CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ XÂY DỰNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

13/03/2026 - 21:03      17 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

VŨ QUỐC DOANH

Cao Đẳng Y dược và Kinh tế công nghệ

Abstract:

The article contributes to clarifying the socialist-oriented market economic model in Vietnam today, especially since the 9th National Congress of the Party. Thereby affirming: that the model of the “Socialist oriented market economy” in Vietnam is a modern and integrated market economy, both following the general rules of the market economy and containing socialist values; leadership by the Communist Party of Vietnam and managed by the socialist rule of law state.

Keywords: Socialism, capitalism, market economy, free market economy, command economy, mixed economy.

1. Đặt vấn đề

Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Chính lịch sử phát triển các hình thái kinh tế - xã hội ấy đã tạo các mô hình kinh tế khác nhau. Tính đến nay loài người đã và đang trải qua 3 mô hình kinh tế, đó là: nền kinh tế thị trường (KTTT) tự do, nền kinh tế chỉ huy và nền kinh tế hỗn hợp.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Các mô hình kinh tế thị trường

2.1.1. Về mô hình nền kinh tế thị trường tự do (Bàn tay vô hình 1776 - 1929)

Mô hình này trải qua nhiều phương thức sản xuất, phát triển qua nhiều nấc thang từ thấp đến cao. Xét về lịch sử: loài người bắt đầu từ nền sản xuất tự túc, tự cấp, sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ cho bản thân và gia đình. Về sau sản phẩm có dư thừa đôi chút người ta đem trao đổi cho nhau dưới hình thức vật đổi với vật…những sản phẩm đem trao đổi chính là hàng hóa, đến đây ta thấy hàng hóa đã xuất hiện, nhưng chưa có sản xuất hàng hóa. Dần về sau người ta thấy rằng mỗi người tập trung sản xuất ra một vài sản phẩm mà mình có lợi thế, rồi đem đổi lấy những sản phẩm mình cần, giai đoạn này được coi là sản xuất hàng hóa ra đời. Càng về sau, người ta càng tập trung sâu vào sản xuất ra những sản phẩm mà mình có lợi thế, mục đích của sản xuất lúc này là để bán…nhằm thu lợi nhuận. Lúc này đại bộ phận sản phẩm làm ra là để bán, nên giai đoạn này được coi là đánh dấu sự ra đời của kinh tế hàng hóa. KTTT là giai đoạn tiếp theo của kinh tế hàng hóa.

KTTT là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, ở đó các yếu tố “đầu vào ” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua mua- bán trên thị trường. Nếu Nhà nước hỗ trợ về giá sẽ bóp méo thị trường, sai lệch trong cạnh tranh, cạnh tranh không công bằng, không sòng phẳng…WTO không chấp nhận sự hỗ trợ này. Chính vì vậy mà hiện nay một số nước tuy là thành viên của WTO nhưng vẫn chưa được WTO công nhận có nền KTTT, trong đó có Việt Nam.

Như vậy, KTTT chủ yếu do các quy luật của thị trường điều tiết, còn Nhà nước không tham gia hoặc tham gia rất ít vào quá trình quản lý nền kinh tế, nên nền KTTT này được gọi là mô hình “Nền KTTT tự do”, hay mô hình nền kinh tế “bàn tay vô hình”.

Sự ra đời của mô hình nền KTTT tự do được đánh dấu từ Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ 1776 và kết thúc từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933). Trải qua 153 năm tồn tại và phát triển, mô hình nền KTTT tự do đã chứng tỏ sức sống rất mãnh liệt là tạo ra khối lượng hàng hóa bằng tất cả các xã hội trước đó cộng lại. Tuy nhiên, do mô hình này chỉ do các quy luật của thị trường điều tiết và chi phối, mà không có sự quản lý, sự điều tiết từ phía Nhà nước nên thường xuyên xảy ra khủng hoảng.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) cho thấy mô hình nền KTTT tự do đã hết vai trò lịch sử, hay nói cách khác mô hình kinh tế này không còn phù hợp trong điều kiện kinh tế thế giới đã phát triển lên trình độ cao hơn trước. Trong khi đó thế gới đã xuất hiện mô hình kinh tế mới, trái ngược 180 độ với mô hình nền KTTT tự do, đó là mô hình nền kinh tế chỉ huy.

2.1.2. Về mô hình nền kinh tế chỉ huy (Bàn tay hữu hình 1917- 1991), hay còn gọi là Cơ chế hành chính tập trung

Mô hình chủ nghĩa xã hội của nước Nga ra đời trong bối cảnh hết sức đặc biệt: Từ sau cách mạng Tháng Mười năm1917 đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất. Nước Nga trước cách mạng Tháng Mười so với các nước phát triển khác bị lạc hậu từ 50 năm đến 100 năm. Khi bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ bằng 1/22 của Mỹ cùng thời. Nền kinh tế vốn đã lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh thế giới thứ nhất, sau đó là nội chiến, tiếp đó là chiến tranh can thiệp của 14 nước đế quốc và bị bao vây, cấm vận về kinh tế nước Nga. Từ năm 1918 đến đầu 1921 để đảm bảo cung cấp lương thực cho quân đội, cho tiền tuyến, cho công nhân và cho nhân dân thành thị trong điều kiện lương thực cực kỳ khan hiếm, Lênin đã đề ra Chính sách cộng sản thời chiến (nền kinh tế chỉ huy), tiến hành quốc hữu hóa tài sản, tư liệu sản xuất của bọn tư sản ngoại bản, tư sản phản dân tộc, đại địa chủ và các thế lực phản cách mạng khác... Đến tháng 3 năm 1921, sau khi nội chiến kết thúc, tại Đại hội X Đảng Cộng sản Nga với việc đề ra Chính sách kinh tế mới (NEP) (Chính sách cộng sản thời chiến kết thúc). Việc thực thi NEP giúp nước Nga nhanh chóng khắc phục tình trạng suy yếu kinh tế sau chiến tranh. Đường lối đó được thực hiện chưa được bao lâu thì từ cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thế kỷ XX, dấu hiệu của một cuộc chiến tranh thế giới ngày càng lộ rõ. Trong bối cảnh ấy phải làm sao nhanh chóng biến nước Nga lạc hậu thành cường quốc công nghiệp, vừa để xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, vừa để chuẩn bị đối phó với nguy cơ chiến tranh sắp xảy ra. Trong bối cảnh đó, Nhà nước Nga không thể không quay lại áp dụng Chính sách cộng sản thời chiến, trọng tâm của chính sách này là thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ trong quả lý nền kinh tế. Cơ chế này Nhà nước can thiệp sâu vào nền kinh tế, không tuân thủ hoặc tuân thủ rất ít các quy luật của thị trường nên còn gọi là mô hình nền kinh tế “bàn tay hữu hình”. Việc Nhà nước chỉ huy, Nhà nước đều khiển nền kinh tế thông qua xây dựng các xí nghiệp quốc doanh, nông, lâm trường quốc doanh, các hợp tác xã… sản xuất theo chỉ tiêu, kế hoạch Nhà nước giao, sản phẩm làm ra nộp hết về cho Nhà nước, riêng sản phẩm lương thực của các nông, lâm trường quốc doanh, các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất… làm ra thì để lại đủ cho xã viên, người già, trẻ em ăn, phần còn lại bán cho Nhà nước dưới hình thức trưng thu, trưng mua (giá mua dưới giá thành sản xuất), sau đó Nhà nước phân phối lại các sản phẩm này cho dân cư với giá rất thấp (thấp hơn nhiều lần giá Nhà nước trưng thu, trưng mua), cơ chế phân phối này còn gọi là “cơ chế bao cấp”. Với cách làm này mọi nguồn lực của xã hội được tập trung cao độ vào tay Nhà nước, thanh niên sẵn sàng gia nhập quân đội (vì cha mẹ già, con nhỏ có Nhà nước lo). Mô hình kinh tế này Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất và giữ quyền phân phối về thu nhập (để bảo đảm tính xã hội). Mô hình này đặc biệt có ưu thế trong điều kiện đất nước có chiến tranh, vì có thể huy động tối đa các nguồn lực kinh tế, có tính thống nhất cao về hệ tư tưởng, ý chí để tập trung chiến đấu, sản xuất. Chính nhờ mô hình này mà mọi nguồn lực tập trung cao độ vào tay Nhà nước, nên Hồng quân Liên Xô mới có đủ vũ khí, khí tài và nhân lực để chiến thắng phát xít Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ II và Việt Nam sớm thắng Mỹ (mô hình này hiện đang áp dụng tại Cu Ba, Triều Tiên…). Sự kiện Hồng quân Liên Xô chiến thắng phát xít Đức, cũng chính là mô hình nền kinh tế chỉ huy chiến thắng mô hình nền KTTT tự do. Vì vậy sau chiến tranh thế gới lần thứ II, các nước đang thực hiện mô hình KTTT tự do bắt đầu có sự điều chỉnh nhất định mô hình nền kinh tế theo hướng nền kinh tế chỉ huy, như xây dựng các doanh nghiệp nhà nước (công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước trong nền KTTT). Như vậy, đến đây ta thấy mô hình nền KTTT tự do không còn nguyên bản, mà đã có sự “lai” mô hình nền kinh tế chỉ huy ở mức độ nhất định.

Mô hình nền kinh tế chỉ huy, chỉ phù hợp và phát huy hiệu quả trong điều kiện đất nước có chiến tranh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu (Việt Nam 1975- 1986) vẫn tiếp tục duy trì mô hình này. Thời gian đầu, cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã phát huy tác dụng, song về sau đã biến dạng thành kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Những hạn chế về quan liêu bao cấp, đã triệt tiêu sáng tạo, cạnh tranh, làm cho mô hình này không có sức sống trong thời bình.

Trong điều kiện đất nước hòa bình cần phát huy yếu tố cá nhân, tính chủ động sáng tạo của mỗi con người, nhằm khai thác tối đa các nguồn lực của đất nước. Trong khi mô hình này đã tuyệt đối hóa cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao, từ bỏ hay gần như từ bỏ một cách chủ quan duy ý chí nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, thực hiện chế độ bao cấp tràn lan, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người lao động; lợi ích cá nhân không được coi trọng… không thừa nhận thị trường là thống nhất, mà phân thị trường thành 2 loại: thị trường chính thức và thị trường chợ đen. Nhà nước chỉ thừa nhận thị trường chính thức (do quốc doanh và tập thể tham gia), không thừa nhận thị trường chợ đen (do các thành phần kinh tế còn lại tham gia)…

Việc chỉ thừa nhận 2 thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, dẫn đến không khai thác hết các nguồn lực của đất nước, nguồi lực con người không được phát huy; xem nhẹ hoặc không quan tâm lợi ích cá nhân cũng làm cho kinh tế quốc doanh và tập thể thiếu động lực phát triển… trong khi đó kinh tế quốc doanh và tập thể không đủ sức cung cấp sản phẩm cho xã hội, từ đó xã hội ngày càng thiếu sản phẩm, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn… đây chính là cái thất bại của mô hình nền kinh tế chỉ huy (Chính sách cộng sản thời chiến). Nguyên nhân của thất bại là mô hình này chỉ phù hợp trong điều kiện đất nước có chiến tranh hoặc thiên tai, dịch bệnh… Vì vậy, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu (Việt Nam 1975- 1986) áp dụng mô hình này trong điều kiện đất nước hòa bình nên kém hiệu quả. Bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đi vào thời kỳ khủng hoảng. Từ tháng tư năm 1989 trở đi, sự đổ vỡ diễn ra liên tiếp ở các nước Đông Âu. Chỉ trong vòng 2 năm, đến tháng 9 năm 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã sụp đổ hoàn toàn[2].

Chính sự thất bại của mô hình nền kinh tế thứ hai là nền kinh tế chỉ huy, người ta nghĩ đến phải đi tìm một mô hình kinh tế mới, tốt hơn 2 mô hình kinh tế trên, đó là mô hình nền kinh tế hỗn hợp.

2.1.3. Về mô hình nền kinh tế hỗn hợp (Hai bàn tay, từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX đến nay)

Vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX Paul Anthony Samuelson (1915 - 2009) nhà kinh tế học người Mỹ, đã nhìn thấy mô hình nền kinh tế chỉ huy càng về sau càng bọc lộ những nhược điểm vốn có của nó. Ông cho rằng mô hình kinh tế này hiện không còn tối ưu nữa, nhưng nó vẫn có những ưu điểm nhất định nó mới tồn tại hơn 70 năm, đặc biệt là trong điều kiện đất nước có chiến tranh (1917- 1945) tỏ ra rất hiệu quả (Hồng quân Liên Xô chiến thắng phát xít Đức), nhưng lại kém hiệu quả trong điều kiện đất nước hòa bình. Đồng thời, Ông cũng xem xét lại mô hình nền KTTT tự do và cũng thấy mô hình này cũng có những ưu điểm nhất định mới tồn tại đến 153 năm.

Từ đó Ông bóc tách lấy những ưu điểm của mô hình nền KTTT tự do (Bàn tay vô hình) là phát huy tối đa các quy luật của thị trường như: quy luật giá trị; quy luật cung - cầu; quy luật cạnh tranh; quy luật lưu thông tiền tệ; tính quy luật tâm lý… và những ưu điểm của mô hình nền kinh tế chỉ huy (Bàn tay hữu hình) là phát huy vai trò quản lý của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế, để hình thành mô hình nền kinh tế thứ ba là nền kinh tế hỗn hợp, tức mô hình “KTTT có sự quản lý của Nhà nước” hay còn gọi là mô hình nền kinh tế hai bàn tay.

Từ khi ra đời mô hình nền kinh tế hỗn hợp tỏ ra rất hiệu quả và đến nay hầu hết các nước phát triển trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế này, trừ một số nước như Cu Ba, Triều Tiên… do bị cấm vận nên buộc phải thực hiện mô hình nền kinh tế chỉ huy, tuy vậy những nước này hiện cũng từng bước chuyển sang nền kinh tế hỗn hợp.

2.2. Kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Thuật ngữ KTTT định hướng XHCN được khẳng định lần đầu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001). Đó là kết quả của quá trình 15 năm đổi mới tư duy và thực tiễn ở nước ta, được đúc kết lại trên cơ sở đánh giá và rút ra các bài học lớn qua các kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt là Đại hội lần thứ VIII của Đảng. Theo tinh thần đó, Đại hội IX của Đảng xác định: “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa”[1].

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng làm rõ nội hàm, mục tiêu của nền KTTT định hướng XHCN: “Nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là một hình thái KTTT vừa tuân theo những quy luật của KTTT, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”[2].

Trên cơ sở đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[3].

Từ nhận thức lý luận như vậy, cũng trong Đại hội XII, Đảng ta khẳng định nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam: “có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, họp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội”[3].

Tiếp tục làm rõ hơn, Đại hội XIII của Đảng nêu cụ thể: “KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước” [4].

Như vậy, xét về bản chất, nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu KTTT hiện đại và hội nhập, vừa tuân theo các quy luật chung của nền KTTT, vừa hàm chứa những giá trị XHCN trong vận hành, quản lý cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh. Bản chất đó được phản ánh thông qua các biểu hiện dưới đây:

2.2.1. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường

Tính chất hiện đại trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam thể hiện sự hướng tới tiếp thu, tích hợp có chọn lọc các thành tựu mới về các loại thị trường, các yếu tố thị trường, cơ chế vận hành... của các nền KTTT phát triển nhất của thế giới. Nền KTTT định hướng XHCN là nền KTTT mở cửa và hội nhập theo chuẩn mực thế giới.

KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, là nền KTTT vận hành theo các quy luật thị trường. Các quy luật kinh tế chủ yếu chi phối trong nền KTTT Việt Nam cơ bản bao gồm: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ…

Trên thị trường, những quy luật này có quan hệ tác động lẫn nhau và thông qua sự hoạt động của các quy luật đó sẽ điều tiết hành vi của các chủ thể tham gia trong nền kinh tế.

2.2.2. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường  mà trong đó, các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế phải tuân thủ sự quản lý của Nhà nước theo nguyên tắc thị trường, đồng thời hướng tới những giá trị cơ bản của CNXH

Những giá trị căn bản của CNXH ở Việt Nam thể hiện tập trung ở mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong đó, phù hợp với từng giai đoạn phát triển, các giá trị đảm bảo định hướng XHCN thể hiện ở các khía cạnh:

Thứ nhất, nền KTTT ở nước ta có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN. Nhà nước pháp quyền XHCN định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường.

Thứ hai, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ ba, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ tư, xác lập quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp để thúc đẩy phát triển mạnh lực lượng sản xuất.

Thứ năm, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

3. Kết luận

Như vậy, hiện nay khi nói phát triển KTTT thì chắc chắn không phải là phát triển mô hình nền KTTT tự do rồi, mà chính là cách nói tắt của phát triển nền kinh tế hỗn hợp, tức mô hình “KTTT có sự quản lý của Nhà nước”. Riêng một số nước lựa chọn con đường đi lên CNXH như Trung Quốc, Việt Nam hiện cũng sử dụng mô hình nền kinh tế hỗn hợp, đồng thời có định hướng phát triển riêng cho mình. Mô hình kinh tế của Trung Quốc “KTTT có sự quản lý của Nhà nước - XHCN”, hay Mô hình KTTT xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Qụốc; mô hình kinh tế của Việt Nam “KTTT có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN”, đây là cách nói đầy đủ. Trên thực tế đôi khi người ta nói tắt về mô hình kinh tế của Việt Nam là “KTTT định hướng XHCN”.

Có thể nói, mô hình “KTTT định hướng XHCN” ở Việt Nam là một kiểu KTTT hiện đại và hội nhập, vừa tuân theo các quy luật chung của nền KTTT, vừa hàm chứa những giá trị XHCN; do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, hướng tới mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

________________    

Tài liệu tham khảo

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

 

[2] Cần thấy rằng sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu (1991) không phải là sự sụp đổ cùa CNXH, mà là sự sụp đổ của một mô hình của chủ nghĩa xã hội trong quá trình đi tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa; là sự sụp đổ của mô hình kinh tế không phù hợp, do duy trì quá lâu (1945- 1991) mô nền kinh tế chỉ huy trọng tâm là thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ trong điều kiện đất nước hòa bình. Nó không đồng nghĩa với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một hình thái kinh tế-xã hội mà loài người đang vươn tới. Tương lai của xã hội loài người vẫn là chủ nghĩa xã hội, đó là qui luật khách quan của sự phát triển lịch sử.

Tiêu điểm
Tiêu điểm
06/05/2026 147

Từ ‘mạch máu’ mạng lưới đến bước đi toàn cầu của Viettel

Khởi nguồn từ bài toán làm chủ một thiết bị được ví như “mạch máu” của hạ tầng viễn thông, thiết bị Site Router của Viettel đã từng bước được nghiên cứu, kiểm chứng trên mạng lưới thực và sẵn sàng tham gia thị trường quốc tế.
06/05/2026 143

Công ty xi măng Long Sơn chào mừng ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế lao động 1/5

Công ty xi măng Long Sơn tại phường Bỉm Sơn tỉnh Thanh Hóa, nơi được xem là vùng nguyên liệu tốt nhất Việt Nam để sản xuất xi măng, Long Sơn có 4 dây chuyền đồng bộ, hiện đại có tổng công suất hơn 10,5 triệu tấn/năm. Công ty Xi măng Long Sơn luôn cung cấp các dòng sản phẩm chất lượng cao và ổn định đáp ứng yêu cầu và làm hài lòng khách hàng trong nước cũng như quốc tế. Bằng việc hướng đến sản xuất xanh và không ngừng học hỏi ứng dụng chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất và kinh doanh đã tạo thành điểm tựa để Công ty Xi măng Long Sơn tiếp tục khẳng định vị thế, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội và tạo niềm tin vững chắc trên thị trường.
29/04/2026 180

VIETTEL THẮNG LỚN VỚI HAI GIẢI THƯỞNG QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Bangkok, Thái Lan – Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel) giành hai giải thưởng quốc tế tại Giải thưởng Trách nhiệm xã hội và Phát triển bền vững toàn cầu (Global CSR & ESG Awards). Trong đó, dự án Internet Trường học của Viettel được vinh danh ở hạng mục giáo dục, còn Viettel IDC được trao giải cho các sáng kiến phát triển hạ tầng trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây theo hướng bền vững.
Xem tất cả
06/05/2026 143
Công ty xi măng Long Sơn tại phường Bỉm Sơn tỉnh Thanh Hóa, nơi được xem là vùng nguyên liệu tốt nhất Việt Nam để sản xuất xi măng, Long Sơn có 4 dây chuyền đồng bộ, hiện đại có tổng công suất hơn 10,5 triệu tấn/năm. Công ty Xi măng Long Sơn luôn cung cấp các dòng sản phẩm chất lượng cao và ổn định đáp ứng yêu cầu và làm hài lòng khách hàng trong nước cũng như quốc tế. Bằng việc hướng đến sản xuất xanh và không ngừng học hỏi ứng dụng chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất và kinh doanh đã tạo thành điểm tựa để Công ty Xi măng Long Sơn tiếp tục khẳng định vị thế, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội và tạo niềm tin vững chắc trên thị trường.
Xem chi tiết
21/04/2026 413
Thanh Hóa đang khẩn trương hoàn tất các điều kiện để tổ chức Lễ hội Đền thờ Lê Hoàn năm 2026, kỷ niệm 1021 năm ngày mất Anh hùng dân tộc Lê Đại Hành Hoàng đế (1005–2026), dự kiến diễn ra từ ngày 22 đến 24/4/2026 tại xã Xuân Lập, tỉnh Thanh Hoá
Xem chi tiết
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả