truyền thống nên chưa đảm bảo được chất lượng của công chứng viên tham gia công chứng điện tử, cần phải bổ sung các học phần về kỹ năng tin học; kỹ năng lập và lưu trữ tài liệu điện tử; sử dụng chữ ký số; kỹ năng công chứng và xác minh định danh điện tử từ xa; kỹ năng khai thác và sử dụng các phần ứng dụng trong công chứng điện tử; kiến thức về an toàn thông tin và bảo mật pháp lý trên môi trường số. Do đó, đây cũng là cơ hội đáng giá để tham khảo thêm kinh nghiệm từ các quốc gia đã triển khai công chứng điện tử một cách hiệu quả.
5.3. Thí điểm triển khai công chứng điện tử tại các đô thị lớn
Cũng như các quốc gia trên thế giới, khi triển khai thực hiện công chứng điện tử họ không tiến hành một lượt (như ở Hoa Kỳ) mà thí điểm ở từng bang hoặc từng khu vực để có thể đánh giá tính hiệu quả, tổng kết và sửa đổi từ đó nhân rộng ra nhiều bang khác nhau và từ đó triển khai thực hiện rộng rãi trên toàn quốc. Việt Nam do tính mới mẽ, đang ở giai đoạn bắt đầu nên có thể thực hiện theo cách mà các nước trên thế giới đã làm như thí điểm thực hiện ở một số tỉnh thành lớn như: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng…vv là bước đi cần thiết nhằm từng bước định hình một nền công chứng hiện đại, an toàn và tiện tợi. Việc thí điểm này giúp chúng ta có thể đánh giá và thực hiện một cách hiệu quả, không tạo áp lực về đào tạo công chứng viên, về chuẩn bị cơ sở hạ tầng, kỹ thuật với khối lượng công việc đồ sộ và các vấn đề có liên quan khác đến công chứng điện tử.
Cũng như ở một số nước trên thế giới Việt Nam cần cân nhắc xem xét cho phép những thủ tực nào được thực hiện thông qua hình thức công chứng điện tử, những thủ tục nào cần phải có sự hiện diện trực tiếp để xác minh như các nước đã triển khai để đề phòng các đối tượng giả mạo giấy tờ như: chuyển nhượng bất động sản, vấn đề ly hôn, kết hôn…
6. Kết luận
Qua việc trình bày và phân tích kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về công chứng điện tử. Cho thấy một thực tế rằng đối với Việt Nam đang đứng trước thách thức là ở giai đoạn khởi đầu của quá trình chuyển đổi mô hình công chứng truyền thống mở rộng sang mô hình công chứng điện tử, ngoài việc Luật công chứng 2014 sửa đổi bổ sung 2024 đã triển khai về mặt pháp lý. Tuy nhiên, song song đó cần phải chuẩn bị về mặt hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ, cơ sở dữ liệu và nhân lực là phương tiện để hỗ trợ cho công việc triển khai công chứng điện tử được hiệu quả. Pháp luật công chứng điện tử tại nhiều quốc gia đã chứng minh hiệu quả thực tiễn và khả năng bảo vệ quyền lợi pháp lý trong môi trường số. Việt Nam cần tiếp cận một cách thận trọng nhưng quyết liệt trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho công chứng điện tử để ngày càng tiệm cận hơn nữa với thế giới như mục tiêu đã đề ra. Việc tham khảo các mô hình như Hoa Kỳ (linh hoạt), Estonia (toàn diện), Đức (thận trọng) và Hàn Quốc (tích hợp dịch vụ công) sẽ là cơ sở quan trọng để góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam và cách thức triển khai công chứng điện tử được nhanh chóng và phù hợp với điều kiện phát triển công nghệ và xã hội hiện nay.
Tài liệu tham khảo
[1] Luật Công chứng 2014 và sửa đổi năm 2024.
[2] Luật Công chứng Hàn Quốc 2017.
[3] Phạm Hữu Tâm, Lưu Hữu Sang (2024). Công chứng điện tử trong pháp luật và thực tiễn của một số quốc gia và những góp ý cho Dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi). Tạp chí Pháp luật và Phát triển. https://surl.li/lpfjla (truy cập ngày 08/6/2025).
[4] Republic of Estonia E-Residency. (2021). Estonia’s e-notary services change the game for e-residents. E-Residency Official Blog. https://www.e-resident.gov.ee/blog/posts/estonias-e-notary-services-change-the-game-for-e-residents/, (truy cập ngày 06/6/2025).
[5] Phan Thị Bình Thuận (2021). Công chứng điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam. https://lsvn.vn/cong-chung-dien-tu-tai-viet-nam-trong-boi-canh-cach-mang-cong-nghiep-401614049017-a100770.html (truy cập ngày 08/6/2025).