Nguyễn Thành Trí
Trường Đại học Công nghiệp Thành Phố Hồ Chí Minh-Phân hiệu Quảng Ngãi
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, việc tạo ra những đột phá trong thể chế kinh tế được xem là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Với những nguồn lực nội tại hiện có, cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế sẽ góp phần khai thác hiệu quả các tiềm năng, đồng thời tăng cường khả năng thích ứng của nền kinh tế trước các cơ hội và thách thức mới. Do đó, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy phát triển, xây dựng tầm nhìn dài hạn và thực hiện các hành động quyết liệt, đồng bộ để tận dụng kịp thời các cơ hội trong giai đoạn mới. Bài viết tập trung phân tích những kết quả đạt được cũng như các hạn chế trong quá trình đổi mới thể chế kinh tế thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính đột phá nhằm thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới.
Từ khoá: Cải cách thể chế kinh tế, Tăng trưởng và hội nhập, Việt Nam.
Abstract: In the context of increasingly deep globalization, creating breakthroughs in economic institutions is considered a crucial factor in enhancing the competitiveness of the Vietnamese economy and aiming for sustainable development. With existing domestic resources, reforming and improving economic institutions will contribute to effectively exploiting potential and strengthening the economy's adaptability to new opportunities and challenges. Therefore, Vietnam needs to continue to innovate its development thinking, build a long-term vision, and implement decisive and synchronized actions to promptly seize opportunities in the new period. This article focuses on analyzing the achievements as well as the limitations in the process of economic institutional reform in the past and proposes some breakthrough solutions to promote the improvement of economic institutions in Vietnam in the coming time.
Keywords: Economic institutional reform, Growth and integration, Vietnam.
1. GIỚI THIỆU
Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong cải cách thể chế kinh tế, góp phần nâng cao vị thế quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, cạnh tranh thương mại ngày càng gay gắt và tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, thể chế kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế. Hệ thống luật pháp và chính sách ở một số lĩnh vực chưa đồng bộ, môi trường đầu tư kinh doanh chưa thật sự minh bạch và thông thoáng, việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực còn kém hiệu quả. Bên cạnh đó, thể chế phát triển và điều phối kinh tế vùng còn thiếu rõ ràng, khiến liên kết vùng lỏng lẻo. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế ở Việt Nam.
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Kinh tế là nền tảng quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong những năm qua, tại Việt Nam, vấn đề tạo lập môi trường thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là cải cách thể chế kinh tế, đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lãnh đạo, nhà quản lý và giới học giả. Trần Quốc Toản (2024) cho rằng, tiến trình đổi mới từ Đại hội VI đến nay gắn liền với việc từng bước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Bên cạnh đó, Nguyễn Văn Thạo (2017) nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế nhằm phân bổ hiệu quả các nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển đồng bộ các loại thị trường và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (24/11/2024), Tổng Bí thư cũng khẳng định hoàn thiện thể chế và cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Nhìn chung, đổi mới thể chế kinh tế đã trở thành chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm trong nghiên cứu và hoạch định chính sách. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu toàn diện, mang tính hệ thống về đột phá thể chế kinh tế ở Việt Nam vẫn còn hạn chế.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới thể chế quản lý kinh tế ở Việt Nam từ năm 1996 đến nay. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá thực trạng cải cách thể chế kinh tế trong thời gian qua, đồng thời đề xuất một số nội dung cần tiếp tục đổi mới và đột phá trong thời gian tới.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Nhận thức về thể chế và đột phá thể chế kinh tế
4.1.1. Nhận thức về thể chế
Hệ thống thể chế của một quốc gia bao gồm nhiều hợp phần như thể chế chính trị, kinh tế, xã hội và quan hệ quốc tế, trong đó thể chế kinh tế giữ vai trò nền tảng đối với sự phát triển. Theo Từ điển tiếng Việt, thể chế là hệ thống các quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi thành viên phải tuân thủ. Nhiều nghiên cứu hiện đại cũng cho rằng thể chế là tổng thể các quy tắc, cơ chế, quy trình và năng lực của các chủ thể tham gia trong xã hội, nhằm thiết lập trật tự và điều chỉnh các quan hệ giữa các bên.
Trên cơ sở đó, thể chế kinh tế có thể được hiểu là tổng thể các quy tắc, chuẩn mực, cơ chế và tổ chức điều chỉnh hoạt động kinh tế của một quốc gia. Nội hàm của thể chế kinh tế bao gồm ba yếu tố cơ bản: (i) hệ thống pháp luật và các quy tắc điều chỉnh quan hệ kinh tế (“luật chơi”); (ii) các chủ thể tham gia và quản lý hoạt động kinh tế như Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng (“người chơi”); và (iii) các cơ chế, quy trình, thủ tục vận hành các hoạt động kinh tế (“sân chơi”). Bên cạnh các quy định pháp luật, thể chế kinh tế còn bao gồm cơ chế quản lý, thủ tục hành chính, cơ chế cung ứng dịch vụ công và tổ chức bộ máy quản lý kinh tế.
4.1.2. Đột phá thể chế kinh tế
Trong thực tiễn phát triển, đột phá thể chế kinh tế được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế. Khi khoảng cách giữa thực tiễn phát triển và các quy định thể chế ngày càng gia tăng, việc đổi mới và hoàn thiện thể chế trở thành yêu cầu khách quan nhằm tạo động lực mới cho phát triển.
Đột phá thể chế kinh tế không chỉ là cải cách các quy định hiện hành mà còn hướng tới những thay đổi căn bản trong cơ chế vận hành nền kinh tế, khuôn khổ pháp lý, tổ chức quản lý và môi trường kinh doanh. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định hoàn thiện thể chế kinh tế là một trong ba đột phá chiến lược, giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển và chuyển đổi sang nền kinh tế số.
Việc thực hiện đột phá thể chế cần tập trung đồng bộ vào ba yếu tố cấu thành là “luật chơi”, “người chơi” và “sân chơi”, nhằm bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, phát huy quyền tự do kinh doanh, khuyến khích đổi mới sáng tạo và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Do đó, đột phá thể chế kinh tế là yêu cầu chiến lược nhằm giải phóng tiềm năng, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
4.2. Thực trạng cải cách thể chế kinh tế ở Việt Nam
4.2.1. Những kết quả đạt được
Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã từng bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới. Hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế không ngừng được hoàn thiện nhằm phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại và các cam kết quốc tế. Đại hội XIII của Đảng khẳng định các yếu tố thị trường và các loại thị trường từng bước được hình thành và phát triển đồng bộ; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt; hoạt động khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp ngày càng sôi động (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021) (Đảng, 2021). Bên cạnh đó, các khu vực kinh tế tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng hiệu quả hơn, trong đó kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện với nhiều đạo luật và nghị quyết được ban hành, góp phần tháo gỡ các rào cản thể chế, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, Chính phủ cũng triển khai nhiều giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và xử lý kịp thời các “điểm nghẽn” trong quá trình thực thi chính sách.
Nhờ những nỗ lực cải cách thể chế, nền kinh tế Việt Nam duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô, dự trữ ngoại hối và kim ngạch thương mại liên tục tăng, thu hút đầu tư nước ngoài được cải thiện, đời sống người lao động từng bước nâng cao. Thu nhập bình quân đầu người đã tăng mạnh so với thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới, góp phần đưa Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao trong những thập niên tới.
Theo Báo cáo của Bộ Tài Chính (2021) Bộ (2024), thực tế phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2011 đến nay cho thấy, Chính phủ đã kiên trì cải cách thể chế kinh tế thị trường theo hướng ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường hội nhập quốc tế đã mang đến cho Việt Nam một thể trạng kinh tế khoẻ mạnh hơn bao giờ hết: dự trữ ngoại hối ở mức cao (98,7 tỷ USD vào cuối năm 2023 và 110,5 tỷ USD khi kết thúc năm 2024); tỷ lệ nợ công trên GDP ở mức thấp (37% năm 2023, thấp hơn nhiều so với mức trần 60% Quốc hội đề ra). kim ngạch xuất, nhập khẩu liên tục năm sau cao hơn năm trước (11 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 715,55 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 14,4%; nhập khẩu tăng 16,4%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 24,31 tỷ USD) (Tổng cục thống kê, 2024) Tổng (2024).
4.2.2. Những hạn chế, tồn tại
Bên cạnh những kết quả đạt được, cải cách thể chế kinh tế ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Một trong những vấn đề nổi bật là tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật, đặc biệt giữa luật chung và luật chuyên ngành hoặc giữa các văn bản hướng dẫn thi hành. Điều này gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý nhà nước lẫn doanh nghiệp trong quá trình thực thi pháp luật, làm gia tăng chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh.
Chất lượng xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở một số lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; thủ tục hành chính còn phức tạp; một số quy định chi tiết ban hành chậm, làm hạn chế hiệu quả của chính sách và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Ngoài ra, cơ chế vận hành của một số thị trường còn thiếu đồng bộ, Nhà nước vẫn can thiệp trực tiếp vào cơ chế giá ở một số lĩnh vực, làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực theo cơ chế thị trường.
Việc bảo vệ quyền sở hữu và quyền lợi của nhà đầu tư trong một số trường hợp còn chưa rõ ràng; nhiều loại thị trường hiện đại phát triển chậm. Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của một bộ phận doanh nghiệp nhà nước còn thấp, tiến trình cổ phần hóa diễn ra chậm. Công tác tổ chức thực thi pháp luật và phân cấp quản lý kinh tế vẫn là khâu yếu, bộ máy hành chính còn cồng kềnh, gây trở ngại cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Những hạn chế trên cho thấy thể chế vẫn là một trong những “điểm nghẽn” quan trọng của quá trình phát triển, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế nhằm tạo môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
5. PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN
Để duy trì đà tăng trưởng và tạo bước bứt phá trong giai đoạn tới, đặc biệt nhằm hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2025 theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, việc đẩy mạnh cải cách và đột phá thể chế kinh tế là yêu cầu cấp thiết. Trên cơ sở đó, cần tập trung triển khai một số định hướng giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, đổi mới tư duy trong xây dựng và thực thi thể chế kinh tế. Cần sớm hoàn thiện các nghị quyết và định hướng chiến lược về phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đội ngũ cán bộ, công chức cần thống nhất nhận thức, chuyển từ tư duy quản lý mang tính mệnh lệnh hành chính sang tư duy quản trị kiến tạo phát triển, khuyến khích đổi mới sáng tạo và giải phóng các nguồn lực cho phát triển.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế. Cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống luật pháp, chiến lược và quy hoạch phát triển nhằm nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Điều này bao gồm việc phát triển đồng bộ các loại thị trường, cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh, tăng cường kỷ luật tài khóa và xây dựng khung pháp lý thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và các mô hình kinh doanh mới, đồng thời bảo đảm phù hợp với các cam kết hội nhập quốc tế.
Thứ ba, nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành pháp luật. Cần tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp theo hướng minh bạch, khoa học và hiệu quả; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan soạn thảo, thẩm tra và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách, qua đó bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thực tiễn phát triển.
Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý kinh tế. Hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp chính quyền, tăng quyền chủ động cho Chính phủ và chính quyền địa phương trong quản lý và điều hành kinh tế. Việc phân cấp cần gắn với bảo đảm nguồn lực thực hiện và khắc phục tình trạng phân quyền hình thức nhưng vẫn phụ thuộc vào cấp trên.
Thứ năm, tiếp tục cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước.
Đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và cơ chế “một cửa” trong giải quyết thủ tục đầu tư kinh doanh. Đồng thời, thực hiện tinh gọn bộ máy hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm bảo đảm bộ máy quản lý nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp.
Thứ sáu, phát huy vai trò của các khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Tiếp tục triển khai các chính sách thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước thông qua cơ cấu lại, tăng cường quản trị hiện đại, thúc đẩy đổi mới công nghệ và xử lý nghiêm các trường hợp gây thất thoát, lãng phí trong quá trình cổ phần hóa và quản lý vốn nhà nước.
Nhìn chung, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần tạo bước đột phá trong hoàn thiện thể chế kinh tế, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
6. KẾT LUẬN
Từ năm 1986, Việt Nam đã triển khai công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới thể chế kinh tế giữ vai trò trọng tâm. Một trong những thành tựu nổi bật là việc hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển và mở rộng hội nhập quốc tế, qua đó từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới cho thấy quá trình cải cách thể chế đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trong tư duy quản lý và phương thức điều hành nền kinh tế, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh và cạnh tranh ngày càng gia tăng, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới và tạo đột phá trong hoàn thiện thể chế kinh tế, nhằm phát huy các nguồn lực phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Tài chính. (2024). Báo cáo tại Hội nghị tổng kết công tác tài chính-NSNN năm 2023. Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
Nguyễn Văn Thạo. (2017). Một số vấn đề cần cấp thiết đổi mới trong thể chế kinh tế ở nước ta hiện nay. Tạp chí Cộng sản
Truy cập ngày 07/12/2025 https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/45369/mot-so-van-de-can-cap-thiet-doi-moi-trong-the-che-kinh-te-o-nuoc-ta-hien-nay.aspx.
Tổng cục thống kế. (2024). Thông cáo báo chí tình hình lao động việc làm quý I năm 2024.
Trần Quốc Toản. (2024). Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn phát triển mới (phần 1). Học Viện Chính trị Công An nhân dân. Truy cập ngày 07/12/2025 https://hvctcand.bocongan.gov.vn/xay-dung-va-hoan-thien-the-che-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-trong-giai-doan-phat-trien-moi-phan-5286.