
Hội thảo được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến với 340 điểm cầu trực tuyến từ các cơ sở đào tạo trên cả nước. Tham dự hội thảo có đại diện các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT), Cục Thể dục thể thao Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), các tổ chức quốc tế như UNESCO, UN Women, UNICEF, UNFPA, cùng các chuyên gia, nhà quản lý giáo dục, giáo viên và học sinh.

Tại hội thảo, Tiến sĩ Lý Quốc Biên, đại diện nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (VNIES) đã trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng tham gia thể thao của học sinh nữ cấp trung học cơ sở (THCS) tại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp đa nguồn, kết hợp tổng quan chính sách, khảo sát trực tuyến, khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu và tham vấn các bên liên quan. Trong đó, khảo sát trực tuyến được triển khai tại 34 tỉnh, thành phố với hơn 524 nghìn người tham gia.
Kết quả cho thấy, mặc dù Việt Nam đã có nền tảng chính sách về giáo dục thể chất, thể thao trường học, quyền trẻ em và bình đẳng giới, song các cơ chế và nguồn lực dành riêng cho việc thúc đẩy học sinh nữ tham gia thể thao vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ học sinh nữ tham gia vận động, luyện tập hoặc chơi thể thao ngoài giờ học đạt 52,36%, thấp hơn học sinh nam 17,55 điểm phần trăm. Đáng chú ý, chỉ 20,8% học sinh nữ đạt mức vận động từ một giờ mỗi ngày trở lên.
Nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều rào cản ảnh hưởng đến sự tham gia thể thao của học sinh nữ như thiếu các môn thể thao phù hợp với nhu cầu, nội dung giáo dục thể chất chưa thực sự hấp dẫn, tâm lý thiếu tự tin, lo ngại bị đánh giá, sợ chấn thương và tâm lý e ngại khi tham gia cùng học sinh nam.
Theo các chuyên gia, những kết quả này cho thấy sự cần thiết phải xây dựng môi trường vận động an toàn, thân thiện và hòa nhập hơn trong trường học; đồng thời giảm áp lực thành tích, tôn trọng nhu cầu và sở thích của học sinh nữ để duy trì thói quen rèn luyện thể chất lâu dài
Bên cạnh hoạt động nghiên cứu, dự án cũng triển khai nhiều mô hình thực tiễn nhằm khuyến khích học sinh nữ tham gia thể thao. Trong đó, khóa tập huấn “Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức hoạt động thể thao cho trẻ em gái lứa tuổi 11-15” được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 3/2026 dành cho các chuyên gia và giáo viên cốt cán, tập trung vào việc thiết kế các hoạt động vận động thân thiện, tăng cường sự kết nối và khuyến khích học sinh tham gia.
Đáng chú ý, chuỗi ngày hội “Nữ sinh năng động” đã được triển khai tại 6 trường THCS thuộc Ninh Bình, thành phố Huế và Cần Thơ. Kết quả có 1.279 trong tổng số 1.593 học sinh nữ tham gia các hoạt động, đạt tỷ lệ trung bình 80,5%; hơn 5.000 học sinh được tiếp cận thông qua các hoạt động thể thao, trò chơi vận động và giao lưu.
Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, khi các hoạt động thể thao được thiết kế theo hướng vui tươi, đa dạng, ít áp lực và có cơ chế khuyến khích phù hợp, học sinh nữ thể hiện mức độ tham gia tích cực hơn. Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu, nhân rộng các mô hình thể thao học đường phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhu cầu và khả năng của trẻ em gái.
GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng việc duy trì thói quen vận động không chỉ giúp học sinh nữ nâng cao sức khỏe thể chất mà còn góp phần cải thiện sức khỏe tinh thần, tăng sự tự tin, khả năng hợp tác và cảm giác gắn kết trong môi trường học đường. Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn dữ liệu quan trọng để các cơ sở giáo dục, gia đình và các bên liên quan xây dựng các giải pháp phù hợp, qua đó mở rộng cơ hội phát triển toàn diện cho học sinh nữ thông qua thể thao.
Từ năm 2022, VNIES đã phối hợp triển khai các hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong trường học thông qua dự án “Năng động cùng Thể thao”. Dự án đã tiếp cận 34 tỉnh, thành phố và mang đến cơ hội vận động tích cực cho hơn 7 triệu học sinh tiểu học trên cả nước.
Tiếp nối những kết quả đạt được, năm 2026, các đối tác mở rộng phạm vi nghiên cứu và can thiệp sang nhóm trẻ em gái từ 11 đến 15 tuổi, hướng tới xây dựng môi trường thể thao học đường tích cực, hòa nhập và phù hợp hơn, giúp các em tự tin tham gia các hoạt động thể chất, phát triển năng lực và phát huy tiềm năng của bản thân.
H.C