Bàn về chế định thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý hiện nay ở nước ta (Phần 1)

27/02/2026 - 20:25      15 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Hồ Xuân Thắng

Trường Đại học Công Thương thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Huỳnh Quốc Cường

Trường Đại học Tài chính – Marketting thành phố Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Bài viết này Tác giả tập trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến chế định thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, trong đó đi sâu phân tích quy định về thực hiện dịch vụ pháp lý để làm rõ mối quan hệ mật thiết giữa Luật sư và khách hàng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua hợp đồng dịch vụ pháp lý. Từ đó làm cơ sở đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định này (tại phần 2) để cùng nhau trao đổi.

Abstract: This article focuses on analyzing current legal regulations related to the provision of legal services under legal service contracts, specifically examining the regulations on the provision of legal services to clarify the close relationship between lawyers and clients in exercising their rights and obligations through legal service contracts. This provides a basis for proposing some recommendations to improve these regulations (in Part 2) for discussion.

Keywords: Provision of legal services; Legal service contract; Fees by agreement; Case law regarding legal service contracts.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý ngày càng gia tăng, đa dạng và phức tạp. Hợp đồng dịch vụ pháp lý trở thành công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh quan hệ giữa tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật với khách hàng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy còn tồn tại nhiều vấn đề về cơ sở pháp lý, phạm vi điều chỉnh, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như cơ chế bảo đảm thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý. Đặc biệt nhất là thực hiện đúng các quyền được hưởng thù lao của bên dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng thông qua hợp đồng diễn ra trong thực tiễn chưa thật sự tuân theo quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến môi trường thực tiễn cũng như pháp lý. Việc nghiên cứu chế định thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý dưới góc nhìn khoa học pháp lý có ý nghĩa thiết thực hơn bao giờ hết. Bởi vì nó làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hệ thống pháp luật dân sự và pháp luật chuyên ngành như Luật Luật sư hiện hành. Tiếp theo là phân tích những bất cập trong quy định hiện hành và thực tiễn thực hiện, từ đó chỉ ra nguyên nhân và hệ quả. Cuối cùng là sẽ đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh, bảo đảm quyền lợi của các bên và góp phần phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp.

Trong bối cảnh cải cách tư pháp bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động dịch vụ pháp lý và hội nhập quốc tế, việc bàn luận về chế định này không chỉ mang giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần khẳng định vai trò của khoa học pháp lý trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

2. Nội dung chế định thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý trong khoa học pháp lý

2.1. Quy định về thực hiện dịch vụ pháp lý

Khái niệm dịch vụ pháp lý được thừa nhận trong hệ thống pháp luật tư pháp của nước ta, là hoạt động chuyên môn do tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật hoặc cá nhân có đủ điều kiện thực hiện nhằm hỗ trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Đây là loại hình dịch vụ đặc thù, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự và pháp luật chuyên ngành như Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý. Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta dịch vụ pháp lý là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong đời sống được hiểu là sự giúp đỡ pháp luật, bao gồm những công việc như tham gia tố tụng với tư cách là người tham gia bào chữa cho thân chủ tức là những bị can, bị cáo hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự, lao động, thương mại, hành chính. Việc tham gia tố tụng trọng tài để giải quyết tranh chấp, Tư vấn pháp luật đối với các lĩnh vực như dân sự, hình sự, lao động…, soạn thảo hợp đồng, đơn từ theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức, đại diện theo ủy quyền của cá nhân, tổ chức để thực hiện công việc có liên quan đến pháp luật; Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của pháp luật. Ở góc độ quan hệ dân sự thì mọi cá nhân là công dân trong nước hoặc công dân nước ngoài đều có quyền được tham gia làm dịch vụ pháp lý. Ở góc độ chuyên biệt thì cá nhân đó được hành nghề dịch vụ pháp lý thường xuyên thì bắt buộc họ phải là Luật sư hành nghề dịch vụ pháp lý. Theo điều 2 Luật Luật sư năm 2012 thì Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng). Như vậy, người thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng là một công việc được pháp luật thừa nhận và cho phép hành nghề một cách hợp pháp. Quy định này cũng khẳng định tư duy pháp lý trong kỹ thuật lập pháp của nước ta theo yêu cầu đòi hỏi thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta, khi mà người dan có yêu cầu trợ giúp pháp lý được xác định là một khách hàng đóng vai trò cung cầu trong nền kinh tế hội nhập toàn diện ở nước ta.

Đứng ở phương diện hành nghề dịch vụ pháp lý của Người luật sư khác với những ngành nghề khác, lĩnh vực cung ứng dịch vụ pháp lý là một ngành có tính chất đặc thù. Chính vì vậy, những tổ chức, cá nhân hành nghề dịch vụ pháp lý cần đáp ứng các điều kiện của pháp luật sau đây:

Thứ nhất, các hành vi bị nghiêm cấm

Tại khoản 1 điều 9 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012 đã liệt kê 10 nhóm hành vi bị nghiêm cấm khi thực hiện hành nghề thống nhất chung từ trung ương đến địa phương, từ điểm a đến điểm k, bao gồm:

Một, Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc). Không được vừa tham gia tư vấn và tbảo vệ cho cả nguyên đơn và bị đơn trong cùng một vụ việc hay vụ án. Điều này sẽ không đảm bảo nguyên tắc công tâm, minh bạch, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của khách hàng.

Hai, Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật. Đây không chỉ là hành vi gây sai lệch hồ sơ, vi phạm nghiêm trọng đến quá trình bảo vệ quyền lợi của khách hàng, từ đó gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà còn là đạo đức của một người hành nghề luật, là người bảo vệ công lý, lẽ phải chính vì vậy không được xảy ra những tình trạng như trên.

Ba, Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. Thông tin riêng tư, bí mật của mỗi người là điều bất khả xâm phạm và những người không có liên quan trừ cơ quan nhà nước thì bất kỳ đối tượng nào cũng có quyền tung tin, lan truyền những thông tin của khách hàng. Việc này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh, danh dự của khách hàng.

Bốn, Sách nhiễu, lừa dối khách hàng. Thực tiễn cho thấy, một số cá nhân hành nghề Luật có thái độ cư xử xem thường, hách dịch, khinh bỉ khách hàng là những người nông dân, lao động nghèo khổ để có thể yêu cầu họ trả phí dịch vụ cao hơn. Một số khác lợi dụng sự thiếu hiểu biết của pháp luật mà phóng đại vụ việc từ đó khiến khách hàng tin rằng cần phải chi nhiều tiền để có thể được giải quyết nhanh chóng và có lợi nhất cho mình.

Năm, Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;

Sáu, Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;

Bảy, Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

Tám, Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; từ chối vụ, việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo quy định của pháp luật;

Chín, Có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng. Những cơ quan, tổ chức này có thể là bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả tại các phường, quận, huyện, thành phố hoặc những cán bộ giữ chức vụ trong cơ quan nhà nước, hoặc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân…

Mười, Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác.

Những hành vi bị cấm trong khung khổ pháp lý này đã thực sự tác động trực tiếp đến thực tiễn hành nghề dịch vụ pháp lý nói chung và đặc thù riêng của người luật sư trong nền kinh tế thị trường đóng vai trò trợ giúp theo yêu cầu của khách hàng

Thứ hai, phạm vi hành nghề luật sư

Tại điều 22 văn bản hợp nhất Luật luật sư năm 2012 các nhà làm luật đã thống nhất xây dựng 5 khoản riêng biệt xác định phạm vi hành vi hành nghề Luật sư theo yêu cầu của khách hàng trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.

Tại khoản 1 là một quy phạm pháp luật cho phép tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự. Phạm vi hành nghề này rất linh hoạt phù hợp với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước bước vào kỷ nguyên số cũng như đổi mới sáng tạo, văn minh do con người làm chủ quyết định mọi sự phát triển.

Đây cũng là một quy phạm pháp luật cho phép người Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.

Nội hàm của quy phạm pháp luật này tại khoản 3, các nhà làm luật trao quyền hành nghề của Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật đối với các vấn đề về tranh chấp hợp đồng kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình, đất đai…Tức là đóng vai trò trợ giúp pháp lý khi khách hàng có yêu cầu làm đại diện ủy quyền tham gia vào giải quyết tranh chấp có sự xuất hiện của bên thứ ba theo hình thức giải quyết những tranh chấp đó như hòa giải, trọng tài thương mại hoặc trọng tài tòa án nhân dân theo luật định.

Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật. Đây là phạm vi hành nghề tại khoản 4, cụ thể là những hoạt động liên quan đến kinh tế như tham gia đòi quyền lợi của hợp đồng lao động khi bị chủ doanh nghiệp sa thải trái pháp luật, tham gia đại diện khách hàng yêu cầu người có hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của khách hàng đính chính, công khai xin lỗi…

Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật luật sư như soạn đơn khởi kiện đòi chia di sản thừa kế, đơn ly hôn, đơn khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo yêu cầu của khách hàng…

Thứ ba, hình thức hành nghề

Tại điều 23 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012, các nhà làm luật thống nhất Luật sư được lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề sau đây:

Một là, Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư.

Hai là, Hành nghề với tư cách cá nhân theo quy định tại Điều 49 của Luật luật sư cụ thể như sau: i) Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư. Là làm việc tại các doanh nghiệp, công ty chuyên mảng pháp chế doanh nghiệp. ii) Trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận thì luật sư hành nghề với tư cách cá nhân phải mua bảo hiểm trách nhiệm cho hoạt động hành nghề của mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm. Đây là loại bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, có trách nhiệm bồi thường cho những người tham gia trước những thiệt hại về tài chính mà bên bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường. Trong quá trình thực hiện các công việc thuộc chuyên môn nghề nghiệp của mình như tư vấn pháp lý, tranh tụng,.. gặp phải những sai sót hay bất cẩn thì người được bảo hiểm đều được bồi thường thiệt hại nếu trong phạm vi gói bảo hiểm đó. Iii) Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên.

Có thể thấy, hình thức hành nghề luật sư được thừa nhận tại điều 23 hiện hành đã phù hợp với hội nhập quốc tế ở nước ta. Tức là quy định đó bắt buộc người luật sư phải cố gắng học tập vườn lên trao dồi kiến thức, đạo đức nghề nghiệp để luôn thích ứng với khả năng làm việc trong môi trường đa quốc gia, am hiểu luật quốc tế, có kỹ năng ngoại ngữ, và tổ chức hành nghề theo mô hình hiện đại như công ty luật, liên kết quốc tế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng là doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ tư, nhận và thực hiện vụ, việc của khách hàng

Tại điều 24 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012 các nhà làm luật đã xác định 3 nhóm nội dung nhận và thực hiện vụ,việc của khách hàng cho người hành nghề Luật sư.

 Luật sư tôn trọng sự lựa chọn luật sư của khách hàng; chỉ nhận vụ, việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ, việc trong phạm vi yêu cầu của khách hàng. Đây là một quy phạm pháp luật bắt buộc đối với người hành nghề Luật sư theo điều chỉnh của Luật Luật sư hiện hành và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tức là người hành nghề Luật sư phải tuân thủ theo quy định pháp luật và đặc biệt là chỉ nhận và thực hiện những vụ việc theo yêu cầu của khách hàng. Xét ở kết quả của người làm dịch vụ pháp lý cho khách hàng là kết quả ở thì tương lai mà ở thì hiện tại người Luật sư không hứa trước một cách chắc chắn.

Các nhà làm luật đưa ra quy phạm bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng trong trưởng hợp đang nhận vụ, việc, luật sư thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng. Bởi vì Người Luật sư khi nhận và thực hiện vụ, việc của khách hàng theo thỏa thuận thực tế giữa các bên không bên nào ép buộc bên nào, khôn g  trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Tại khoản 3 điều 24 này, các nhà làm luật cấm đoán Luật sư không chuyển giao vụ, việc mà mình đã nhận cho luật sư khác làm thay, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc trường hợp bất khả kháng. Như vậy, chỉ có một trong hai tình huống được khách hàng đồng ý hoặc trường hợp bất khả kháng thì người Luật sư mới được chuyển giao vụ, việc mà mình đã nhận cho luật sư khác làm thay. Đây là quy định nhằm bảo vệ thông tin khách hàng, vì đa số những vụ việc cần đến sự giúp đỡ của Luật sư đều là những vụ việc liên quan đến thông tin, bí mật cá nhân, kinh doanh của mình. Vì vậy, tâm lý khách hàng không bao giờ muốn thông tin của mình bị nhiều người biết đến, gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm và hình ảnh của khách hàng. Chình vì vậy, quy định này đã đáp ứng được  mong muốn vụ việc của khách hàng sẽ do một Luật sư đảm nhiệm và xử lý là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn.

Thứ năm, bí mật thông tin

Việc hành nghề Luật sư cần phải giữ bí mật thông tin nhất là trong giai đoạn hội nhập mang tính toàn cầu ở nước ta hiện nay. Tại điều 25 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012 các nhà làm luật đưa ra 3 nhóm bí mật thông tin cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. Hành nghề theo yêu cầu của khách hàng, người Luật sư cần tuân thủ theo quy định cấm đoàn này là một nguyên tắc cơ bản để bảo vệ khách hàng cũng như quy tắc xử sự chung khi hành nghề dịch vụ pháp lý của hành nghề luật sư ở nước ta.

Thứ hai, Luật sư không được sử dụng thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đây là một quy phạm pháp luật cấm đoán trên cơ sở quy phạm pháp luật bắt buộc người hành nghề luật sư phải có nghĩa vụ ghi nhận tại điều 9 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012. Quy phạm này đóng vai trò ý nghĩa rất thiết thực trong pháp lý và thực tiễn, bởi vì nó bảo vệ khách hàng tuyệt đối khi mà chính Luật sư phải giữ bí mật mọi thông tin mà mình biết được trong quá trình hành nghề, không được tiết lộ hoặc sử dụng sai mục đích. Ở góc độ bảo vệ lợi ích công cộng và Nhà nước,nó thậ sự ngăn chặn việc lợi dụng nghề nghiệp để gây hại cho xã hội hoặc xâm phạm an ninh quốc gia. Đồng thời nó cũng giữ uy tín nghề luật sư trong việc tạo niềm tin cho khách hàng và cộng đồng rằng luật sư là người bảo vệ công lý, không phải người lợi dụng thông tin.

Thứ ba, Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình.

Người hành nghề Luật trong tỏ chức hành nghề luật sư như công ty luật, Văn phòng Luật sư và cộng sự thì sẽ luôn biết được đây là những thông tin mà không được tiết lộ cho những người không liên quan để bảo vệ khách hàng và giữ uy tín. Đây là nghĩa vụ bắt buộc của tổ chức, cá nhân là nhân viên hành nghề Luật sư không được quyền tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình. Quy định này thể hiện sự chuyên nghiệp của một người hành nghề luật đặt trong bối cảnh khách hàng có quyền yêu cầu người hành nghề Luật sư thực hiện các công việc nghề nghề nghiệp mang tính đặc thù và bảo mật thông tin cao .

4. Kết luận

Việc nghiên cứu chế định thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý dưới góc nhìn khoa học pháp lý cho thấy đây là một lĩnh vực có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng hoạt động hành nghề luật sư và dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Nhằm bảo đảm tuân thủ pháp luật Tại Việt Nam, hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý được điều chỉnh bởi các văn bản quy phmaj pháp luật. Việc nghiên cứu các quy định giúp hiểu rõ điều kiện hành nghề, biết phạm vi được phép cung cấp dịch vụ, phòng tránh vi phạm như hành nghề trái phép, vượt quá thẩm quyền…Điều này giúp hạn chế rủi ro bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm. Bên cạnh đó việc nghiên cứu các quy định nói trên sẽ bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng. Bởi vì vịch vụ pháp lý liên quan trực tiếp đến tài sản, quyền nhân thân, quyền kinh doanh và quyền tự do cá nhân. Cho nên khi nắm rõ quy định, người hành nghề sẽ thực hiện việc soạn thảo hợp đồng đúng luật, tư vấn chính xác, tránh gây thiệt hại cho khách hàng. Đồng thời, khách hàng cũng hiểu được quyền của mình khi sử dụng dịch vụ pháp lý, bảo đảm đạo đức và chuẩn mực nghề nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phòng ngừa và giải quyết tranh chấp, đặc biệt hiểu cơ chế vận hành thực tế của nghề luật, phân biệt giữa lý luận và thực tiễn hành nghề.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Luật dân sự năm 2015

2. Văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012

3. Nghị định số 123/2013/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư

4. Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT của TAND Cấp cao tại TP.HCM (nay là Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM), tuyên vô hiệu hợp đồng hứa thưởng giữa Luật sư (LS) và thân chủ làm nguồn án lệ

5. Luật sư. Bùi Anh Tú: Án lệ hợp đồng hứa thưởng giữa luật sư và khách hàng: Ranh giới điều cấm của luật – Tạp chí Luật sư Việt Nam – ngày 16/12/2025

 

 

 

Tiêu điểm
Tiêu điểm
24/06/2026 137

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba ( tỉnh Phú Thọ): Khoa học nâng tầm chuyên môn vì người bệnh

Trong bối cảnh y học hiện đại phát triển với tốc độ nhanh chóng, tri thức y khoa không ngừng được cập nhật và thay đổi, việc học tập liên tục không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ, nhân viên y tế.
23/06/2026 155

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ): Không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, hướng tới xây dựng mô hình y tế thông minh trong chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho nhân dân

Trong tiến trình đổi mới toàn diện ngành y tế, việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ dừng lại ở mục tiêu điều trị hiệu quả mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống y tế hiện đại, chủ động và nhân văn. Tại tuyến cơ sở – nơi gần dân nhất, sát thực tế nhất – yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.
23/06/2026 173

BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH PHÚ THỌ – NƠI TỪNG BỮA ĂN TRỞ THÀNH ĐIỂM TỰA HỒI SINH SỨC KHỎE

Trong hệ thống y tế hiện đại, chất lượng khám chữa bệnh không chỉ được đo bằng trình độ chuyên môn hay trang thiết bị kỹ thuật, mà còn được đánh giá thông qua những yếu tố tưởng chừng giản dị nhưng có tác động sâu sắc – trong đó, an toàn thực phẩm giữ vai trò như một “trụ cột thầm lặng”.
19/06/2026 621

Phú Thọ: Trường THCS Văn Lang – điểm đến của những học sinh chất lượng cao trong toàn tỉnh

Kỳ kiểm tra đánh giá năng lực vào Trường THCS Văn Lang (phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) năm học 2026–2027 không chỉ là một kỳ tuyển sinh thông thường, mà còn là “thước đo vàng” phản ánh rõ nét chất lượng giáo dục của các trường và vị thế dẫn đầu của một đơn vị giáo dục trọng điểm.
Xem tất cả
23/06/2026 155
Trong tiến trình đổi mới toàn diện ngành y tế, việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ dừng lại ở mục tiêu điều trị hiệu quả mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống y tế hiện đại, chủ động và nhân văn. Tại tuyến cơ sở – nơi gần dân nhất, sát thực tế nhất – yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.
Xem chi tiết
19/06/2026 621
Kỳ kiểm tra đánh giá năng lực vào Trường THCS Văn Lang (phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) năm học 2026–2027 không chỉ là một kỳ tuyển sinh thông thường, mà còn là “thước đo vàng” phản ánh rõ nét chất lượng giáo dục của các trường và vị thế dẫn đầu của một đơn vị giáo dục trọng điểm.
Xem chi tiết
19/06/2026 669
Trong dòng chảy đổi mới mạnh mẽ của giáo dục đại học Việt Nam, khi yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở nên cấp thiết, việc lựa chọn một môi trường đào tạo vừa có chiều sâu học thuật, vừa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn sản xuất – kinh doanh trở thành mối quan tâm hàng đầu của thí sinh và phụ huynh.
Xem chi tiết
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả