Tầm quan trọng của từng mắt xích thi cử

24/09/2014 - 10:56

1. Đặt vấn đề

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Kế hoạch hành động để triển khai thực hiện  Nghị quyết 44/NQ-CP năm 2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện NQ 29/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Theo kế hoạch, trong thời gian tới ngành Giáo dục đào tạo sẽ thực hiện rất nhiều những nhiệm vụ cụ thể và quan trọng trong đó có đổi mới hình thức kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo. 

Thực hiện nhiệm vụ này, Kế hoạch chỉ rõ sự cần thiết phải đổi mới phương pháp kiểm tra, thi, đánh giá người học, ngay trong quá trình và qua từng giai đoạn giáo dục, giúp kịp thời điều chỉnh, nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học ở các cấp học và trình độ đào tạo. Đó là một định hướng đúng, một giải pháp xác thực.

Nhìn lại các quan điểm và cách tổ chức thi cử hiện nay ở nước ta, ngay cả đối với các trường đại học, cao đẳng chúng ta dễ thấy có quá nhiều những bất cập, cần nhân dịp này mà nhanh chóng khắc phục, gỡ bỏ.

2. Mục đích của các kỳ thi chưa được xác định rõ ràng

Trong các tiêu chuẩn đánh giá hệ thống thi cử thì tiêu chuẩn đầu tiên phải xét đến là đúng mục đích (fitness of purpose). Tùy theo ý nghĩa cụ thể của các kỳ thi, kiểm tra mà mục đích đánh giá là rất khác nhau, theo đó yêu cầu về các nội dung khác như tính chất đề thi, quan điểm về đánh giá cũng phải tương ứng.

Thử minh họa thông qua một kỳ thi tốt nghiệp, ví dụ tốt nghiệp đại học, cao đẳng. Những người sắp kết thúc khóa học 3 năm, 4 năm ở một trường đại học, cao đẳng đã thực sự có những biến đổi về chất kiến thức và năng lực. 12 năm học ở các bậc phổ thông, những năm học tại trường đại học đã chuẩn bị cho họ một nền văn hóa và một nền kiến thức chuyên ngành cần thiết. Hầu hết kiến thức mà họ được học đã là những tri thức mà họ có. Rõ ràng mục đích chính của kỳ thì tốt nghiệp đối với họ là nhằm đánh giá nền văn hóa đó, mức độ biến đổi về chất các loại kiến thức đó. Vì vậy không thể cho rằng ở đây việc nhớ được ngày, tháng, năm sinh của một nhân vật lịch sử; việc trình bày được các biến đổi hóa lý của một hợp chất hữu cơ nào đó là quan trọng hơn so với việc hiểu biết về các quy tắc an toàn trong lao động, về quyền và nghĩa vụ của công dân trong đời sống xã hội. Cũng như thế, ở đây không thể cho rằng việc sinh viên (SV) tiếp tục giải được những bài toán đơn thuần sách vở của các môn kỹ thuật cơ sở, cơ bản là cần thiết, trong khi khả năng phân tích, khả năng phản biện, khả năng tiếp cận cái mới của họ chưa được xem xét đúng mức.

Trao đổi, thảo luận ở một số hội nghị, hội thảo về chuyện thi cử không khó để nhận ra là rất nhiều người, đôi khi là cả một tập thể, chỉ quan tâm đến đề thi khó hay dễ mà quên mất chức năng đánh giá các mục tiêu của đề thi. Có người cho rằng đề thi tốt nghiệp cần khó hơn đề thi kết thúc môn học, có người cho rằng cần làm ngược lại, có nơi lại lấy ngay một môn học đã được thi cử xong xuôi làm môn thi tốt nghiệp…Tất cả tạo nên những ẩn số không đáng có mà nguyên nhân là do thiếu sự cân nhắc, thiếu sự đầu tư cần thiết cho chuyện thi cử.

Với kỳ thi tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng chúng ta thấy rằng, trình độ văn hóa, kiến thức chuyên môn của SV cần có như một mặt bằng chuẩn về văn hóa và năng lực của con người trong xã hội phát triển. Mặt bằng chuẩn ấy được định dạng bởi nhiều phần, nhiều cung bậc khác nhau, và do vậy chỉ khi nội dung thi tốt nghiệp liên thông được các “tinh chất” từ nhiều môn học, từ nhiều học phần, học liệu mới có đủ khả năng để kiểm định, để đánh giá. Các SV tốt nghiệp phải là những người biết áp dụng kiến thức, biết tạo ra kiển thức, có khả năng thích nghi với các biến động, chứ không phải chỉ là một “bình chứa” chứa các thứ đã được học, đã được nhồi vào. Chỉ khi cân nhắc được như thế mới thấy rằng các kỳ thi tốt nghiệp mà chỉ nhằm đo đạc đánh giá lại những gì SV đã nhớ, đã hiểu, thay vì kiểm tra khả năng suy luận, khả năng nghi ngờ, khả năng kết nối các thông tin của họ là hoàn toàn sai mục đích.

Cũng như vây, đối với các luận văn, khóa luận tốt nghiệp đại học, cao đẳng. Vì luận văn, khóa luận chưa phải là nghiên cứu khoa học mà chỉ là bước kiểm nghiệm cuối cùng về khả năng tiếp cận các đề tài khoa học, nên ở đây không thể coi bản thân nội dung các đề tài là quan trọng so với các yêu cầu về cấu trúc bố cục đề tài, phương pháp thu thập tài liệu, minh chứng, phương pháp trình bày, diễn dải, tiến độ thực hiện đề tài của SV. Tham dự một vài hội đồng bảo vệ luận văn, khóa luận tốt nghiệp, lướt qua vài quyển luận văn, khóa luận của SV chúng ta rất dễ bắt gặp các bất cập cần thay đổi trong nhận thức ở đây.

Với kỳ thi tuyển sinh đầu vào, thi kết thúc học phần, môn học thì mục đích sẽ nằm ở những hướng khác. Đó có thể là đảm bảo công bằng trong tuyển chọn, phát hiện các điểm mạnh, yếu của từng người học, hoặc cũng có thể là để tạo ra sự thi đua phấn đấu…  

Có được mục đích đúng, nghiêm túc thực hiện các tiêu chuẩn quan trọng khác như công bằng (equity), minh bạch (transparency), ít sai phạm (error-proof), linh hoạt (flexibility)... Chắc chắn chúng ta sẽ có được những kỳ thi như mong muốn.

3. Chưa hiểu đúng về “Đề mở”

Qua các hội nghị về dạy và học gần đây chúng ta thấy nhiều trường học, nhiều giáo viên (GV) quan tâm đến việc ra đề thi theo kiểu “Đề mở”. Thực ra đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới, tuy nhiên thông qua các cuộc tiếp xúc chuyên môn thông thường, và ngay cả trong các cuộc thảo luận chính tắc về nghề nghiệp chúng ta đều dễ nhận thấy cách hiểu về  loại đề thi này ở nhiều người còn chưa thật chính xác. 

Về bản chất, “Đề mở” không chỉ đơn giản là loại đề thi được phép mang tài liệu vào phòng thi. “Đề mở” là dạng đề mang tính gợi mở, đề cập đến những vấn đề tương đối rộng, có thể không nằm trong những nội dung đã học. “Đề mở” cho phép đánh giá khả năng tổng hợp kiến thức từ nhiều nguồn, nhiều góc độ, kích thích khả năng trình bày quan điểm cá nhân của người học. Nói chung “Đề mở” cho phép người học tự do hơn trong làm bài thi. Ở “Đề mở” người ta quan tâm nhiều đến khả năng diễn đạt, khả năng “thể hiện cái mới”, khả năng nói cách khác đi một vấn đề, thậm chí là ngược chiều ở người học… “Đề mở” không quan tâm nhiều đến khả năng nhớ của người học nên thông thường (đến độ được coi là mặc nhiên), với hình thức thi này người học được mang tài liệu vào phòng thi.

Với cách phân tích như trên ta thấy “Đề mở” có nhiều nét thuận lợi, nhất là với quan điểm dạy học hiện tại “lấy người học làm trung tâm”, “dạy học là một quá trình định hướng”. Và như vậy việc quan tâm của nhiều GV đối với đề thi theo kiểu mở là một tâm lý khách quan. Tuy nhiên thách thức đối với người ra đề thi theo định hướng này không phải nhỏ.

Trước hết đối với GV ra đề. “Đề mở” nhưng “mở” theo hướng nào, “mở” đến mức nào; liệu có gây được cảm hứng, tạo kích thích được người học nói ra những suy nghĩ có trách nhiệm, những suy nghĩ đẹp đối với các vấn đề được “mở” hay không? Tất cả những điều đó phụ thuộc vào cách nêu vấn đề trong câu hỏi thi. Còn nhớ, trong kỳ thi HS giỏi HS trung học các lớp không chuyên Hà Nội năm 2005 có đề thi: “Em hãy giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Vì HS trung học chưa được học môn Mỹ học nên các em không thể biết Cái bi là một phạm trù của Cái đẹp trong Mỹ học. Nói đến bài văn tế này của Nguyễn Đình Chiểu là phải nói đến Cái bi, Cái hùng của tác phẩm. Quan niệm Cái bi trong Mỹ học chưa được dạy nên nó không thể được hiểu là đẹp văn chương. Và như vậy đề thi này đã “mở” không đúng cửa.

Đối với GV chấm thi. Với loại “Đề mở” GV chấm thi phải đứng trước một thách thức lớn, đó là khả năng phán xét cái mới; khả năng tiếp nhận hay từ chối đối với các vấn đề mới. Muốn vượt qua thách thức này GV ngoài việc phải là những người có bản lĩnh nghề nghiệp, bản lĩnh văn hóa còn là người không chỉ giỏi trong lính vực chuyên môn của mình mà còn có thể phải giỏi trong một số lĩnh vực chuyên môn gần khác.

4. Không phải ai cũng ra được đề thi trắc nghiệm khách quan

Những năm gần đây, các bài thi sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ) đang được sử dụng ngày một nhiều hơn. Những vấn đề cơ bản nhất về TNKQ chúng ta đã có nhiều dịp bàn đến. Nội dung quan trọng nhất quyết định thành công của phương pháp thi này chính là vấn đề ra đề thi.

Nếu như trong bài thi tự luận, có vẻ bất kì một GV nào cũng có thể ra đề thi cho môn học của mình thì trong thi TNKQ vấn đề không còn đơn giản như vậy. Để làm được một bộ đề TNKQ tốt, GV ngoài việc phải tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ còn rất cần phải có những hiểu biết nhất định về khoa học đo lường và đánh giá này. Đã có nhiều người khi nghe qua về phương pháp thi này đã lập tức viết ra hàng mấy chục, thậm chí hàng trăm câu hỏi sẵn sàng cho vào cuộc, nhưng rồi càng phân tích, nghiền ngẫm càng thấy non nớt và yếu kém. GV càng cố gắng thì càng nhận thấy ở bộ đề thi của mình nhiều thiếu sót, có lúc tưởng chừng khó có thể bù đắp được. Tất cả những cảm giác khó chịu đó là khó tránh khỏi. Và việc chúng ta công nhận rằng không phải ai cũng ra được đề thi TNKQ cũng là điều cần thiết.

Dù là người đã có kinh nghiệm hay chưa có kinh nghiệm, đã thành công hay chưa thì để làm được một bộ câu hỏi TNKQ đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu đều cần phải trải qua các bước thực hiện cơ bản mà các nhà khoa học đo lường về phương pháp này đã chỉ ra. Trước hết đó là việc rà xét lại các mục tiêu giảng dạy. Mục tiêu giảng dạy sẽ quyết định ý đồ thiết kế bài thi, mức độ khó dễ và các vấn đề kĩ thuật cần giải quyết. Tiếp theo đó là việc Phân bố số câu hỏi cho từng nội dung cần trắc nghiệm; Viết các câu hỏi dưới dạng thô và tinh chỉnh nhiều lần; Đề nghị các chuyên gia khác về môn học (và có thể là chuyên gia về khoa học TNKQ) rà soát lại bộ đề. Bước cuối cùng và không thể không làm là thảo luận với SV sau khi đã thi xong và tự rút cho mình kinh nghiệm. Trong nhiều trường hợp, ý kiến của người học là xác đáng nhất và cần được quan tâm nhất; những dư âm sau mỗi lần thi, sau mỗi kết quả thi là bài học sâu sắc không thể thiếu của người làm đề thi, nhất là loại đề thi TNKQ.

Để thấy rõ hơn về cái hay, cái khó, cái dễ làm thành trò cười trong khi thực hiện các câu TNKQ, tác giả bài viết xin giới thiệu 2 câu TNKQ đã được sử dụng, một câu của một chuyên gia về TNKQ và một câu của một hội đồng thi tốt nghiệp đại học:

Nếu một SV chỉ trích một câu TNKQ thì GV nên:

    A. Thay câu hỏi đó.

    B. Nghe một cách thật khách quan.

    C. Ca ngợi sinh viên vì đã tìm ra sai sót.

    D. Giải thích cho sinh viên là họ bị nhầm lẫn.

Nguyễn Ái Quốc gửi bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Vecxây vào thời gian nào?

  1. A.18/6/1917;        B. 18/6/1919;        C. 18/6/1920;       D.18/6/1921.

5. Kết luận

Một hệ quả tất yếu của giáo dục là thi sao học vậy. Hệ thống thi lệch lạc thì việc học việc dạy cũng không thể đứng đắn. Chương trình thi nhồi nhét quá nhiều các kiển thức nên HS cũng phải học một cách nhồi nhét tương ứng. Thi không nghiêm túc thì học cũng không nghiêm túc, thi các nội dung không dùng để làm gì thì cả học và thi sẽ đều quấy quá cho xong; tùy tiện thay đổi đáp án bài thi, GV cũng sẽ tùy tiện khi làm đề thi. Nhắc lại như thế để thấy tầm quan trọng của từng mắt xích thi cử đối với guồng máy hoạt động giáo dục, đào tạo và tầm quan trọng của việc đổi mới nó.

 --------------------------

Tài liệu tham khảo

      1. Nguyễn Tiến Dũng - Thế nào là một hệ thống thi cử tốt- Bài viết đăng trên blog của tác giả.

      2. Trắc nghiệm khách quan- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

ThS. TÔN QUANG MINH

                                                                Trường ĐH Bà Rịa - Vũng Tàu

 


Chi bộ Trung tâm GDNN - GDTX Phù Ninh: Đưa việc học tập và làm theo Bác thành động lực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục

Chi bộ Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN - GDTX) Phù Ninh đã lãnh đạo cán bộ, đảng viên, giáo viên và người lao động đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, Trung tâm đã đạt được nhiều kết quả nổi bật trong công tác quản lý, giảng dạy và giáo dục học viên, qua đó khẳng định chất lượng, uy tín của đơn vị trong hệ thống giáo dục thường xuyên của tỉnh Phú Thọ.

Trường Tiểu học Bản Nguyên đạt giải Khuyến khích Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tỉnh Phú Thọ năm 2026

Cán bộ, giáo viên Trường Tiểu học Bản Nguyên (Phú Thọ) tiếp tục ghi dấu ấn tại các cuộc thi do các cấp, ngành phát động với những thành tích đáng ghi nhận, góp phần lan tỏa tinh thần học tập, trách nhiệm và sáng tạo trong nhà trường.

Trường THPT Thanh Thủy: 60 năm vun đắp truyền thống, khơi nguồn khát vọng

Hướng tới kỷ niệm 60 năm thành lập (7/11/1966 - 7/11/2026), Trường THPT Thanh Thủy triển khai nhiều hoạt động thiết thực, gắn giáo dục truyền thống với nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới phương pháp giáo dục và xây dựng môi trường học đường. Từ những giờ thao giảng, hội thảo chuyên môn đến các sân chơi sáng tạo, hoạt động văn hóa, thể thao và chỉnh trang cảnh quan trường lớp, mỗi hoạt động đều thể hiện niềm tự hào, lòng tri ân và quyết tâm tiếp nối truyền thống của các thế hệ thầy trò nhà trường.

Từ Lào Cai đến Nhật Bản: Kết nối tình bạn qua những lớp học tiếng Anh

Từ những lời chào bằng tiếng Anh đến các hoạt động giao lưu trực tuyến, học sinh Trường Tiểu học Lê Ngọc Hân (Lào Cai) và Trường Tiểu học Tenma Minami (Nhật Bản) đã có cơ hội kết nối, khám phá văn hóa và nuôi dưỡng tình bạn quốc tế.

Trường THPT Thanh Ba: Lan tỏa yêu thương, bồi đắp nhân cách, kiến tạo môi trường học đường hạnh phúc

Hướng tới kỷ niệm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10, Chi đoàn Giáo viên phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường THPT Thanh Ba tổ chức thành công chương trình ngoại khóa với hai nội dung trọng tâm: “Chào mừng Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10” và “Sức khỏe học đường & Tình bạn đẹp”. Chương trình không chỉ tôn vinh những giá trị tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam mà còn lan tỏa thông điệp về sức khỏe, tình yêu thương và trách nhiệm xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện, hạnh phúc.

Trường Mầm non Cẩm Khê tiên phong mời phụ huynh tham quan, giám sát và ăn bán trú cùng trẻ

Với mong muốn nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ và tăng cường sự phối hợp giữa gia đình với nhà trường, ngày 23/10/2026, Trường Mầm non Cẩm Khê, xã Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tổ chức hoạt động mời đại diện cha mẹ học sinh các nhóm, lớp đến tham quan, giám sát và trực tiếp ăn bữa ăn bán trú cùng trẻ tại trường.

Trường THPT Vĩnh Chân: 50 năm tiếp bước tự hào, vươn tầm khát vọng

Hướng tới kỷ niệm 50 năm thành lập (1976–2026), Trường THPT Vĩnh Chân tổ chức chương trình sinh hoạt truyền thống với chủ đề “50 năm: Tiếp bước tự hào – Vươn tầm khát vọng”, nhằm ôn lại chặng đường xây dựng, phát triển của nhà trường, đồng thời khơi dậy niềm tự hào, ý chí vươn lên và khát vọng cống hiến trong các thế hệ học sinh.

Giám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa lan tỏa tinh thần hiếu học bằng những hành động thiết thực

Không chỉ chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn, thời gian qua, ngành Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa còn đặc biệt quan tâm đến công tác biểu dương, khen thưởng học sinh đạt thành tích xuất sắc, đồng thời kịp thời động viên, hỗ trợ những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tạo động lực để các em vươn lên trong học tập.

TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Phó Tổng Biên tập phụ trách trang điện tử: Vũ Đình Thơm

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội

Điện thoại: 024.629 46516

Hotline: 0966.330.386 - 0379.615.768

Email: Banbientap@giaoducvaxahoi.vn

Liên hệ quảng cáo: 024.629 46516