Bà Nguyễn Thị Bình nêu quan điểm về đổi mới giáo dục hiện nay

12/01/2015 - 10:46
Giáo dục nước ta đang đứng truớc những thách thức và cơ hội chưa từng có do yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững...Nguyên Phó chủ tịch nước nói.

Trước yêu cầu đòi hỏi cần đổi mới cấp thiết của giáo dục và đào tạo, bài viết của bà Nguyễn Thị Bình, Nguyên Phó Chủ tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như là một nội dung góp ý, định hướng phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt trong vấn đề khoa học công nghệ. 

Báo điện tử Giáo dục Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này. 

Mở đầu bài viết, bà Bình nhận định, trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, khoa học – công nghệ ngày càng tiến triển mạnh mẽ, nhiều vấn đề về môi trường, dân số, khí hậu… nảy sinh theo chiều hướng ngày càng gay gắt. Để đáp ứng yêu cầu mới, rõ ràng giáo dục không thể cứ như hiện nay mà cần phải có sự thay đổi căn bản và toàn diện. 

Muốn giáo dục thay đổi căn bản và toàn diện thì các quyết sách về giáo dục không chỉ nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc trước mắt mà còn phải tạo cơ sở để phát triển toàn bộ hệ thống giáo dục với tầm nhìn vài thập kỷ. Như vậy, mỗi quyết sách phải được cân nhắc kỹ càng trên cơ sở những luận cứ khoa học. 

Việc ngành giáo dục tổ chức một hội thảo tập hợp các nhà khoa học nghiên cứu về giáo dục trong cả nước là một sáng kiến, một sự tái khởi động cần thiết về chuẩn bị cho những thay đổi căn bản và toàn diện về giáo dục. Đây là một cơ hội tốt để suy ngẫm và thảo luận về khoa học giáo dục cũng như về sự cần thiết phải đổi mới cách nghĩ, cách làm đối với giáo dục.
Đổi mới về khoa học giáo dục
Nói đến khoa học giáo dục, là đụng chạm đến một lĩnh vực nghiên cứu phức tạp vào loại nhất. Phức tạp, vì đối tượng của nó là con người từ tuổi ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành, và ngày nay, khi loài người mong muốn xây dựng một xã hội học tập, với ý tưởng “giáo dục cho mọi người” và “học suốt đời”, thì đối tượng nghiên cứu của khoa học giáo dục lại mở rộng đến con người ở mọi lứa tuổi. Phức tạp, còn vì phạm vi nghiên cứu của khoa học giáo dục ngày càng rộng lớn mà vấn đề được đặt ra để nó giải quyết lại vốn đã tồn tại từ rất lâu. 

Song ở mỗi thời đại, mỗi quốc gia, dân tộc lại cần có lời giải đáp riêng của mình. Đó là, “Con người, trước hết là trẻ em, cần phải học những gì và tại sao lại phải học những điều đó?” Gần đây hơn, do sự phát triển của xã hội, lại thêm: “Làm thế nào để mọi trẻ em đều được học và đều học được?”. Dù nhiều đề tài, đề án nhưng suy đến cùng phải chăng mọi nghiên cứu về khoa học giáo dục đều hội tụ ở chỗ tìm đáp án cho hai câu hỏi đó sao cho phù hợp với thực tiễn đất nước và đặc điểm thời đại?

Ngày nay ở nước ta, vai trò của khoa học giáo dục đã được thể chế hoá. Luật giáo dục 1998 cũng như Luật giáo dục 2005, đều có quy định: Nhà nước ưu tiên phát triển khoa học giáo dục và yêu cầu mọi chủ trương, chính sách về giáo dục phải được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục. Tuy nhiên, khoa học giáo dục nước ta chưa thực hiện được vai trò dẫn dắt của mình. Bộ Chính trị (khoá X) trong thông báo 242 ngày 15/4/2009 đã nhận định: “Chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn bất cập, chưa đề ra được những giải pháp kịp thời, có hiệu quả để khắc phục hạn chế, yếu kém…

Một số chính sách về giáo dục còn chủ quan duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội”. trong khi nhiều vấn đề tồn đọng đã lâu chưa có giải pháp thì giáo dục nước ta lại đối mặt với nhiều vấn đề mới nảy sinh mà chưa có giải pháp nghiên cứu đáng kể nào. Chẳng hạn, các vấn đề: thị trường giáo dục, chiến lược hội nhập quốc tế, triển khai hệ thống giáo dục mở… Như vậy, có thể nói, khoa học giáo dục nước ta đã tụt hậu so với thực tiễn giáo dục; nó không những không phát huy được vai trò làm cơ sở cho việc xây dựng chủ truơng, chính sách giáo dục, mà trong nhiều trường hợp trở thành thứ khoa học minh hoạ chính sách.
Vì sao lại có tình trạng như vậy?
Trước hết, về động lực nghiên cứu. Sứ mệnh của nhà khoa học, tất nhiên bao gồm cả khoa học giáo dục, là tìm chân lý. Sứ mệnh này được thực hiện khi bản thân nhà khoa học có nhu cầu tìm chân lý, coi đó là động lực của mình. Nhưng nhu cầu này chỉ trở thành động lực khi các nhu cầu bậc thấp hơn được thoả mãn, trong đó có nhu cầu đời sống (ăn, mặc, ở) và nhu cầu an toàn cá nhân. Giải thích về tình trạng một số người trong giới khoa học chạy sô với các dự án, các công việc làm thêm, không thực sự dốc toàn tâm toàn ý vào việc nghiên cứu, có ý kiến: “Khoa học khó có thể cho đi trước bát cơm!” Để có lời giải thoả đáng làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách liên quan đến động lực nghiên cứu của các nhà khoa học giáo dục thì có lẽ cần khảo sát, điều tra một cách căn cơ, bài bản.

Thứ hai, về môi trường nghiên cứu. Nhiều ý kiến cho rằng môi trường nghiên cứu của chúng ta có vấn đề. Các nhân tố ngoài khoa học còn lấn át các nhân tố khoa học. Các nhân tố ngoài khoa học thì có nhiều thứ. Điều các nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục muốn nói đến trước hết là sự cởi mở về học thuât, hay nói sát hơn, là nhu cầu phát huy quyền tự do trong học thuật.

Thứ ba, về bộ máy nghiên cứu. Điều đáng mừng là gần đây, theo đề nghị của Bộ, Chính phủ đã cho lấy lại cái tên Viện Khoa học giáo dục thay cho tên Viện Chương trình và Chiến lược giáo dục, vốn chỉ thể hiện sự hợp nhất của hai viện trước đó mà khi sắp xếp về tổ chức đã đưa một số bộ phận về trường làm hạn chế phạm vi nghiên cứu của viện. Chủ trương của Chính phủ và của Bộ cho lấy lại tên Viện Khoa học giáo dục là sự khẳng định mạnh mẽ vai trò đầu não của Viện. 

Để xứng đáng là đầu não, Viện cần tăng cường những bộ phận nghiên cứu về các môn khoa học có tính chất nền tảng như tâm lý học, đặc biệt là tâm lý lứa tuổi, về khoa học phát triển giáo dục, về triết lý giáo dục, về nguyên lý giáo dục, về giáo dục suốt đời, về kinh tế học giáo dục; đồng thời củng cố những bộ phận nghiên cứu các khoa học có tính chất công cụ, ứng dụng như xây dựng chương trình, phương pháp bộ môn, đo lường giáo dục, điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, v.v... Là đầu não nhưng không thể biệt lập và đơn độc. Viện khoa học giáo dục phải phối hợp chặt chẽ với Học viện Quản lý giáo dục và các trường Đại học sư phạm, đại học giáo dục, để có những công trình nghiên cứu mở đường cho sự phát triển của giáo dục nước ta.

Cái khó hiện nay của Viện có lẽ là lực lượng nghiên cứu mỏng, phân tán, trong khi các vấn đề của giáo dục lại nhiều và phức tạp. 
Sự cần thiết phải đổi mới tư duy giáo dục

Một vấn đề rất quan trọng đối với khoa học giáo dục, có tác dụng chi phối dẫn dắt, tạo nền cho công trình nghiên cứu, và tất nhiên cũng chi phối, dẫn dắt, tạo nền cho cả hoạt động thực tiễn về giáo dục, đó là triết lý giáo dục. Vì tầm quan trọng như vậy nên trước những lúng túng, bất cập trong lĩnh vực giáo dục, thời gian vừa rồi mới có ý kiến cho rằng chúng ta thiếu triết lý giáo dục. 

Nếu quan niệm triết lý giáo dục là hệ thống lý luận phản ảnh sự nhận thức chung nhất đóng vai trò chỉ đạo hoạt động giáo dục... thì có lẽ không phải chúng ta không có triết lý giáo dục. Nhưng trước những đòi hỏi mới đối với sự nghiệp giáo dục, cần và có thể bổ sung, điều chỉnh triết lý giáo dục của chúng ta cho phù hợp, mà quan niệm về mục tiêu đào tạo là một nội dung tập trung và cụ thể.

 

Chúng ta đều biết, ngay sau khi thành lập nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, xuất phát từ nhận thức “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Bác Hồ đã xác định, để giữ vững độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân thì nhiệm vụ khẩn cấp của giáo dục là xây dựng hệ thống giáo dục bình dân nhằm “diệt giặc dốt”. Bác cũng từng đặt kỳ vọng vào việc giáo dục thế hệ trẻ để đưa nước ta đến chỗ sách vai cùng cường quốc năm châu. Chính phủ ngay sau đó cũng đã xác định mục tiêu của nền giáo dục mới là: “Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng” và khẳng định tính chất cơ bản của nền giáo dục là: “dân tộc, khoa học, đại chúng với tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ”. 

Cuộc cải cách giáo dục năm 1950, chủ yếu về giáo dục phổ thông, một lần nữa tái khẳng định tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng với mục tiêu đào tạo những người “công dân lao động tương lai”.

Khi đất nước được thống nhất, nhiệm vụ của nền giáo dục quốc dân đã được xác định lại là: “chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi thơ ấu cho đến lúc trưởng thành, nhằm tạo ra cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện”. Để thực hiện điều đó, nguyên lý giáo dục là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Đặc biệt, ngay từ thời kỳ đó, tư tưởng học tập thường xuyên và vai trò của giáo dục không chính quy đã được nhấn mạnh.

Sau Đại hội VI, trong quá trình đổi mới, cùng với việc tiếp tục theo duổi mục tiêu giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ và lược bỏ những tiêu chí mang tính ý chí luận (như đào tạo con người Việt Nam mới và làm chủ tập thể), đã có thêm những quan điểm mới về sứ mạng của giáo dục (nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài), về vai trò của giáo dục (cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển) cũng như xác định sự chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nước và nhân dân (chủ trương xã hội hóa giáo dục và xác lập tư cách pháp nhân của nhà trường ngoài công lập). 

Tuy nhiên, những quan điểm mới có nhiều phần lâm vào tình trạnh chưa thực sự được quán triệt, còn dừng ở các văn kiện (như vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục) hoặc bị lệch lạc trong quá trình triển khai ( xã hội hóa giáo dục được nhấn mạnh về huy động nguồn lực và thậm chí giảm nhẹ vai trò của nhà nước). 

Ngày nay, chúng ta lại bước vào một giai đoạn mới của phát triển đất nước. Giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa để trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 trong bối cảnh thế giới đi vào kinh tế tri thức. Giáo dục của ta đứng trước những yêu cầu mới cao hơn. Đó là thách thức rất lớn. Để xác định triết lý giáo dục, trước hết là mục tiêu giáo dục, cho hiện nay và cho tương lai 10 – 20 năm tới, cần có tổng kết sâu sắc về sự phát triển giáo dục trong ít nhất 10 năm qua; đồng thời xem  xét hướng phát triển của giáo dục thế giới. UNESCO gần đây đã nêu ra bốn cột đỡ của giáo dục: học để biết, để làm, để làm người, để chung sống, có thể xem đấy là sự gợi ý rất quan trọng giúp chúng ta đổi mới tư duy giáo dục, hoàn thiện triết lý giáo dục, cũng như cụ thể hóa mục tiêu giáo dục của chúng ta.
                                                                   
Để đất nước ta tồn tại và phát triển trong bối cảnh thế giới ngày nay, phải nâng cao trí tuệ và năng lực của con người Việt Nam. Vì vậy, giáo dục không thể cứ như hiện nay mà cần phải có sự thay đổi căn bản và toàn diện, một sự bứt phá thực sự. Đấy chính là lý do khiến cho nhiều nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục đề xuất phải cải cách giáo dục, với quan niệm, cải cách giáo dục là sự thay đổi căn bản, sâu sắc và toàn diện về mô hình phát triển và mục tiêu của cả hệ thống giáo dục, trái hẳn với cách đổi mới giáo dục mà chúng ta từng thực hiện trong suốt những năm vừa qua, vốn chỉ nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc bằng giải pháp tình thế, vừa không đồng bộ vừa thiếu hệ thống. 

Tất nhiên trong cuộc thay đổi căn bản, sâu sắc, toàn diện như vậy, các nhà khoa học giáo dục phải là người đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách về giáo dục.

Theo: GDVN


Giáo dục Phú Mỹ: Đổi mới tư duy, phát triển sau sáp nhập

Sau sáp nhập, các trường học trên địa bàn xã Phú Mỹ từng bước ổn định tổ chức, phát huy tinh thần đoàn kết, đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục. Nhờ sự quan tâm đầu tư cơ sở vật chất của cấp ủy, chính quyền địa phương, những chuyển biến tích cực trong hoạt động của các nhà trường đang tạo nền tảng để giáo dục Phú Mỹ tiếp tục phát triển, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong tình hình mới.

Trung tâm GDNN-GDTX Phù Ninh: Khẳng định chất lượng giáo dục từ những kết quả thực chất

Nhờ chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đội ngũ và tổ chức ôn tập phù hợp với năng lực học viên, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX) Phù Ninh đã đạt được những kết quả nổi bật. Với quy mô đào tạo ngày càng mở rộng, Trung tâm tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học, chú trọng chất lượng đầu ra, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

Chi bộ Trung tâm GDNN - GDTX Phù Ninh: Đưa việc học tập và làm theo Bác thành động lực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục

Chi bộ Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN - GDTX) Phù Ninh đã lãnh đạo cán bộ, đảng viên, giáo viên và người lao động đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, Trung tâm đã đạt được nhiều kết quả nổi bật trong công tác quản lý, giảng dạy và giáo dục học viên, qua đó khẳng định chất lượng, uy tín của đơn vị trong hệ thống giáo dục thường xuyên của tỉnh Phú Thọ.

Trường Tiểu học Bản Nguyên đạt giải Khuyến khích Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tỉnh Phú Thọ năm 2026

Cán bộ, giáo viên Trường Tiểu học Bản Nguyên (Phú Thọ) tiếp tục ghi dấu ấn tại các cuộc thi do các cấp, ngành phát động với những thành tích đáng ghi nhận, góp phần lan tỏa tinh thần học tập, trách nhiệm và sáng tạo trong nhà trường.

Trường THPT Thanh Thủy: 60 năm vun đắp truyền thống, khơi nguồn khát vọng

Hướng tới kỷ niệm 60 năm thành lập (7/11/1966 - 7/11/2026), Trường THPT Thanh Thủy triển khai nhiều hoạt động thiết thực, gắn giáo dục truyền thống với nâng cao chất lượng dạy học, đổi mới phương pháp giáo dục và xây dựng môi trường học đường. Từ những giờ thao giảng, hội thảo chuyên môn đến các sân chơi sáng tạo, hoạt động văn hóa, thể thao và chỉnh trang cảnh quan trường lớp, mỗi hoạt động đều thể hiện niềm tự hào, lòng tri ân và quyết tâm tiếp nối truyền thống của các thế hệ thầy trò nhà trường.

Từ Lào Cai đến Nhật Bản: Kết nối tình bạn qua những lớp học tiếng Anh

Từ những lời chào bằng tiếng Anh đến các hoạt động giao lưu trực tuyến, học sinh Trường Tiểu học Lê Ngọc Hân (Lào Cai) và Trường Tiểu học Tenma Minami (Nhật Bản) đã có cơ hội kết nối, khám phá văn hóa và nuôi dưỡng tình bạn quốc tế.

Trường THPT Thanh Ba: Lan tỏa yêu thương, bồi đắp nhân cách, kiến tạo môi trường học đường hạnh phúc

Hướng tới kỷ niệm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10, Chi đoàn Giáo viên phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường THPT Thanh Ba tổ chức thành công chương trình ngoại khóa với hai nội dung trọng tâm: “Chào mừng Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10” và “Sức khỏe học đường & Tình bạn đẹp”. Chương trình không chỉ tôn vinh những giá trị tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam mà còn lan tỏa thông điệp về sức khỏe, tình yêu thương và trách nhiệm xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện, hạnh phúc.

Trường Mầm non Cẩm Khê tiên phong mời phụ huynh tham quan, giám sát và ăn bán trú cùng trẻ

Với mong muốn nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ và tăng cường sự phối hợp giữa gia đình với nhà trường, ngày 23/10/2026, Trường Mầm non Cẩm Khê, xã Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tổ chức hoạt động mời đại diện cha mẹ học sinh các nhóm, lớp đến tham quan, giám sát và trực tiếp ăn bữa ăn bán trú cùng trẻ tại trường.

TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Phó Tổng Biên tập phụ trách trang điện tử: Vũ Đình Thơm

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội

Điện thoại: 024.629 46516

Hotline: 0966.330.386 - 0379.615.768

Email: Banbientap@giaoducvaxahoi.vn

Liên hệ quảng cáo: 024.629 46516