ĐẢM BẢO CHUYỂN ĐỔI SỐ AN TOÀN TRONG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

25/05/2026 - 20:12      15 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Nguyễn Đức Khôi
Nguyễn Đức Khoa
Đại học Công Nghiệp Hà Nội

Nhận bài ngày 12/3/2026. Sửa chữa xong 20/5/2026. Duyệt đăng 25/5/2026.
Abstract
Digital transformation is an inevitable trend of development. Digital transformation is significantly altering the organization and operation of higher education. In the traditional classroom model, universities are increasingly applying many digital technology platforms, such as online learning, automatic learning outcome assessment systems, etc. However, without security measures, this process can lead to personal data leakage, system intrusion, interruption of teaching and learning, and even a crisis of trust in the education system. This article examines the necessity of ensuring digital transformation safety in higher education, considering both theoretical and practical legal aspects, and proposes several solutions to enhance digital safety in Vietnam's higher education system today. 
Keywords: Digital safety, digital transformation, digital safety in higher education.

1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số trong đào tạo đại học không chỉ là quá trình chuyển đổi cách dạy, cách học từ trực tiếp sang trực tuyến. Chuyển đổi số trong đào tạo đại học thực chất là sự thay đổi cách vận hành của hoạt động đào tạo trên bốn nội dung: giảng dạy, học tập, nghiên cứu và quản lý đào tạo. Trên cơ sở hệ thống dữ liệu số và sử dụng các ứng dụng công nghệ, hoạt động đào tạo đại học trở nên thuận lợi hơn, nhanh chóng và hiệu quả hơn đào tạo truyền thống.  Chuyển đổi số đang là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền giáo dục đại học. Trong những năm gần đây, nhiều cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam đã tích cực triển khai các hoạt động chuyển đổi số, từ số hóa tài liệu học tập, tổ chức giảng dạy trực tuyến đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản lý đào tạo, kiểm định chất lượng và hỗ trợ người học. Tuy nhiên, cùng với những cơ hội to lớn mà chuyển đổi số mang lại, hoạt động này cũng đặt ra những thách thức đáng kể về an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm vận hành hệ thống công nghệ số ổn định, minh bạch và đáng tin cậy. Ngày nay, yêu cầu bảo đảm an toàn chuyển đổi số trong giáo dục đại học không chỉ là vấn đề kỹ thuật công nghệ, mà còn là một nội dung quan trọng trong quản trị đại học, gắn với chiến lược phát triển, năng lực thể chế, nguồn lực con người và khuôn khổ pháp lý. Việc thiếu các biện pháp bảo đảm an toàn đầy đủ có thể dẫn đến rủi ro rò rỉ thông tin, gián đoạn hệ thống đào tạo, thậm chí làm suy giảm niềm tin vào quá trình chuyển đổi số trong toàn hệ thống giáo dục.
2. Nội dung
2.1. Sự cần thiết trong việc đảm bảo an toàn chuyển đổi số trong đào tạo đại học
2.1.1. Bảo vệ dữ liệu cá nhân và thông tin của người học và giảng viên
Dữ liệu cá nhân của người học và giảng viên bao gồm thông tin định danh, dữ liệu học tập, tài khoản truy cập hệ thống, cũng như các tương tác học thuật – vốn là những thông tin nhạy cảm. Nếu bị rò rỉ có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như xâm phạm quyền riêng tư, lừa đảo, hay thậm chí bị khai thác trái phép cho mục đích thương mại hoặc chính trị. Trong môi trường số, nơi mọi hoạt động học tập, quản lý và giảng dạy đều thông qua nền tảng trực tuyến, mức độ rủi ro bị tấn công mạng, đánh cắp dữ liệu hay bị khai thác trái phép tăng cao. Việc chưa có hệ thống bảo mật đầy đủ, quy trình quản lý dữ liệu chặt chẽ và nhận thức đúng đắn của các chủ thể trong cơ sở đào tạo sẽ khiến chuyển đổi số trở thành một con dao hai lưỡi – vừa mở rộng cơ hội tiếp cận, vừa đặt người học và giảng viên vào nguy cơ bị xâm phạm quyền riêng tư. Do đó, đảm bảo an toàn thông tin, đặc biệt là bảo vệ dữ liệu cá nhân, không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là yêu cầu pháp lý và đạo đức, đặt nền tảng cho một môi trường giáo dục số an toàn [3].
2.1.2. Ngăn ngừa các cuộc tấn công mạng làm ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy và quản lý
Hệ thống quản lý đào tạo, học liệu điện tử, lớp học trực tuyến và cơ sở dữ liệu sinh viên và giảng viên đều phụ thuộc vào hạ tầng số. Khi xảy ra các cuộc xâm nhập hoặc tấn công mạng, không chỉ các hoạt động giảng dạy bị gián đoạn mà còn tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ dữ liệu cá nhân, hoặc phá hủy hệ thống quản trị học tập, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và hoạt động của cơ sở giáo dục. Đặc biệt, trong bối cảnh các trường đại học ngày càng phụ thuộc vào hệ thống thông tin số, việc thiếu biện pháp an toàn sẽ khiến toàn bộ quá trình vận hành bị tê liệt khi gặp sự cố. Do đó, đảm bảo an toàn an ninh mạng không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là yếu tố sống còn đối với sự ổn định và phát triển bền vững trong chuyển đổi số giáo dục đại học.
2.1.3. Đảm bảo tính toàn vẹn và chính xác của dữ liệu học thuật và quản trị 
Dữ liệu học thuật – bao gồm điểm số, kết quả nghiên cứu, luận văn, bài báo khoa học…  không chỉ là cơ sở để đánh giá chất lượng đào tạo và nghiên cứu mà còn là tài sản trí tuệ quý giá của giảng viên, sinh viên và nhà trường. Bên cạnh đó, dữ liệu quản trị như thông tin sinh viên, cán bộ, tài chính, nhân sự, kế hoạch đào tạo... đóng vai trò nền tảng trong việc hoạch định chính sách, ra quyết định và quản lý điều hành. Nếu các dữ liệu này bị sai lệch, thất lạc, bị truy cập trái phép hoặc thao túng, hậu quả không chỉ là gián đoạn hoạt động học thuật – hành chính mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, chất lượng và sự phát triển bền vững của cơ sở giáo dục. Việc đảm bảo an toàn thông tin, bảo mật hệ thống, phân quyền truy cập hợp lý và triển khai các biện pháp bảo vệ dữ liệu hiệu quả là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi số trong giáo dục đại học diễn ra minh bạch và đáng tin cậy.
2.1.4. Tăng cường niềm tin của người học và xã hội đối với hệ sinh thái số của nhà trường 
Ngày nay, các hoạt động đào tạo, kiểm tra, đánh giá, lưu trữ dữ liệu học tập và thông tin cá nhân đều được thực hiện trên nền tảng số, bất kỳ lỗ hổng nào trong bảo mật hoặc sự cố về kỹ thuật cũng có thể làm suy giảm nghiêm trọng lòng tin của người học và cộng đồng vào chất lượng và tính minh bạch của nhà trường. Niềm tin không chỉ là nền tảng để người học yên tâm tham gia vào môi trường học tập số, mà còn là điều kiện để xã hội nhìn nhận giáo dục đại học chuyển đổi số như một mô hình phát triển bền vững và đáng tin cậy. Đảm bảo an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và phòng ngừa rủi ro an ninh mạng không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm duy trì và củng cố uy tín của nhà trường trong kỷ nguyên số.
2.1.5. Đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về đổi mới giáo dục
Các chuẩn mực quốc tế như chuẩn CDIO, AUN-QA hay các khuyến nghị của UNESCO nhấn mạnh đến vai trò của công nghệ số trong nâng cao chất lượng giáo dục, năng lực số của người học; và tính minh bạch, hiệu quả trong quản trị đại học. Tuy nhiên, để thực sự đạt được các tiêu chuẩn này, yếu tố an toàn trong chuyển đổi số trở nên đặc biệt quan trọng. Việc bảo vệ dữ liệu cá nhân của sinh viên, đảm bảo tính toàn vẹn của hệ thống quản lý đào tạo, phòng ngừa các rủi ro an ninh mạng và bảo mật thông tin… là điều kiện tiên quyết để duy trì sự tin cậy và liên kết quốc tế. Nếu bỏ qua yếu tố an toàn, chuyển đổi số không chỉ tiềm ẩn nguy cơ thất bại mà còn có thể gây tổn hại đến uy tín học thuật và quyền lợi của người học, của các nhà nghiên cứu trong các cơ sở đào tạo.
2.1.6. Tuân thủ pháp luật và chính sách quốc gia về an ninh mạng và dữ liệu số 
Nghị định 53/2022/NĐ-CP về an toàn thông tin và Luật An toàn thông tin mạng 2015 là những khung pháp lý quan trọng yêu cầu các tổ chức có hệ thống thông tin phải bảo đảm an toàn theo cấp độ. Trong bối cảnh các cơ sở giáo dục ngày càng phụ thuộc vào nền tảng số để triển khai giảng dạy, quản lý và nghiên cứu khoa học, việc vi phạm các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, lưu trữ thông tin người học hay an toàn hệ thống có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, không chỉ về mặt pháp lý mà còn gây tổn hại đến uy tín, chất lượng đào tạo của nhà trường. Việc tuân thủ nghiêm ngặt những quy định này không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là điều kiện tiên quyết để xây dựng một môi trường học tập số an toàn, đáng tin cậy, bảo vệ quyền lợi của người học và uy tín của nhà trường trong thời đại chuyển đổi số [4].
2.2. Quy định pháp luật Việt Nam về an toàn trong chuyển đổi số
Trong thời đại Công nghệ số, vấn đề an ninh thông tin đã và đang là một vấn đề quan trọng, nhiệm vụ cấp bách đối với các quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Tầm quan trọng của an ninh, an toàn không gian số trong chuyển đổi quốc gia đã được khẳng định tại Hội thảo triển lãm quốc tế ngày An toàn thông tin Việt Nam (2020) với chủ đề “An toàn, an ninh mạng Make in Vietnam – Yếu tố then chốt trong chuyển đổi số quốc gia”, để có thể trở thành một quốc gia thịnh vượng, Việt Nam không chỉ phải chủ động trong việc phát triển khoa học - ứng dựng công nghệ, mà một điều quan trọng là cần phải xây dựng khung pháp lý đảm bảo an toàn cho hoạt động chuyển đổi số là yêu cầu cần thiết đối với mỗi quốc gia. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025) là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc đảm bảo an toàn thông tin cá nhân khi đặt ra quy định về nguyên tắc bất khả xâm phạm thông tin cá nhân và bí mật cá nhân, cụ thể tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi 2025 khẳng định: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”[1].
Dựa trên tinh thần đảm bảo thông tin bí mật cá nhân, các tiếp cận về an ninh số tại các văn bản luật cũng hướng đến bảo vệ thông tin và bí mật của cá nhân trên không gian mạng. Như quy định tại Điều 38 Bộ Luật dân sự năm 2015 đã khẳng định đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là một phạm trù bất khả xâm phạm. Hay tại Luật Giao dịch điện tử năm 2023 có quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, pháp luật về an toàn thông tin mạng, pháp luật về an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan khi thực hiện giao dịch điện tử”[2]. Ngoài ra tại Luật Giao dịch điện tử năm 2023 cũng quy định cụ thể những hành vi bị cấm khi tham gia giao dịch điện tử, một trong nhóm các hành vi xâm phạ thông tin bị cấm đó là: Thu thập, cung cấp, sử dụng, tiết lộ, hiển thị, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông điệp dữ liệu; Giả mạo, làm sai lệch hoặc xóa, hủy, sao chép, di chuyển trái pháp luật một phần hoặc toàn bộ thông điệp dữ liệu; Tạo ra thông điệp dữ liệu nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật
An ninh số không chỉ dừng lại trong việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm thông tin riêng tư, bí mật cá nhân, mà cần phải đảm bảo việc chia sẻ, khai thác thông tin trên không gian số. Năm 2015, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 được ban hành góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý theo hướng đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan, bảo đảm an toàn, phát triển thông tin mạng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong công tác thực thi quản lý nhà nước và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng của Việt Nam.
Ngoài ra, hoạt động chuyển đổi số cũng đặt ra vấn đề trong việc sao chép tác phẩm để sử dụng, cung cấp bài giảng online, cung cấp bản ghi âm, ghi hình… Những hoạt động này trực tiếp liên quan đến quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả - đối tượng được Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 bảo hộ. Việc đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ tên không gian số được quy định rất cụ thể trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về đối tượng bao hộ, căn cứ phát sinh hiệu lực, xác lập quyền và những quy định về chuyên giao quyền…
Tuy nhiên, công tác chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức về an ninh phi truyền thống khác, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý cụ thể điều chỉnh vấn đề này, cụ thể, Luật An ninh mạng số 24/2018/QH14 được thông qua ngày 12/06/2018 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019. Luật An ninh mạng năm 2018 được ban hành nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng. Luật An ninh mạng quy định rõ những hành vi bị cấm như: sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử...
Bên cạnh quy định về hoạt động khai thác sử dụng không gian mạng, pháp luật Việt Nam cũng đã xây dựng quy định về hình phạt xử lý những hành vi vi phạm trong hoạt động đảm bảo an ninh, an toàn không gian số. Như các quy định về xử phạt vi phạm hành chính với các hành vi vi phạm về tiết lộ thông tin các nhân được quy định cụ thể tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Đặc biệt, hành vi xâm hại thông tin cá nhân (tùy theo mức độ vi phạm) có thể được đánh giá là hành vi phạm tội mức độ nghiêm trọng, cụ thể là tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác được quy định cụ thể tại Điều 159 Bộ Luật hình sự năm 2015. 
Việc xây dựng khung pháp lý đảm bảo an toàn an ninh trong chuyển đổi số là nhiệm vụ song hành trong việc thúc đẩy công cuộc chuyển đổi số trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Là một trong tám lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong tiên khai thực hiện chuyển đổi số, được nêu cụ thể trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngay 03/06/2020, giáo dục và đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng cũng cần phải có những biện pháp để thích ứng với chuyển đổi số, đặc biệt là vận dụng khung pháp lý về đảm bảo an toàn số trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, tại Nghị quyết số 71-NQ/TW, Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo cũng đã đặt ra một trong những nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra là Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo. Tại Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia một lần nữa khẳng định chiến lược phát triển giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, đó là: “Xây dựng nền tảng giáo dục, đào tạo trực tuyến, mô hình giáo dục đại học số, nâng cao năng lực số trong xã hội”[6]
2.3. Đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn trong chuyển đổi số đào tạo
2.3.1. Xây dựng chiến lược chuyển đổi số gắn với an toàn thông tin
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, xây dựng hệ thống văn bản pháp luật và quy phạm nội bộ đầy đủ, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn. Việc ban hành chính sách phải được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng, khoa học, phản ánh đúng các rủi ro và yêu cầu bảo mật trong môi trường đào tạo số. Đặc biệt, cần xây dựng các quy định nội bộ về an toàn thông tin với nội dung cụ thể, rõ ràng. Những quy định này phải xác định nguyên tắc và quy trình sử dụng thiết bị cá nhân cũng như thiết bị của nhà trường khi truy cập vào các hệ thống như quản lý đào tạo, thư viện số hay nền tảng học trực tuyến. Đồng thời, cần quy định rõ cơ chế phân quyền, bảo mật tài khoản, yêu cầu về đặt mật khẩu an toàn, cảnh báo khi sử dụng thiết bị công cộng, và biện pháp xử lý vi phạm. Một hệ thống quy định chặt chẽ như vậy không chỉ giúp bảo vệ dữ liệu cá nhân của giảng viên và sinh viên, mà còn góp phần bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật của hệ thống đào tạo số, hạn chế nguy cơ rò rỉ thông tin, tấn công mạng và gian lận học tập.
2.3.2. Nâng cấp về hạ tầng công nghệ và trang thiết bị cho người học, người dạy và cơ sở đào tạo
Việc xây dựng một hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, ổn định và bảo mật cao là điều kiện tiên quyết để triển khai hiệu quả các hoạt động dạy và học trực tuyến. Cụ thể, cần đầu tư mạnh mẽ vào máy chủ chuyên dụng, hệ thống tường lửa (firewall), thiết bị sao lưu dữ liệu, giải pháp mã hóa thông tin nhằm bảo vệ dữ liệu học tập và thông tin cá nhân người học khỏi các nguy cơ rò rỉ, đánh cắp. Bên cạnh đó, việc triển khai nền tảng quản lý học tập (LMS) và quản lý nội dung (CMS) cần ưu tiên lựa chọn các hệ thống đạt tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thông tin. Đặc biệt, cần tích hợp các công cụ phát hiện và ngăn chặn xâm nhập (IDS/IPS) để theo dõi lưu lượng mạng, kịp thời phát hiện và vô hiệu hóa các hành vi tấn công mạng từ bên ngoài.
2.3.3. Áp dụng tiêu chuẩn và kiểm định an toàn thông tin
Việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế như ISO/IEC 27001 giúp các cơ sở đào tạo xây dựng hệ thống quản lý an toàn thông tin toàn diện, có cấu trúc và kiểm soát rõ ràng. Bên cạnh đó, cần thực hiện đánh giá rủi ro định kỳ, từ đó xác định các điểm yếu trong hệ thống và đưa ra biện pháp phòng ngừa phù hợp. Kiểm thử xâm nhập đóng vai trò như một công cụ mô phỏng các cuộc tấn công thực tế để đánh giá khả năng chịu đựng của hệ thống trước các nguy cơ mạng. Ngoài ra, sao lưu dữ liệu theo chu kỳ là yêu cầu thiết yếu nhằm bảo đảm tính sẵn sàng và khả năng phục hồi khi xảy ra sự cố, đảm bảo quá trình giảng dạy và học tập không bị gián đoạn. Sự kết hợp chặt chẽ giữa tiêu chuẩn, đánh giá và kiểm định sẽ tạo nên một hệ sinh thái đào tạo số an toàn, bền vững
2.3.4. Tăng cường hợp tác và chia sẻ nguồn lực số
Các trường nên xây dựng mô hình liên kết mang tính vĩ mô, như liên kết vùng, liên kết ngành với các cơ sở đào tạo đại học, các doanh nghiệp công nghệ, cơ quan nhà nước và tổ chức quốc tế Việc liên kết này giúp các cơ sở giáo dục tận dụng được hạ tầng kỹ thuật, công cụ hỗ trợ, dữ liệu số và các giải pháp bảo mật tiên tiến mà một mình từng trường khó có thể tự đầu tư hoặc triển khai hiệu quả. Mô hình liên kết vùng hoặc xây dựng các mạng lưới hợp tác về bảo đảm an toàn giáo dục số nên được mở rộng và nhân rộng nhằm tăng cường sức mạnh tổng thể của hệ thống. Bên cạnh đó, việc xây dựng và phát triển thư viện số đóng vai trò thiết yếu, không chỉ cung cấp kho tài liệu phong phú, phục vụ giảng dạy và học tập, mà còn góp phần bảo đảm an toàn thông tin thông qua kiểm soát quyền truy cập, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Các hoạt động như số hoá tài liệu, thuê quyền truy cập cơ sở dữ liệu số, liên kết thư viện và huy động đầu tư công – tư là cần thiết để phát triển hạ tầng tri thức số một cách bền vững và an toàn.
2.3.5. Nâng cao nhận thức và kỹ năng về an toàn số
Tổ chức tập huấn định kỳ cho giảng viên, sinh viên và nhân viên quản trị về cách sử dụng công nghệ an toàn, nhận biết các nguy cơ mạng. Việc tổ chức tập huấn định kỳ giúp các đối tượng này nắm vững kỹ năng sử dụng công nghệ một cách an toàn, nhận biết và phòng tránh các nguy cơ mạng phổ biến như lừa đảo, phần mềm độc hại, mã độc tống tiền... Đồng thời, nội dung “an toàn số” cần được tích hợp vào chương trình đào tạo chính khóa và ngoại khóa để tạo nền tảng nhận thức sớm và bền vững. Trên nền tảng đó, cần xây dựng văn hóa số trong nhà trường, không chỉ bao gồm năng lực công nghệ mà còn đề cao thái độ học tập tích cực, đạo đức học thuật, và tính tự giác trong sử dụng công nghệ. Chuyển đổi số không đơn thuần là thay đổi công cụ mà còn là thay đổi nhận thức – đặc biệt là ở hai chủ thể chính: người học và người dạy. Họ không chỉ cần thành thạo công nghệ mà còn phải chuyển biến trong tư duy và ý thức, đặt trọng tâm vào trách nhiệm và sự cẩn trọng khi tương tác trong môi trường số [5]. 
3. Kết luận
Chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đào tạo đại học trong việc thích ứng với bối cảnh công nghệ số hiện nay. Việc áp dụng công nghệ thông minh trong đào tạo đại học là mục tiêu mà mọi cơ sở đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng đều hướng tới. Tuy nhiên, quá trình này tiềm ẩn nhiều rủi ro về an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và đảm bảo chất lượng học tập. Vì vậy, việc bảo đảm an toàn trong chuyển đổi số không thể là nhiệm vụ đơn lẻ mà cần được lồng ghép một cách chiến lược, toàn diện trong chính sách và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động, linh hoạt và kiên định trong việc vừa đổi mới, vừa bảo đảm an toàn – đó chính là chìa khóa để chuyển đổi số thực sự phát huy hiệu quả, góp phần nâng tầm chất lượng giáo dục Việt Nam trong thời đại số.

Tài liệu tham khảo
Quốc hội. (2013). Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Sửa đổi năm 2025).
Quốc hội. (2004). Luật Giao dịch điện tử năm 2005 (Luật số 51/2005/QH11).
Hoàng Trọng Nghĩa, & Nguyễn Văn Huấn. (2024). Chuyển đổi số trong giáo dục đại học ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo. https://kinhtevadubao.vn/chuyen-doi-so-trong-giao-duc-dai-hoc-o-viet-nam-30674.html.
Võ Song Toàn, & Trần Thị Bích Nga. (2021). Bảo đảm an toàn số trong chuyển đổi số đối với hoạt động đào tạo luật ở Việt Nam. Trong Kỷ yếu hội thảo chuyên đề “Chuyển đổi số trong đào tạo Luật ở Việt Nam” (tr. 58-67). Quảng Ninh.
Nguyễn Bảo Vinh. (2025). Kinh nghiệm chuyển đổi số trong giáo dục đại học của các quốc gia trên thế giới và bài học cho Việt Nam. Tạp chí Quản lý Nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/04/02/kinh-nghiem-chuyen-doi-so-trong-giao-duc-dai-hoc-cua-cac-quoc-gia-tren-the-gioi-va-bai-hoc-cho-viet-nam/.
Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng thông tin điện tử Chính phủ: Xây dựng chính sách. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm.

 

Tiêu điểm
Tiêu điểm
24/06/2026 100

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba ( tỉnh Phú Thọ): Khoa học nâng tầm chuyên môn vì người bệnh

Trong bối cảnh y học hiện đại phát triển với tốc độ nhanh chóng, tri thức y khoa không ngừng được cập nhật và thay đổi, việc học tập liên tục không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ, nhân viên y tế.
23/06/2026 121

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ): Không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, hướng tới xây dựng mô hình y tế thông minh trong chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho nhân dân

Trong tiến trình đổi mới toàn diện ngành y tế, việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ dừng lại ở mục tiêu điều trị hiệu quả mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống y tế hiện đại, chủ động và nhân văn. Tại tuyến cơ sở – nơi gần dân nhất, sát thực tế nhất – yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.
23/06/2026 136

BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH PHÚ THỌ – NƠI TỪNG BỮA ĂN TRỞ THÀNH ĐIỂM TỰA HỒI SINH SỨC KHỎE

Trong hệ thống y tế hiện đại, chất lượng khám chữa bệnh không chỉ được đo bằng trình độ chuyên môn hay trang thiết bị kỹ thuật, mà còn được đánh giá thông qua những yếu tố tưởng chừng giản dị nhưng có tác động sâu sắc – trong đó, an toàn thực phẩm giữ vai trò như một “trụ cột thầm lặng”.
19/06/2026 579

Phú Thọ: Trường THCS Văn Lang – điểm đến của những học sinh chất lượng cao trong toàn tỉnh

Kỳ kiểm tra đánh giá năng lực vào Trường THCS Văn Lang (phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) năm học 2026–2027 không chỉ là một kỳ tuyển sinh thông thường, mà còn là “thước đo vàng” phản ánh rõ nét chất lượng giáo dục của các trường và vị thế dẫn đầu của một đơn vị giáo dục trọng điểm.
Xem tất cả
23/06/2026 121
Trong tiến trình đổi mới toàn diện ngành y tế, việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ dừng lại ở mục tiêu điều trị hiệu quả mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống y tế hiện đại, chủ động và nhân văn. Tại tuyến cơ sở – nơi gần dân nhất, sát thực tế nhất – yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.
Xem chi tiết
19/06/2026 579
Kỳ kiểm tra đánh giá năng lực vào Trường THCS Văn Lang (phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) năm học 2026–2027 không chỉ là một kỳ tuyển sinh thông thường, mà còn là “thước đo vàng” phản ánh rõ nét chất lượng giáo dục của các trường và vị thế dẫn đầu của một đơn vị giáo dục trọng điểm.
Xem chi tiết
19/06/2026 617
Trong dòng chảy đổi mới mạnh mẽ của giáo dục đại học Việt Nam, khi yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở nên cấp thiết, việc lựa chọn một môi trường đào tạo vừa có chiều sâu học thuật, vừa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn sản xuất – kinh doanh trở thành mối quan tâm hàng đầu của thí sinh và phụ huynh.
Xem chi tiết
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả