VŨ NGỌC MINH ANH
NGUYỄN KIỀU NGA
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Abstract
As Vietnam intensifies the implementation of the National Strategy on Gender Equality and the National Target Program for Socioeconomic Development in Ethnic Minority and Mountainous Areas, the press plays an important role in shaping public perceptions of ethnic minority women. Drawing on representation theory and framing theory, this study conducts a qualitative content analysis of 192 articles concerning ethnic minority women published in Vietnam Women’s Newspaper in 2025. The findings indicate that ethnic minority women are predominantly represented in a positive manner, shifting from beneficiaries in need of assistance to active agents of development. This representation is constructed through four dominant media frames: economic empowerment; gender equality and awareness raising; leadership and community participation; and the preservation of cultural identity. The study also identifies limitations in current media discourse and proposes recommendations for improving the effectiveness of media communication concerning ethnic minority women in the context of digital journalism.
Keywords: Ethnic minority women, framing, gender stereotypes, representation, Vietnam Women’s Newspaper.
1. Đặt vấn đề
Bình đẳng giới là một trong những mục tiêu phát triển bền vững được Việt Nam quan tâm thực hiện trong nhiều năm qua. Đặc biệt là đối với phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS), bên cạnh những khó khăn về điều kiện kinh tế, địa lý và cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, họ còn phải đối mặt với nhiều rào cản xuất phát từ định kiến giới và khuôn mẫu văn hóa truyền thống. Những định kiến này không chỉ ảnh hưởng đến cơ hội học tập, việc làm, tham gia quản lý xã hội mà còn tác động đến cách phụ nữ dân tộc thiểu số được nhìn nhận và đại diện trên các phương tiện truyền thông đại chúng (Dang Thi Hoa et al., 2023).
Theo Stuart Hall (1997), truyền thông không đơn thuần phản ánh hiện thực khách quan mà thông qua quá trình lựa chọn, diễn giải và kiến tạo ý nghĩa. Hình ảnh của các nhóm xã hội trên báo chí vì vậy không phải là sự sao chép hiện thực, mà là kết quả của quá trình “tái trình hiện” (representation). Thông qua ngôn ngữ, hình ảnh, cách lựa chọn nhân vật và bối cảnh, báo chí góp phần hình thành những cách hiểu nhất định của công chúng về một nhóm xã hội (Hall, 1997). Từ đó, trong xã hội hiện đại, báo chí không đơn thuần phản ánh hiện thực mà còn tham gia kiến tạo diễn ngôn xã hội, góp phần định hình nhận thức của công chúng về các nhóm xã hội khác nhau. cách báo chí xây dựng hình ảnh phụ nữ DTTS có thể góp phần củng cố hoặc phá vỡ các khuôn mẫu giới đã tồn tại trong xã hội.
Những năm gần đây, cùng với việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030, đặc biệt là Dự án về thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em (gọi tắt là “Dự án 8”), truyền thông về phụ nữ DTTS có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều cơ quan báo chí đã tăng cường phản ánh các mô hình phát triển kinh tế, khởi nghiệp, bảo tồn văn hóa, nâng cao vị thế phụ nữ trong cộng đồng, qua đó góp phần thay đổi nhận thức của xã hội.
Trong số đó, Báo Phụ nữ Việt Nam với chức năng là cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có vai trò đặc biệt trong truyền thông về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Điều đó cho thấy các tuyến bài về phụ nữ DTTS không chỉ truyền tải chủ trương, chính sách mà còn phản ánh những câu chuyện đời thường, các mô hình phát triển và những nỗ lực vượt qua định kiến để khẳng định vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, thực tế cho thấy, cách báo chí khai thác về phụ nữ DTTS vẫn còn những vấn đề đặt ra. Nhiều nghiên cứu cho thấy hình ảnh phụ nữ DTTS trên báo chí vẫn chủ yếu gắn với các câu chuyện truyền cảm hứng hoặc các điển hình vượt khó, trong khi những nguyên nhân mang tính cấu trúc của bất bình đẳng giới như phân công lao động theo giới, quyền tiếp cận nguồn lực, tiếng nói trong gia đình và cộng đồng hay những rào cản về thể chế vẫn chưa được phản ánh đầy đủ. Điều này đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu sâu hơn cách thức báo chí tái trình hiện hình ảnh phụ nữ DTTS dưới góc nhìn xóa bỏ định kiến giới.
Trên thế giới, Lý thuyết Tái trình hiện và Lý thuyết Đóng khung đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu truyền thông về giới, dân tộc và các nhóm yếu thế. Các nghiên cứu cho thấy cách thức báo chí lựa chọn khung truyền thông và diễn ngôn có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành nhận thức xã hội đối với phụ nữ và các nhóm thiểu số (Hall, 1997; Entman, 1993).
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyền thông giới, bình đẳng giới và phụ nữ DTTS, song các nghiên cứu kết hợp giữa Lý thuyết Tái trình hiện và Lý thuyết Đóng khung để phân tích cách thức xây dựng hình ảnh phụ nữ DTTS trên một cơ quan báo chí chuyên biệt vẫn còn khá hạn chế. Đây cũng chính là khoảng trống mà nghiên cứu này hướng tới.
Trên cơ sở khảo sát các tác phẩm đăng tải trên Báo Phụ nữ Việt Nam trong năm 2025, nghiên cứu tập trung làm rõ ba vấn đề: (1) Các khung truyền thông chủ đạo được sử dụng khi phản ánh về phụ nữ DTTS; (2) Đặc điểm tái trình hiện hình ảnh phụ nữ DTTS từ góc nhìn xóa bỏ định kiến giới; (3) Những kết quả, hạn chế và một số gợi ý nhằm nâng cao chất lượng truyền thông về phụ nữ DTTS trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí hiện nay.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở kết hợp Lý thuyết Tái trình hiện (Representation Theory) của Stuart Hall và Lý thuyết Đóng khung (Framing Theory) của Robert Entman. Việc kết hợp hai lý thuyết này cho phép nghiên cứu không chỉ xem xét báo chí phản ánh gì về phụ nữ DTTS mà còn lý giải cách thức báo chí kiến tạo hình ảnh, lựa chọn diễn ngôn và định hướng cách công chúng tiếp nhận vấn đề.
Theo Stuart Hall (1997), truyền thông không đơn thuần phản ánh hiện thực khách quan mà thông qua quá trình lựa chọn, diễn giải và kiến tạo ý nghĩa. Hình ảnh của các nhóm xã hội trên báo chí vì vậy không phải là sự sao chép hiện thực, mà là kết quả của quá trình “tái trình hiện” (representation). Thông qua ngôn ngữ, hình ảnh, cách lựa chọn nhân vật và bối cảnh, báo chí góp phần hình thành những cách hiểu nhất định của công chúng về một nhóm xã hội.
Đối với phụ nữ DTTS, quá trình tái trình hiện có ý nghĩa đặc biệt bởi đây là nhóm thường chịu tác động đồng thời của định kiến giới và định kiến dân tộc. Trong nhiều giai đoạn, truyền thông có xu hướng khắc họa phụ nữ DTTS như những đối tượng yếu thế, nghèo đói hoặc cần được hỗ trợ. Tuy nhiên, trong bối cảnh truyền thông vì bình đẳng giới và phát triển bền vững, cách tiếp cận này đang dần chuyển dịch theo hướng coi phụ nữ DTTS là chủ thể của quá trình phát triển, có năng lực tạo ra thay đổi cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Bổ sung cho cách tiếp cận của Stuart Hall, Lý thuyết Đóng khung của Robert Entman cho rằng truyền thông định hướng nhận thức của công chúng thông qua việc lựa chọn một số khía cạnh của hiện thực để nhấn mạnh, đồng thời giảm nhẹ hoặc loại bỏ những khía cạnh khác. Mỗi khung truyền thông không chỉ xác định vấn đề mà còn gợi ý nguyên nhân, đánh giá và định hướng giải pháp.
Vận dụng hai lý thuyết trên, nghiên cứu tập trung phân tích cách Báo Phụ nữ Việt Nam lựa chọn và xây dựng các khung truyền thông về phụ nữ DTTS, từ đó làm rõ đặc điểm tái trình hiện hình ảnh nhóm đối tượng này trong bối cảnh thúc đẩy bình đẳng giới. Bốn khung truyền thông được sử dụng làm cơ sở phân tích gồm: (1) Trao quyền và phát triển kinh tế; (2) Bình đẳng giới và nâng cao nhận thức; (3) Lãnh đạo và tham gia cộng đồng; (4) Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đây cũng là hệ thống khung được xây dựng trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu và đặc điểm của mẫu khảo sát trong luận văn.
Như vậy, việc kết hợp Lý thuyết Tái trình hiện và Lý thuyết Đóng khung giúp nghiên cứu không chỉ trả lời câu hỏi “Báo Phụ nữ Việt Nam khai thác gì về phụ nữ DTTS?”, mà còn làm rõ “Báo đã lựa chọn cách kể nào, nhấn mạnh giá trị nào và góp phần thay đổi nhận thức xã hội về phụ nữ DTTS ra sao?”.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp phân tích nội dung định lượng, phân tích nội dung định tính và phỏng vấn sâu nhằm bảo đảm tính toàn diện và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Nguồn dữ liệu gồm 192 tác phẩm về phụ nữ DTTS đăng tải điện tử trên Báo Phụ nữ Việt Nam từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2025. Các tác phẩm được sàng lọc theo tiêu chí phản ánh trực tiếp về phụ nữ DTTS hoặc đề cập đến các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới, trao quyền, phát triển kinh tế, giáo dục, văn hóa và sự tham gia của phụ nữ trong cộng đồng. Trên cơ sở bộ dữ liệu thu thập được, nghiên cứu tiến hành mã hóa theo các nhóm tiêu chí gồm: chủ đề, khung truyền thông, nhân vật trung tâm, vai trò của phụ nữ, ngôn ngữ biểu đạt và hình thức thể hiện.
Phân tích định lượng được sử dụng để thống kê tần suất xuất hiện của các chủ đề, khung truyền thông và đặc điểm nội dung, qua đó nhận diện xu hướng truyền thông nổi bật. Trong khi đó, phân tích định tính tập trung làm rõ cách thức xây dựng hình ảnh phụ nữ dân tộc thiểu số, vai trò của nhân vật, cấu trúc diễn ngôn và ý nghĩa xã hội của các tác phẩm.
Để tăng tính khách quan, nghiên cứu đồng thời sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với cán bộ làm công tác chỉ đạo, quản lý và trực tiếp truyền thông, thực hiện tác phẩm báo chí về phụ nữ DTTS, ngoài ra, là các độc giả đọc bài, quan tâm về chủ đề phụ nữ DTTS. Kết quả phỏng vấn được sử dụng nhằm đối chiếu, lý giải và bổ sung cho các kết quả phân tích nội dung.
Việc kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu giúp hạn chế những sai lệch có thể phát sinh khi chỉ sử dụng một nguồn dữ liệu, đồng thời tạo cơ sở để đánh giá toàn diện hơn về thực trạng truyền thông đối với phụ nữ DTTS trên Báo Phụ nữ Việt Nam.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Sự chuyển dịch trong cách tái trình hiện hình ảnh phụ nữ dân tộc thiểu số
Kết quả khảo sát các tác phẩm đăng tải trên Báo Phụ nữ Việt Nam trong năm 2025 cho thấy cách thức tái trình hiện hình ảnh phụ nữ DTTS đã có sự thay đổi đáng kể so với các khuôn mẫu truyền thông trước đây. Nếu trong nhiều giai đoạn, phụ nữ DTTS thường được phản ánh với hình ảnh là nhóm yếu thế, gắn với đói nghèo, lạc hậu, thiếu cơ hội học tập và cần sự hỗ trợ từ Nhà nước hoặc cộng đồng, thì trong năm 2025, hình ảnh này đã được mở rộng theo hướng tích cực và chủ động hơn.
Phần lớn các tác phẩm không còn đặt phụ nữ DTTS ở vị trí là đối tượng tiếp nhận chính sách, mà họ đã trở thành những chủ thể của chính sách, thông qua việc tích cực tham gia phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa, xây dựng cộng đồng và thúc đẩy bình đẳng giới. Các nhân vật trong bài viết được thể hiện với nhiều vai trò khác nhau như chủ doanh nghiệp, chủ hợp tác xã, cán bộ Hội Phụ nữ, giáo viên, nghệ nhân hay những người tiên phong trong phát triển sinh kế và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Sự đa dạng này phản ánh xu hướng chuyển dịch trong diễn ngôn báo chí từ cách tiếp cận mang tính hỗ trợ sang cách tiếp cận trao quyền.
Dưới góc độ Lý thuyết Tái trình hiện của Stuart Hall, sự thay đổi này cho thấy Báo Phụ nữ Việt Nam không chỉ phản ánh hiện thực mà còn tham gia kiến tạo những hình ảnh xã hội mới về phụ nữ DTTS. Thông qua việc lựa chọn nhân vật, cách kể chuyện và hệ thống ngôn ngữ tích cực, các tác phẩm góp phần định hình nhận thức của công chúng rằng phụ nữ DTTS không chỉ là nhóm cần được bảo vệ mà còn là một trong những lực lượng tạo ra giá trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, sự chuyển dịch này vẫn chủ yếu được thể hiện thông qua các nhân vật điển hình. Phần lớn tác phẩm lựa chọn những cá nhân có thành tích nổi bật hoặc mô hình thành công, truyền cảm hứng tới phụ nữ nói chung và phụ nữ DTTS nói riêng. Đây là xu hướng phổ biến trong báo chí phát triển, song cũng đặt ra nguy cơ hình thành một “diễn ngôn thành công”, trong đó hình ảnh phụ nữ DTTS được nhìn nhận chủ yếu thông qua những trường hợp xuất sắc, trong khi cuộc sống của nhóm phụ nữ bình thường hoặc còn gặp nhiều rào cản chưa được phản ánh tương xứng.
3.2. Các khung truyền thông chủ đạo về phụ nữ dân tộc thiểu số
Phân tích nội dung các tác phẩm cho thấy Báo Phụ nữ Việt Nam sử dụng bốn khung truyền thông chủ đạo khi phản ánh về phụ nữ DTTS, gồm: khung trao quyền và phát triển kinh tế; khung bình đẳng giới và nâng cao nhận thức; khung lãnh đạo và tham gia cộng đồng; khung bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Việc hình thành các khung truyền thông này phản ánh định hướng nhất quán của tòa soạn trong việc tiếp cận vấn đề giới từ góc độ phát triển bền vững.
Trong đó, khung trao quyền và phát triển kinh tế xuất hiện với tần suất cao nhất. Các tác phẩm tập trung phản ánh những mô hình phụ nữ DTTS phát triển kinh tế hộ gia đình, thành lập hợp tác xã, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phát triển du lịch cộng đồng và khởi nghiệp. Tại khung này, Báo đã góp phần chuyển tải thông điệp rằng nâng cao vị thế kinh tế là một trong những điều kiện quan trọng để phụ nữ tăng tính chủ động, có tiếng nói trong gia đình và xã hội.
Đứng thứ hai là khung bình đẳng giới và nâng cao nhận thức, với các nội dung về xóa bỏ hủ tục, phòng chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, thúc đẩy giáo dục cho trẻ em gái và nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền của phụ nữ. Nhiều bài viết đã lồng ghép câu chuyện của nhân vật cụ thể, qua đó tăng tính tuyên truyền về các thông điệp, chính sách trở nên gần gũi và dễ tiếp nhận hơn.
Khung lãnh đạo và tham gia cộng đồng tuy có tần suất thấp hơn nhưng lại mang ý nghĩa quan trọng trong việc thay đổi nhận thức xã hội. Hình ảnh phụ nữ DTTS đảm nhiệm vai trò trưởng nhóm, cán bộ Hội, đại biểu dân cử hay người dẫn dắt các mô hình phát triển cộng đồng góp phần mở rộng nhận thức về vai trò xã hội của phụ nữ, vượt ra ngoài khuôn mẫu truyền thống gắn với gia đình và công việc nội trợ.
Bên cạnh đó, khung bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phản ánh vai trò của phụ nữ trong việc gìn giữ nghề truyền thống, tiếng nói, trang phục, lễ hội và các giá trị văn hóa của cộng đồng. Điểm đáng chú ý là nhiều tác phẩm không chỉ dừng ở việc giới thiệu bản sắc văn hóa mà còn đặt các giá trị truyền thống trong mối quan hệ với phát triển kinh tế và du lịch cộng đồng.
Kết quả này cho thấy định hướng nội dung của Báo Phụ nữ Việt Nam đối với phụ nữ DTTS trong năm 2025 chủ yếu ưu tiên cho khung truyền thông tích cực, phù hợp với chức năng truyên truyền và vận động xã hội của cơ quan báo chí thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Hall, 1997).
3.3. Thảo luận
Sự chuyển dịch trong cách tái trình hiện hình ảnh phụ nữ DTTS có thể được lý giải từ bối cảnh chính sách thúc đẩy bình đẳng giới, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển vùng đồng báo DTTS và miền núi cũng như xu hướng truyền thông phát triển đang được các cơ quan báo chí chú trọng những năm gần đây, đồng thời, cũng chính là định hướng của Đảng, Chính phủ nước ta.
Dưới góc độ Lý thuyết Tái trình hiện của Stuart Hall, kết quả nghiên cứu cho thấy Báo Phụ nữ Việt Nam đã góp phần xây dựng một hệ thống ý nghĩa mới, hình ảnh mới về phụ nữ DTTS. Thông qua việc ưu tiên các hình ảnh về khởi nghiệp, phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa và tham gia quản lý cộng đồng, báo chí không chỉ phản ánh thực tiễn mà còn góp phần định hình những chuẩn mực xã hội mới về vai trò và năng lực của phụ nữ DTTS. Đây là một bước chuyển đáng chú ý trong bối cảnh truyền thông về giới tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự tương đồng với quan điểm của Robert Entman về vai trò của các khung truyền thông trong việc định hướng nhận thức của công chúng. Việc Báo Phụ nữ Việt Nam ưu tiên các khung “trao quyền kinh tế”, “bình đẳng giới”, “lãnh đạo cộng đồng” và “bảo tồn văn hóa” phản ánh sự lựa chọn có chủ đích trong quá trình xây dựng nội dung. Các khung này không chỉ xác định điều gì là quan trọng mà còn định hướng công chúng nhìn nhận phụ nữ DTTS như những tác nhân tích cực của sự phát triển, thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự chuyển dịch trong diễn ngôn truyền thông mới chủ yếu diễn ra ở cấp độ hình ảnh và câu chuyện cá nhân. Việc thiếu vắng các phân tích về những rào cản mang tính cấu trúc của bất bình đẳng giới khiến vai trò phản biện xã hội của báo chí chưa được phát huy đầy đủ. Đây cũng là điểm khác biệt giữa truyền thông phát triển và truyền thông phản biện. Trong khi truyền thông phát triển nhấn mạnh việc lan tỏa các mô hình tích cực, truyền thông phản biện hướng đến việc nhận diện nguyên nhân và thúc đẩy thay đổi chính sách. Để nâng cao hiệu quả truyền thông về bình đẳng giới, hai cách tiếp cận này cần được kết hợp hài hòa.
Từ kết quả nghiên cứu có thể thấy, việc xóa bỏ định kiến giới trên báo chí không chỉ là thay đổi cách gọi tên hay lựa chọn hình ảnh tích cực hơn về phụ nữ DTTS. Quan trọng hơn, báo chí cần tạo điều kiện để chính phụ nữ DTTS trở thành chủ thể của diễn ngôn truyền thông; đồng thời phản ánh đầy đủ hơn những rào cản về thể chế, kinh tế và văn hóa mà họ đang phải đối mặt. Chỉ khi đó, truyền thông mới thực sự góp phần thúc đẩy bình đẳng giới theo hướng toàn diện và bền vững.
4. Kết luận
Nghiên cứu khẳng định Báo Phụ nữ Việt Nam đã có sự chuyển dịch rõ rệt trong cách tái trình hiện hình ảnh phụ nữ DTTS, từ cách tiếp cận coi họ là đối tượng cần hỗ trợ sang chủ thể của quá trình phát triển.
Việc vận dụng kết hợp Lý thuyết Tái trình hiện của Stuart Hall và Lý thuyết Đóng khung của Robert Entman cho thấy Báo Phụ nữ Việt Nam đã sử dụng các khung truyền thông theo hướng nhấn mạnh năng lực, vai trò và sự đóng góp của phụ nữ DTTS đối với gia đình và cộng đồng.
Kết quả phân tích cho thấy sự chuyển dịch này được thể hiện nhất quán thông qua các khung truyền thông nhấn mạnh trao quyền, bình đẳng giới, vai trò cộng đồng và bảo tồn văn hóa, góp phần kiến tạo diễn ngôn tích cực hơn về phụ nữ DTTS.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy quá trình tái trình hiện này vẫn còn một số hạn chế. Nội dung truyền thông chủ yếu tập trung vào các nhân vật điển hình và những mô hình thành công, trong khi các rào cản mang tính cấu trúc của bất bình đẳng giới như khoảng cách trong tiếp cận giáo dục, nguồn lực sản xuất, việc làm, quyền ra quyết định hay các định kiến văn hóa chưa được phản ánh cụ thể. Điều này khiến vai trò phản biện xã hội của báo chí chưa được phát huy đầy đủ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc xóa bỏ định kiến giới trên báo chí không chỉ dừng lại ở thay đổi hình ảnh phản ánh mà cần mở rộng không gian để phụ nữ DTTS tham gia kiến tạo diễn ngôn, đồng thời tăng cường các tác phẩm phân tích những nguyên nhân mang tính cấu trúc của bất bình đẳng giới.
Bên cạnh đó, nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về truyền thông giới đối với phụ nữ DTTS tại Việt Nam, gợi mở hướng xây dựng nội dung báo chí theo tiếp cận quyền và nhạy cảm giới. Trong thời gian tới, cần mở rộng thêm phạm vi tới nhiều cơ quan báo chí và giai đoạn khác nhau để có góc nhìn toàn diện hơn về sự biến đổi của diễn ngôn truyền thông đối với phụ nữ DTTS.
_______________
Tài liệu tham khảo
Báo Phụ nữ Việt Nam (2024a). Báo cáo tình hình thực hiện Dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết vấn đề cấp thiết cho phụ nữ và trẻ em” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2024.
Báo Phụ nữ Việt Nam (2024b). Báo cáo tình hình thực hiện Dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết vấn đề cấp thiết cho phụ nữ và trẻ em” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từ năm 2022 đến tháng 6 năm 2024.
Báo Phụ nữ Việt Nam (2025). Báo cáo tình hình thực hiện Dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết vấn đề cấp thiết cho phụ nữ và trẻ em” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2025.
Bộ Chính trị (2019). Kết luận số 65-KL/TW ngày 30 tháng 10 năm 2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.
Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14 tháng 10 năm 2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030, giai đoạn I (2021–2025).
Chung Thùy Linh (2019). Định kiến về nữ giới trên báo điện tử Việt Nam hiện nay [Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội].
Creswell, J. W. (2014). Research design: Qualitative, quantitative, and mixed methods approaches (4th ed.). SAGE Publications.
Dang Thi Hoa, Bui Thi Huong Tram, Nguyen Thi Tuyet Mai, & Mai Van Hai (2023). Socio-cultural norms and gender equality of ethnic minorities in Vietnam. Journal of Racial and Ethnic Health Disparities, 10(5), 2136–2144. https://doi.org/10.1007/s40615-022-01393-5
Doan Thanh Ha (2018). Ethnic minority women seizing their potential and being counted in Viet Nam’s socioeconomic development. UN Women Vietnam.
Entman, R. M. (1993). Framing: Toward clarification of a fractured paradigm. Journal of Communication, 43(4), 51–58. https://doi.org/10.1111/j.1460-2466.1993.tb01304.x
Hall, S. (Ed.). (1997). Representation: Cultural representations and signifying practices. SAGE Publications.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2019). Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2025a). Báo cáo kết quả thực hiện Dự án 8 giai đoạn I.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2025b). Báo Phụ nữ Việt Nam – 77 năm vì sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2025c). Báo Phụ nữ Việt Nam cần trở thành một kênh quan trọng để chị em phụ nữ học tập, ứng dụng công nghệ số.
Krippendorff, K. (2004). Content analysis: An introduction to its methodology (2nd ed.). SAGE Publications.
Nguyễn Minh Lập (2022). Hình ảnh phụ nữ dân tộc thiểu số trên báo chí Việt Nam [Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội].
Nguyễn Thị Trường Giang, & Phạm Lê Linh Trang (2021). Định kiến giới trong ngôn ngữ báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông.
Nguyễn Văn Dững (2011). Báo chí truyền thông hiện đại. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
Phạm Thị Diệu Hương (2017). Vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam trên báo điện tử.
Quốc hội (2006). Luật Bình đẳng giới, Luật số 73/2006/QH11.
Quốc hội (2016). Luật Báo chí, Luật số 103/2016/QH13.
World Bank (2019). Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội của dân tộc thiểu số tại Việt Nam.