CHỦ ĐỘNG NHẬN DIỆN - KIÊN QUYẾT PHẢN BÁC: NÂNG CAO “SỨC ĐỀ KHÁNG TƯ TƯỞNG” CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ Ở MIỀN NÚI TRONG KỶ NGUYÊN SỐ - TỪ THỰC TIỄN GIẢNG DẠY TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH TUYÊN QUANG

11/04/2026 - 15:23      267 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Vũ Thùy Linh

Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, các thế lực thù địch gia tăng sử dụng không gian mạng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt nhắm vào đội ngũ cán bộ cơ sở ở miền núi. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc chủ động nhận diện - kiên quyết phản bác “nâng cao sức đề kháng tư tưởng”, đề xuất mô hình và hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực nhận diện và phản bác thông tin sai trái cho đội ngũ cán bộ cơ sở thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang. Những giá trị khoa học từ nghiên cứu là kháng thể tự nhiên, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số.

Từ khóa: Sức đề kháng tư tưởng; cán bộ cơ sở; miền núi; kỷ nguyên số; Trường chính trị Tuyên Quang.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, khi tư tưởng dễ bị lung lay bởi sức mạnh công nghệ, công tác chính trị - tư tưởng thực sự đã phải đối mặt với những biến đổi chưa từng có, thực tế đòi hỏi sự nhạy bén và năng lực phản ứng nhanh của đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung và cán bộ cơ sở miền núi nói riêng trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng với phương thức ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Như đã chỉ rõ, chúng “đặc biệt sử dụng internet và truyền thông xã hội để chống phá” [4, tr 2].

Không chỉ dừng lại ở việc xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, các thế lực thù địch còn tập trung “phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam” [4, tr2]. Điều này trực tiếp tác động đến nhận thức, niềm tin và bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở.

Đối với các tỉnh miền núi như Tuyên Quang, đội ngũ cán bộ cơ sở giữ vai trò then chốt trong việc tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên, do đặc thù địa bàn rộng, dân cư phân tán, trình độ không đồng đều, khả năng tiếp cận thông tin chính thống còn hạn chế, nên đây cũng là đối tượng dễ bị tác động bởi các luồng thông tin sai lệch. Một bộ phận cán bộ có biểu hiện dao động, giảm sút niềm tin, “phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa” [2, tr 7].

Trong bối cảnh đó, “sức đề kháng tư tưởng” của người cán bộ cơ sở ở miền núi phải được rèn rũa thành năng lực thực chiến: vừa tinh tường thực địa để bám dân, vừa am tường mạng xã hội để hiểu những thủ đoạn xuyên tạc tinh vi.

Từ thực tiễn giảng dạy tại Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang, bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của vấn đề; qua đó làm nền tảng cho việc đề xuất các giải pháp chủ động nhận diện - kiên quyết phản bác, nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” cho đội ngũ cán bộ cơ sở ở miền núi trong kỷ nguyên số.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh chủ nghĩa Mác - Lênin là “cẩm nang thần kỳ” và “kim chỉ nam” cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam[3, tr 3]. Điều đó cho thấy, nền tảng của “sức đề kháng tư tưởng” chính là tri thức lý luận vững chắc.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: Kiên định và bảo vệ nền tảng tư tưởng luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sống còn trong mọi giai đoạn lãnh đạo của Đảng ta. Nghị quyết số 35-NQ/TW khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và lợi ích quốc gia, dân tộc” [4, tr 1]. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để xác định nội dung và yêu cầu nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” trong tình hình mới.

Về phương diện lý luận, “sức đề kháng tư tưởng” có thể được hiểu là khả năng tự bảo vệ của chủ thể trước các tác động tiêu cực về tư tưởng. Khái niệm này bao gồm ba thành tố cơ bản:

Nhận thức đúng đắn

Niềm tin chính trị vững chắc

Phản bác sắc bén

Ba thành tố này không tồn tại biệt lập mà đan bện vào nhau trong một chỉnh thể biện chứng, tạo nên cấu trúc 'kiềng ba chân' vững chãi. 

Theo quan điểm của Đảng, công tác giáo dục lý luận chính trị phải không ngừng đổi mới về nội dung và phương thức, gắn với thực tiễn và yêu cầu của thời đại. Thực tế này đặt lên vai các đơn vị đào tạo, đặc biệt là Trường Chính trị tỉnh, sứ mệnh của một “lò luyện” bản lĩnh; nơi không chỉ cung cấp tri thức lý luận mà còn phải ươm mầm những chiến sĩ chính trị có tư duy sắc bén và khả năng miễn nhiễm trước mọi độc tố tư tưởng.

2.2. Cơ sở thực tiễn

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, có đặc điểm kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, khoảng 72% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng chính là sức mạnh nội sinh được kết tinh từ 46 cộng đồng dân tộc khác nhau. Đây chính là nền tảng cốt lõi tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Theo số liệu tổng hợp từ Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2021 - 2025, nhà trường đã đào tạo, bồi dưỡng trên 3.500 lượt cán bộ cơ sở. Trong đó, tỷ lệ học viên có khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn đạt khoảng 65%, song năng lực nhận diện và phản bác thông tin sai trái trên mạng xã hội tỷ lệ không cao.

Bên cạnh đó, một số hạn chế nổi lên: Một bộ phận cán bộ còn thụ động trong học tập lý luận; kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin chưa cao; khả năng phản bác các quan điểm sai trái còn lúng túng.

Đáng quan ngại hơn, hoạt động chống phá của các phần tử phản động đang có sự chuyển hướng về phương thức và gia tăng về cường độ. Chúng triệt để lợi dụng các kẽ hở thông tin để kích động tư tưởng hoài nghi, thực hiện thủ đoạn “mưa dầm thấm lâu” nhằm xói mòn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và mưu toan xóa bỏ những giá trị thực tiễn mà chế độ ta đã đạt được. Những đặc thù về tôn giáo và dân tộc tại địa bàn miền núi thường bị khai thác làm công cụ để các đối tượng này kích động tâm lý ly khai, làm rạn nứt tinh thần dân tộc.

Từ thực tiễn giảng dạy tại Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang, có thể nhận thấy rằng: nếu không kịp thời nâng cao “sức đề kháng tư tưởng”, đội ngũ cán bộ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc giữ vững bản lĩnh chính trị và thực hiện nhiệm vụ tại cơ sở. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường thảo luận tình huống, lồng ghép nội dung đấu tranh phản bác vào bài giảng đã bước đầu nâng cao nhận thức và kỹ năng cho học viên.

2.3. Thực trạng và nguyên nhân

2.3.1. Thực trạng

Từ thực tiễn giảng dạy và khảo sát tại Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang, có thể khái quát thực trạng “sức đề kháng tư tưởng” của đội ngũ cán bộ cơ sở miền núi trên một số phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất, về phương diện tư tưởng - nhận thức. Phần lớn đội ngũ cán bộ cấp cơ sở đã được tôi luyện qua những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo nên một khối nền tri thức vững chãi về hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Tuy nhiên, mức độ tiếp thu và vận dụng còn chưa đồng đều. Một bộ phận cán bộ vẫn mang tính học tập hình thức, thiên về hoàn thành tiêu chuẩn bằng cấp hơn là nâng cao năng lực thực tiễn. Việc chưa nắm bắt thấu đáo các giá trị khoa học và tinh thần cách mạng cốt lõi trong hệ tư tưởng của Đảng đã vô hình trung tạo ra những lỗ hổng trong bản lĩnh chính trị, khiến một bộ phận cán bộ, đảng viên còn lúng túng, thiếu sức đề kháng trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trong khi đó, như đã khẳng định, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đòi hỏi phải nắm vững và vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn[2, tr 7].

Thứ hai, về niềm tin chính trị. Dù lòng trung thành với Đảng vẫn là dòng máu nóng trong huyết quản của đa số cán bộ, nhưng sự bủa vây của các nguồn tin không chính thống đang tạo ra những nhiễu động tâm lý đáng báo động. Một số trường hợp còn xuất hiện tâm lý hoài nghi, thiếu kiên định. Như đã chỉ ra, có tình trạng “phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hoang mang, dao động, giảm sút niềm tin” [2, tr 7]. Từ việc hiểu chưa sâu bản chất khoa học và cách mạng của nền tảng tư tưởng của Đảng dẫn đến khả năng “miễn dịch” trước các thông tin sai trái, thù địch hạn chế.

Thứ ba, về phương diện đấu tranh - phản bác. Đây là khâu yếu nhất trong “sức đề kháng tư tưởng” của cán bộ cơ sở hiện nay. Nhiều cán bộ chưa có kỹ năng phân biệt thông tin, kiểm chứng nguồn tin hoặc phân tích nội dung thông tin. Khi gặp các luận điệu xuyên tạc, cán bộ thường lúng túng, né tránh hoặc phản ứng mang tính cảm tính, nói và làm cho “qua chuyện”. Trong khi đó, các thế lực thù địch ngày càng gia tăng các hoạt động xuyên tạc, phủ nhận thành tựu, kích động chống đối[1, tr 2], đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực đấu tranh tư tưởng của cán bộ.

Thứ tư, về năng lực sử dụng công nghệ số. Sự chủ động cập nhật tri thức công nghệ đã trở thành nhu cầu tự thân và nhiệm vụ tự giác của đội ngũ cán bộ cơ sở nhằm tối ưu hóa hiệu quả thực thi nhiệm vụ trong không gian số. Dù vậy, đối với đội ngũ cán bộ miền núi, kỹ năng sử dụng công nghệ vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra. Thực tế, việc sử dụng mạng xã hội chủ yếu vẫn là phục vụ nhu cầu cá nhân, chưa được khai thác hiệu quả trong công tác tuyên truyền, định hướng dư luận và đấu tranh phản bác thông tin sai trái. Lỗ hổng này đang trực tiếp làm suy giảm sức chiến đấu của công tác tư tưởng ở cơ sở hiện nay.

2.3.2. Nguyên nhân

Thực trạng trên là hệ quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân, trong đó sự tương tác giữa các yếu tố khách quan và chủ quan đã tạo nên những rào cản phức tạp có thể kể đến như:

Một là, tác động từ môi trường thông tin số. Với đặc tính lan tỏa không giới hạn môi trường thông tin số đã mở ra dư địa tiếp cận thông tin khổng lồ, đồng thời cũng trở thành mảnh đất màu mỡ cho các dòng thác tin giả và quan điểm lệch lạc xâm nhập. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng môi trường này biến nó thành một “chiến trường không khói súng”, nơi bọn chúng có thể tận dụng tối đa ưu thế của Internet và mạng xã hội làm bàn đạp tấn công. Mục tiêu của chúng không gì khác ngoài việc gieo rắc sự hoài nghi để công phá trực diện vào thành trì tâm lý và làm biến dạng nhận thức của đội ngũ cán bộ.

Hai là, nội dung và phương pháp giáo dục lý luận vẫn còn chưa thực sự đổi mới toàn diện. Qua khảo sát, một số bài giảng lý luận chính trị vẫn còn nặng tính sách vở, sự truyền đạt thiếu đi tính tương tác đa chiều; đặc biệt là chưa khỏa lấp được khoảng cách giữa những nguyên lý lý luận thuần túy với hơi thở thực tiễn sinh động. Nội dung giảng dạy đôi khi chưa cập nhật kịp thời các vấn đề mới phát sinh trong đời sống xã hội, đặc biệt là các vấn đề trên không gian mạng biến động hàng ngày, hàng giờ khiến hiệu quả giáo dục tư tưởng dừng lại ở mức lý thuyết suông.

Ba là, bản thân cán bộ chưa chủ động tự học, tự rèn luyện. Một số cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc nâng cao “sức đề kháng tư tưởng”, còn chủ quan, thiếu tự giác trong học tập và rèn luyện. Để “ngọn đèn tư tưởng” đủ sức xuyên thấu không gian mạng, mỗi cán bộ phải là một chiến sĩ số tinh nhuệ.

Bốn là, đặc thù địa hình, điều kiện tự nhiên còn khó khăn chưa đồng nhất về nền tảng công nghệ cộng thêm những khó khăn về kinh tế đã vô hình chung làm chậm nhịp độ lan tỏa tư tưởng, gây khó khăn cho cả người dân lẫn cán bộ trong việc truyền thụ thông tin giữa môi trường số.

Như vậy, thực trạng và nguyên nhân nêu trên cho thấy việc chủ động nhận diện - kiên quyết phản bác, nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” cho đội ngũ cán bộ cơ sở miền núi là nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, toàn diện và phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương.

2.4. Tình huống thực tiễn và cách xử lý

Trong bối cảnh thông tin đa chiều trên không gian mạng, cán bộ cơ sở thường xuyên phải đối mặt với các tình huống phức tạp liên quan đến thông tin sai lệch, xuyên tạc. Việc xử lý hiệu quả các tình huống này không chỉ thể hiện năng lực cá nhân mà còn phản ánh tinh thần chủ động nhận diện - kiên quyết phản bác, nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” của đội ngũ cán bộ. Xin được đưa ra một số tình huống có thể xảy ra trong thực tiễn và phương pháp xử lý mang tính tham khảo cho cán bộ cơ sở như sau:

Tình huống 1: Đối với xã biên giới A - khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong hệ thống an ninh dân tộc và chủ quyền lãnh thổ. Khi thực hiện chi trả chính sách cho nhân dân, một cán bộ xã tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội cho rằng “chính sách dân tộc của Nhà nước chỉ mang tính hình thức…”, bài viết có nhiều bình luận và được chia sẻ. Từ đó ảnh khiến người dân hoài nghi, hiệu ứng mất niềm tin theo đám đông.

Cách xử lý: Trước hết, cán bộ cần kiểm chứng nguồn tin, xác định tính xác thực và mức độ tin cậy của thông tin. Để không trở thành mục tiêu bị dẫn dắt bởi những kịch bản truyền thông đen, cán bộ cơ sở phải làm chủ được kỹ năng phân tích độc lập. Việc soi chiếu thông tin qua “hệ quy chiếu” chính sách dân tộc của Nhà nước chính là cách chúng ta tạo ra cơ sở pháp lý và chính trị đúng đắn. Đồng thời, cán bộ cần trực tiếp xuống địa bàn, lắng nghe tâm tư của những người thụ hưởng chính sách, dùng những kết quả đạt được trong xóa đói giảm nghèo, phát triển hạ tầng, nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, để phản bác các luận điệu sai trái. Chủ động định hướng dư luận thông qua công tác tuyên truyền trực diện. Việc xử lý kịp thời, không để khoảng trống thông tin chính là phương thức đấu tranh hiệu quả nhất trước những âm mưu chống phá tinh vi.

Tình huống 2: Trên địa bàn xã xuất hiện bài viết trên facebook xuyên tạc về một dự án “doanh nghiệp tham gia cải tạo vườn tạp của người dân”. Bài viết cho rằng dự án hình thức, lấy đất của dân…gây tâm lý hoang mang lan truyền.

Cách xử lý: Trong trường hợp này, cán bộ cần nhanh chóng cung cấp thông tin chính thống từ các cơ quan chức năng, bảo đảm tính minh bạch và kịp thời. Song hành với đó, việc duy trì cơ chế đối thoại trực diện giữa chính quyền và nhân dân là giải pháp thiết thực để tháo gỡ các nút thắt nhận thức, góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Bên cạnh đó, việc sử dụng mạng xã hội để lan tỏa thông tin đúng, phản bác thông tin sai lệch là rất cần thiết, góp phần ổn định dư luận. Cách tiếp cận này thể hiện rõ vai trò của cán bộ cơ sở trong việc định hướng thông tin, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở.

Những tình huống trên cho thấy, khi được trang bị đầy đủ tri thức và kỹ năng, cán bộ không chỉ có khả năng tự bảo vệ mình trước các tác động tiêu cực mà còn trở thành “lá chắn tư tưởng” vững chắc, góp phần bảo vệ cộng đồng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

2.5. Mô hình điểm - Hiệu quả thật

Từ thực tiễn giảng dạy tại Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang, việc đổi mới nội dung và phương thức đào tạo đã từng bước chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch. Trên cơ sở đó, một số mô hình sáng tạo đã được triển khai và mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” cho đội ngũ cán bộ cơ sở.

(1) Mô hình “Lớp học tình huống số”

Đây là mô hình lấy thực tiễn làm thước đo, được xây dựng thông qua việc đúc kết và mô phỏng trực diện các diễn biến phức tạp trên môi trường số.

Lập kịch bản thực tế: Giảng viên chủ động thiết kế các kịch bản giả định liên quan đến các vấn đề nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, hoặc các thông tin xuyên tạc về Đảng và Nhà nước.

Yêu cầu học viên: Tiếp nhận thông tin, tranh luận, thực chiến đề xuất giải pháp xử lý phù hợp.

Mục tiêu của mô hình: Yêu cầu học viên chuyển trạng thái từ nghe - chép sang tư duy - tác chiến. Thông qua mô hình này, học viên không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận tri thức lý luận mà còn được trực tiếp tôi luyện bản lĩnh, rèn luyện kỹ năng phản ứng nhanh và xử lý hiệu quả các tình huống chính trị phức tạp, cấp thiết ngay tại cơ sở. Mô hình này phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục lý luận gắn với thực tiễn [7, tr 12], nơi lý luận không còn là bóng hình xa xôi mà trở thành vũ khí sắc bén, bám sát và giải quyết hiệu quả những đòi hỏi gai góc từ cơ sở giúp nâng cao rõ rệt khả năng nhận diện và phản bác thông tin sai trái.

(2) Mô hình “Giảng viên - học viên đồng sáng tạo nội dung số”

Lập kịch bản thực tế: Lựa chọn chủ đề "nóng" Giảng viên và học viên cùng thảo luận để chọn ra một vấn đề đang bị các thế lực thù địch xuyên tạc hoặc một chủ đề lý luận khó tiếp cận.

Điểm mới của mô hình: Đây là một bước tiến từ tư duy giảng dạy truyền thống sang tư duy “cùng tác chiến” trên không gian mạng. Ở đây, mối quan hệ không còn là một chiều (truyền thụ) mà là cộng tác để tạo ra những “vũ khí tư tưởng” sắc bén. Giảng viên là người định hướng, học viên là người thực thi. Dưới sự hướng dẫn của giảng viên, học viên tham gia xây dựng các sản phẩm truyền thông như Video ngắn (TikTok/Shorts) để phản bác trực diện các luận điệu sai trái… Nội dung tập trung vào việc làm rõ các chủ trương của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái và lan tỏa thông tin tích cực.

Các sản phẩm này được đăng tải trên mạng xã hội công khai để đo lường phản ứng và khả năng “tấn công tư tưởng” của sản phẩm đó. Điều này phù hợp với quan điểm cho rằng công tác tư tưởng cần gắn chặt với thực tiễn và đời sống xã hội [5, tr 10].

Hiệu quả nổi bật của mô hình: là nâng cao tính chủ động, sáng tạo của học viên, xóa bỏ sự khô khan, biến những trang lý luận dày cộm thành những video 60 giây đầy sức nặng. Tạo kho dữ liệu số chính thống, chất lượng cao để toàn Đảng, toàn dân cùng sử dụng.

(3) Mô hình “Mỗi học viên là một tuyên truyền viên số”

Đây là mô hình mang tính cá nhân hóa, hướng tới việc biến mỗi học viên thành một “hạt nhân” trong công tác tuyên truyền.

Kịch bản mô hình: mỗi học viên được yêu cầu xây dựng ít nhất một sản phẩm truyền thông có nội dung đấu tranh phản bác thông tin sai trái, gắn với nhiệm vụ công tác tại địa phương.

Yêu cầu mô hình: Học viên chia sẻ định kỳ các câu chuyện "người tốt việc tốt", thành tựu phát triển kinh tế - xã hội để thu hẹp không gian hoạt động của tin giả. Khi gặp thông tin xuyên tạc, không im lặng mà thực hiện: Bình luận trực diện (với lý luận sắc sảo) -> Báo cáo xấu (Report) -> Cung cấp thông tin đối chứng. Hình thành các nhóm tác chiến số giữa các học viên để cùng "đẩy" các bài viết tích cực lên xu hướng.

Hiệu quả của mô hình: Mô hình làm tăng tính chủ động, tính chiến đấu và độ lan tỏa cao.

2.6. Giải pháp chủ động nhận diện - kiên quyết phản bác, nâng cao “sức đề kháng tư tưởng”

Trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng chống phá trên không gian mạng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, việc chủ động nhận diện - kiên quyết phản bác, nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” cho đội ngũ cán bộ cơ sở miền núi cần được triển khai đồng bộ, toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục lý luận, đổi mới phương pháp đào tạo, ứng dụng công nghệ số và phát huy vai trò tự rèn luyện của mỗi cán bộ. Yêu cầu trên không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài nhằm giữ vững trận địa chính trị trong kỷ nguyên số. bởi bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân [4, tr 2]. Sau đây là những kiến nghị chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả tác chiến trên mặt trận này:

2.6.1. Nhóm giải pháp về nhận thức - tư tưởng

Giáo dục lý luận không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt tri thức mà phải làm cho cán bộ hiểu đúng, hiểu sâu và tin tưởng vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Hồ Chí Minh đã từng khẳng định, lý luận cách mạng có vai trò định hướng và dẫn dắt thực tiễn, là cơ sở để cán bộ giữ vững lập trường, kiên định mục tiêu[3,tr3]. Do đó, củng cố nền tảng nhận thức lý luận chính là tiền đề cốt yếu để thiết lập “hàng rào miễn dịch” tự nhiên trước mọi tác động tiêu cực về tư tưởng.

Không dừng lại ở việc kế thừa, cần phải làm sống dậy bản chất khoa học và khát vọng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong bối cảnh mới. Phải chứng minh được rằng đây không phải là những giáo điều xơ cứng, mà là một học thuyết mở, luôn tràn đầy sức sống và là điểm tựa vững chãi nhất để chúng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Việc hiểu đúng bản chất này sẽ giúp cán bộ tránh được sự dao động trước các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận. Thực tiễn đã chứng minh rằng những thành tựu của cách mạng Việt Nam gắn liền với việc kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin[2,tr7].

Bên cạnh đó, cần khẳng định rõ giá trị thực tiễn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thành tựu đạt được trong hơn 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Như đã nhấn mạnh, con đường này phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và thực tiễn Việt Nam” [6, tr 5].

2.6.2. Nhóm giải pháp về nội dung và phương pháp đào tạo, trang bị kỹ năng số.

Nội dung đào tạo cần được thiết kế theo hướng gắn với thực tiễn địa phương, đặc biệt là các vấn đề nổi cộm ở miền núi như dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội. Cách tiếp cận này giúp người học đạt đến sự nhuần nhuyễn về lý luận, nhạy bén về thực tiễn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ chính trị.

Cùng với đổi mới nội dung, việc triển khai các phương pháp dạy học tích cực sẽ tạo ra môi trường học tập sôi nổi, giúp học viên rèn luyện bản lĩnh và kỹ năng bảo vệ quan điểm chính trị trước các tình huống phức tạp. Việc sử dụng các tình huống thực tiễn sẽ giúp học viên rèn luyện kỹ năng nhận diện và xử lý thông tin sai trái một cách hiệu quả. Biến mỗi bài giảng thành một trận địa tư tưởng.

Việc xây dựng các chương trình đào tạo trọng điểm nhằm chuẩn hóa năng lực ứng phó trên không gian mạng cho đội ngũ cán bộ là yêu cầu cấp thiết. Cán bộ không chỉ cần biết sử dụng mạng xã hội như một phương tiện truyền thông mà phải thành thục kỹ năng đối soát, phản bác tin sai sự thật, đảm bảo tính chính xác và kịp thời trong mọi tình huống.

Bên cạnh đó, việc thiết lập các hệ sinh thái đào tạo trực tuyến là giải pháp then chốt để xóa bỏ rào cản địa lý, tối ưu hóa cơ hội tiếp cận nguồn dữ liệu lý luận cho cán bộ. Các khóa học trực tuyến, thư viện số, diễn đàn trao đổi sẽ tạo điều kiện cho cán bộ học tập mọi lúc, mọi nơi. Điều này đặc biệt phù hợp với điều kiện miền núi, nơi việc tổ chức đào tạo tập trung còn gặp nhiều khó khăn. Điều này phù hợp với yêu cầu đổi mới phương thức tuyên truyền trong điều kiện mới. Như đã chỉ rõ, chúng không ngừng xuyên tạc, phủ nhận thành tựu, kích động chống đối [1, tr 2], do đó việc trang bị kỹ năng đấu tranh là hết sức cần thiết.

2.6.3. Nhóm giải pháp về kiểm tra giám sát, nâng cao năng lực tự rèn luyện

Phát huy vai trò của cấp ủy cơ sở là yếu tố quyết định. Các cấp ủy Đảng phải coi nhiệm vụ này là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong dòng chảy xây dựng Đảng.

Biến công tác kiểm tra, giám sát thành một tấm gương soi thường trực, buộc mỗi cán bộ cơ sở phải tự soi, tự sửa, đảm bảo mọi hành động và phát ngôn đều chuẩn mực. Song hành với đó, cần xây dựng cơ chế bảo vệ và khích lệ những tấm gương điển hình, tạo hiệu ứng lan tỏa trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch.

Tại địa bàn miền núi vốn còn nhiều thiếu thốn về vật chất, việc rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng chính là cách để cán bộ không bị xao động trước áp lực sinh kế hay sự tấn công tâm lý của các thế lực xấu. Đó là sự kiên định của những cầu nối huyết mạch tư tưởng nơi tiền tiêu, lấy lợi ích của nhân dân và sự bình yên của quê hương làm thước đo cho sự trung kiên của mình. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, cán bộ phải vững vàng về tư tưởng, kiên định về lập trường[8, tr 118].

3. Kết luận

Củng cố bản lĩnh tư tưởng, chủ động nhận diện - kiên quyết phản bác, “nâng cao sức đề kháng tư tưởng” cho cán bộ cơ sở tại địa bàn chiến lược miền núi hiện là nhiệm vụ trọng yếu trong kỷ nguyên số.

Thực tiễn tại Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang cho thấy: Thông qua quá trình đào tạo chuẩn hóa, đội ngũ cán bộ không chỉ là người thực thi nhiệm vụ mà còn chuyển hóa thành lực lượng xung kích đặc biệt. Bảo vệ nền tảng tư tưởng không là “đặc quyền” hay nhiệm vụ riêng lẻ của bất kỳ ngành nào; đó là trách nhiệm chung, là nghĩa vụ chính trị hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành và mỗi cán bộ, đảng viên.

Do đó, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung và cán bộ cơ sở miền núi nói riêng có bản lĩnh vững vàng, đủ sức “miễn dịch” trước mọi tác động tiêu cực của kỷ nguyên số đang phát triển như vũ bão.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tuyên giáo Trung ương. (2020). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

2. Vũ Hoàng Công. (2020). Chân lý và sự thật. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Nguyễn Thị Xuyên. (2025). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh (Tóm tắt luận án tiến sĩ). Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

4. Bộ Chính trị. (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

5. Nguyễn Phú Trọng. (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

8. Hồ Chí Minh. (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 14). Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Tiêu điểm
Tiêu điểm
24/06/2026 101

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba ( tỉnh Phú Thọ): Khoa học nâng tầm chuyên môn vì người bệnh

Trong bối cảnh y học hiện đại phát triển với tốc độ nhanh chóng, tri thức y khoa không ngừng được cập nhật và thay đổi, việc học tập liên tục không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ, nhân viên y tế.
23/06/2026 122

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ): Không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, hướng tới xây dựng mô hình y tế thông minh trong chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho nhân dân

Trong tiến trình đổi mới toàn diện ngành y tế, việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ dừng lại ở mục tiêu điều trị hiệu quả mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống y tế hiện đại, chủ động và nhân văn. Tại tuyến cơ sở – nơi gần dân nhất, sát thực tế nhất – yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.
23/06/2026 137

BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH PHÚ THỌ – NƠI TỪNG BỮA ĂN TRỞ THÀNH ĐIỂM TỰA HỒI SINH SỨC KHỎE

Trong hệ thống y tế hiện đại, chất lượng khám chữa bệnh không chỉ được đo bằng trình độ chuyên môn hay trang thiết bị kỹ thuật, mà còn được đánh giá thông qua những yếu tố tưởng chừng giản dị nhưng có tác động sâu sắc – trong đó, an toàn thực phẩm giữ vai trò như một “trụ cột thầm lặng”.
19/06/2026 580

Phú Thọ: Trường THCS Văn Lang – điểm đến của những học sinh chất lượng cao trong toàn tỉnh

Kỳ kiểm tra đánh giá năng lực vào Trường THCS Văn Lang (phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) năm học 2026–2027 không chỉ là một kỳ tuyển sinh thông thường, mà còn là “thước đo vàng” phản ánh rõ nét chất lượng giáo dục của các trường và vị thế dẫn đầu của một đơn vị giáo dục trọng điểm.
Xem tất cả
23/06/2026 122
Trong tiến trình đổi mới toàn diện ngành y tế, việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ dừng lại ở mục tiêu điều trị hiệu quả mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống y tế hiện đại, chủ động và nhân văn. Tại tuyến cơ sở – nơi gần dân nhất, sát thực tế nhất – yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.
Xem chi tiết
19/06/2026 580
Kỳ kiểm tra đánh giá năng lực vào Trường THCS Văn Lang (phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) năm học 2026–2027 không chỉ là một kỳ tuyển sinh thông thường, mà còn là “thước đo vàng” phản ánh rõ nét chất lượng giáo dục của các trường và vị thế dẫn đầu của một đơn vị giáo dục trọng điểm.
Xem chi tiết
19/06/2026 618
Trong dòng chảy đổi mới mạnh mẽ của giáo dục đại học Việt Nam, khi yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở nên cấp thiết, việc lựa chọn một môi trường đào tạo vừa có chiều sâu học thuật, vừa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn sản xuất – kinh doanh trở thành mối quan tâm hàng đầu của thí sinh và phụ huynh.
Xem chi tiết
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả