Trần Thảo Nhi
Nguyễn Thị Hồng
Trần Thụy Quỳnh Phương
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Trong tiềm thức văn hóa, hình tượng người phụ nữ thường bị đóng khung trong các khuôn mẫu, huyền thoại được lý tưởng hóa từ xa xưa. Từ đó, trong các tác phẩm văn học, nhà văn thường xây dựng hình tượng người phụ nữ theo một mẫu số chung. Bài viết tập trung phân tích quá trình “giải huyền thoại” về người nữ trong truyện ngắn Lê Minh Khuê, qua đó làm rõ cách nhà văn tháo gỡ khuôn mẫu và trả người phụ nữ về với bản thể tự do. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp và nghiên cứu tài liệu, bài viết chỉ ra rằng Lê Minh Khuê đã giải huyền thoại về ngoại hình, phẩm chất và vai trò của họ trong hôn nhân, gia đình hay trong đời sống xã hội. Qua đó, nghiên cứu khẳng định ý nghĩa của việc giải huyền thoại như một cách làm mới hình tượng người phụ nữ trong văn học, đồng thời đề cao tự do, giá trị tự thân và tính bản thể của họ trong đời sống hiện đại.
Từ khóa: giải huyền thoại, huyền thoại, Lê Minh Khuê, nhân vật nữ
Abstract
In cultural consciousness, the image of women has long been confined within idealized myths and normative frameworks. Consequently, literary works have often constructed female characters according to a shared, standardized model. This article focuses on analyzing the process of “demythologizing” female representation in Lê Minh Khuê’s short stories, thereby elucidating how the author dismantles conventional frameworks and restores women to their autonomous selves. Employing methods of analysis, synthesis, and literature review, the study demonstrates that Lê Minh Khuê deconstructs myths surrounding women’s appearance, virtues, and roles in marriage, family, and social life. Accordingly, the research affirms that demythologization not only renews the literary image of women but also serves as a statement advocating freedom, intrinsic value, and the existential identity of women in modern society.
Keywords: demystification, female figures, Le Minh Khue, myth
1. Đặt vấn đề
Từ xa xưa huyền thoại luôn được con người sử dụng làm khuôn mẫu chung để nhận thức về mọi thứ xung quanh và chính bản thân. Qua thời gian chúng trở thành các giá trị mang tính chuẩn mực và bất biến. Với người phụ nữ, họ bị huyền thoại hóa về ngoại hình và phẩm chất. Điều này tạo nên một cái nhìn một chiều, che lấp đi tính đa dạng và chân thực của cá nhân. Tuy nhiên, tư duy hiện đại đã bắt đầu hoài nghi và phá vỡ các hệ giá trị có sẵn để tìm kiếm bản chất thực sự của vạn vật. Lê Minh Khuê là một trong những đại diện tiêu biểu cho cách tư duy này. Tác phẩm của bà không tiếp tục xây dựng người phụ nữ với những huyền thoại vốn có, thay vào đó gián tiếp phá vỡ chúng ở nhiều khía cạnh. Việc nghiên cứu đề tài “Giải huyền thoại về hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn Lê Minh Khuê” nhằm mục đích phân tích quá trình tháo gỡ các khuôn mẫu cũ. Qua đó, nhóm nghiên cứu chỉ ra cách nhà văn tái hiện hình ảnh người nữ bằng một cái nhìn khách quan, đa chiều, phù hợp với chủ nghĩa duy lí và ý thức khẳng định giá trị tự thân của họ.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận
Dưới góc nhìn của nghiên cứu giới, khái niệm “huyền thoại” về phụ nữ được Simone de Beauvoir triển khai không phải như một sản phẩm ngẫu nhiên của trí tưởng tượng tập thể, mà như một cơ chế mang tính ý thức hệ nhằm duy trì và hợp thức hóa trật tự bất bình đẳng giới. Trong công trình The Second Sex, tác giả đã chỉ ra những hình ảnh, biểu tượng về phụ nữ thực chất được kiến tạo để phục vụ cho lợi ích của xã hội gia trưởng, nơi nam giới giữ vị trí trung tâm quyền lực. Các huyền thoại này thường vận hành dựa trên những cặp đối lập nhị nguyên: “người mẹ tận tụy” (devoted Mother) và “người tình xảo trá” (perfidious Lover), “thiên thần” (the angelic) và “ma quái” (the devilish), “đáng thương” (the pitiful) và “đáng ghét” (the detestable) (Simone, 1996, tr.138). Những đối cực này không chỉ đơn thuần là mô típ văn hóa mà còn là cách thức ấn định phụ nữ vào các khuôn mẫu cố định, khiến họ bị nhìn nhận như một thực thể lệ thuộc, bị quy chiếu theo nhu cầu và cái nhìn của nam giới.
Năm 1985, trong quyển Lý thuyết phê bình nữ quyền mới (The New Feminist Criticism), ở phần 1, trong bài viết có tên “Treason Our Text: Feminist Challenges to the Literary Canon”, tác giả Lillian S. Robinson nhận định: “Các tác phẩm kinh điển do nam giới sáng tác đã góp phần tạo nên một khối lượng thông tin, định kiến, suy luận và phỏng đoán về giới nữ nói chung trong nền văn hóa” (Elaine Showalter, 1985). Tức là khi nghiên cứu tác phẩm văn học Mỹ, một số nhà phê bình nữ quyền nhận thấy các nhà văn nam đã phóng chiếu những khuôn mẫu, huyền thoại, quan niệm định hình từ lâu trong nền văn hóa vào nhân vật nữ. Từ việc nhận thức được tình trạng đó, Lillian cho rằng “Có hai cách tiếp cận khả thi cho phê bình nữ quyền. Một là nhấn mạnh việc đọc lại truyền thống theo những cách khác, nhằm diễn giải lại tính cách, động cơ và hành động của các nhân vật nữ, đồng thời nhận diện và thách thức hệ tư tưởng phân biệt giới tính” (Elaine Showalter, 1985). Nghĩa là thay vì chấp nhận những gì nhà văn đã viết về người nữ theo cách nhìn và quan niệm của họ, ta phải tái sản xuất lại hình tượng người nữ, quan sát tính cách, hành động và suy nghĩ của họ như những gì nó vốn là.
Từ đó, “Giải huyền thoại” về phụ nữ thực chất là quá trình chỉ ra điểm hư cấu, bất thường, trái với tự nhiên trong qua những huyền thoại và hướng tới việc trao lại quyền phát ngôn cho những chủ thể đã bị tước đoạt tiếng nói trong suốt chiều dài lịch sử
2.2. Giải huyền thoại về hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn Lê Minh Khuê
2.2.1. Giải huyền thoại về ngoại hình người nữ
Khi miêu tả ngoại hình người nữ, Lê Minh Khuê không né tránh những chi tiết thô ráp mà chủ động đưa chúng vào trung tâm của bức chân dung nhân vật, qua đó từng bước phá vỡ huyền thoại về vẻ đẹp nữ giới vốn đã ăn sâu trong văn học. Nếu trong quan niệm quen thuộc, cái đẹp thường gắn với làn da trắng, vóc dáng hài hòa, những đường nét thanh tú thì ở đây, nhà văn lại bắt đầu từ những gì ngược lại, từ những dấu vết của nắng gió, của lao động và chiến tranh. Trong truyện ngắn Bạn bè tôi, Lê Minh Khuê đã miêu tả Bích là cô gái trẻ có nước da “ngăm ngăm, hai bím tóc tí xíu thả lỏng trên vai” (Lê Minh Khuê, 2015, tr.50). Dễ nhận thấy, nhân vật hoàn toàn trái ngược với hình tượng người nữ quen thuộc: da trắng, mái tóc dài. Trong hoàn cảnh chiến tranh, người lính không chỉ phải đối mặt với quân thù mà còn là cảnh sống thiếu thốn, thời tiết khắc nghiệt, chưa kể đến là nguy cơ sốt rét, nhiễm trùng,... Nước da nâu và mái tóc thưa thớt là kết quả của hiện thực phũ phàng, cực khổ, không đủ lương thực. Ở đây, vẻ đẹp không còn được định nghĩa bằng sự hoàn hảo hình thức, mà bắt đầu nghiêng về sự chân thật, không bị chuẩn mực hóa. Cuộc hội ngộ của “tôi” và Bích vào một buổi chiều mưa. “Mưa tí tách. Rừng già. Vắt bám đen hai ống chân thon trắng, lúc này, lổ dổ những mụn lở nước đỏ loét…” (Lê Minh Khuê, 2015, tr.57). Những cuộc hành quân trong rừng luôn tiềm ẩn những nguy cơ, đặc biệt là khi trời trút nước. Vắt là loài vật chuyên bám vào người để hút máu. Đôi chân vốn “thon trắng” giờ đây lại chi chít những “mụn lở nước đỏ loét” đầy đáng sợ. Nếu Nguyễn Minh Châu cố tình lý tưởng hóa vẻ đẹp của người nữ để đại diện cho hy vọng trong cảnh ngộ khốn cùng thì Lê Minh Khuê nhìn thẳng và tả chân, đặc biệt là trong sinh hoạt của họ.
Tương tự, nhân vật Vân được nhà văn khắc họa qua câu nói: “Quần quật từ sáng đến đêm dưới đồng, ngâm nước, người sũng ra như cái bánh đa ngâm nước gạo. Thì giờ đâu mà ăn nói cho có duyên? Đây, chúng mày xem. Chân thì nứt toác ra như chân ruộng hạn nhá. Da mặt thì người ta tưởng là cái nồi rang. Đi đứng thì, đến đâu chết voi đến đấy…” (Lê Minh Khuê, 2015, tr.52). Nếu hình ảnh gót sen hồng gợi ra sự mềm mại, hồng hào, khỏe khoắn của đôi bàn chân, thì đôi chân “nứt toác” của Vân lại gợi ra sự xấu xí, khô cằn, nứt nẻ - một đôi chân đầy lam lũ, vất vả đồng thời cũng cho thấy tình trạng sức khỏe xuống cấp do thiếu chất và làm phải nhiều việc. Tương tự với việc so sánh “da mặt” như cái “nồi rang” - đầy thô ráp, sần sùi. Ở đây, Lê Minh Khuê còn đề cập đến dáng đi đứng “chết voi”. Liên tưởng thú vị này, một phần tả thật cách đi đứng của những cô gái đã hy sinh tuổi xuân để ra chiến trường - mạnh mẽ, vội vã, dứt khoát vốn thường được mặc định cho người nam. Phần còn lại cũng cho thấy sự hài hước, vô tư của cô gái trẻ. Dường như những chuẩn mực về ngoại hình mà xã hội áp đặt không khiến cô bận tâm hay nói cách khác là không còn quan trọng trong cảnh huống này. Vân biết điều quan trọng nhất hiện tại là tham gia chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Chính lúc này, những nét thô ráp bên ngoài lại chính là nét duyên ngầm, nét dễ thương của các cô.
Từ những phân tích trên, có thể thấy chân dung người nữ trong sáng tác của Lê Minh Khuê không còn bị ràng buộc trong một khuôn hình thẩm mỹ cố định, nơi vẻ đẹp bị quy về sự mảnh mai, dịu dàng và hoàn hảo về hình thể. Thay vào đó, nhà văn chủ động phá vỡ những chuẩn mực ấy để khẳng định một cách nhìn tiến bộ hơn, ngoại hình không phải là thước đo giá trị của người phụ nữ, càng không phải là tiêu chí để định danh cái đẹp.
2.2.2. Giải huyền thoại về phẩm chất người nữ
Tiết hạnh trong xã hội phong kiến là giá trị đạo đức tối thượng và trở thành thước đo đánh giá, thậm chí quyết định cuộc đời người phụ nữ. Từ đó, xã hội xây dựng nên những huyền thoại về họ, nổi bật với sự đức hạnh, lòng thủy chung. Người nữ chưa chồng bị giám sát chặt chẽ, không được phép giao du nam nữ, không được có tình yêu vượt khỏi quan niệm đạo đức phong kiến. Người nữ có chồng buộc phải “trung trinh” với chồng, dù người đó còn sống hay đã chết. Việc giữ gìn tiết hạnh hay trinh tiết không chỉ là trách nhiệm của cá nhân họ mà còn là sứ mệnh bảo vệ danh dự cho gia đình - đặc biệt là của chồng và cha.
Như đã nói, người nữ của Lê Minh Khuê phần nhiều là những cô gái thanh niên xung phong - trẻ trung, chưa có gia đình. Nếu tuân theo những huyền thoại vốn có, có lẽ Lê Minh Khuê đã tự giam nhân vật mình trong chiếc lồng xuân, nhưng không, bà để họ xuất hiện đầy hào sảng, thân mật, xóa tan khoảng cách về giới tính một cách rất tự nhiên, dễ thương như một lẽ gì vốn có. Trong truyện Nơi những bức tranh bắt đầu, cô họa sĩ Mai cùng các chiến sĩ công binh được đặc tả: “Mai vẽ và nhiều đêm vác xẻng lên trọng điểm với những người lính. Họ hay để dành nước sâm đất pha đường và những miếng củ mài nướng cháy vỏ cho mai”. (Lê Minh Khuê, 2015, tr.73). Dường như, những cách biệt nam nữ trong hoàn cảnh chiến tranh đã mờ dần và nhường chỗ cho điều quý giá hơn - tình đồng đội, sự giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau. Những hành động giữa họ đều là hành động rất thiết thực, đời thường: tặng thức uống, đồ ăn; bảo vệ tranh vẽ,... Thế nhưng cũng chính những điều đó đã bị ngăn cấm, bị hạn chế bởi thân phân phụ nữ đặt nặng đức hạnh, trinh tiết.
Tương tự, mối quan hệ của cô bé Vân và anh lính lái xe Ngãi cũng được khắc họa trong cái nhìn mến thương, yêu quý thay vì khắc nghiệt qua đôi mắt của nhân vật tôi: “Lần đầu tiên, tôi được nghe một câu nói dịu dàng của nó.” “Quái lạ, Vân đã thề là: “Đừng hòng tao gọi cái tay ấy là anh cơ mà. Đấy, mày xem, rồi sẽ biết…” (Lê Minh Khuê, 2015, tr.54). Vân có lẽ cũng không nhận thấy sự thay đổi trong cách mình xưng hô cũng như việc cô nàng chẳng hề hay biết sự thay đổi trong tình cảm của mình dành cho Ngãi. Nhân vật “tôi” xuất hiện như một người chị, dịu dàng và tinh tế đã nhận thấy tất cả. “Tôi” không phán xét, không ngăn cấm mà thay vào đó âm thầm quan sát, hỗ trợ cô em gái. Có thể thấy, nhân vật “tôi” là hiện thân của Lê Minh Khuê. Trước những khuôn mẫu khắc khe về việc gìn giữ đức hạnh mà biểu hiện cụ thể là không được phép giao du nam nữ, bà đã thể hiện cái nhìn đầy dịu dàng, bao dung, thấu hiểu. “Anh lại gần Vân, lúng túng tìm gì đó trong túi áo. [...] Khi tôi quay lại, Vân đưa cho tôi quả cảm, quà của Ngãi.” (Lê Minh Khuê, 2015, tr.58 - 59). Hay “Loáng tháng sau tôi, Ngãi thì thầm cái gì đấy với Vân. Chắc là những điều nhỏ nhặt thôi. Nhưng thốt nhiên làm tim tôi xao xuyến. Vân cười.” (Lê Minh Khuê, 2015, tr.62 - 63). Tình cảm của Vân và Ngải đã nảy mầm trên mảnh đất cằn khô của chiến tranh một cách trong sáng, tế nhị nhưng cũng hết mực nồng nàn. Và sự “xao xuyến” của nhân vật “tôi” phải chăng là “xao xuyến” của một tâm hồn đã được chứng kiến tình yêu đẹp giữa chiến tranh, phải chẳng là “xao xuyến” của một người nữ cũng thiết tha yêu và được yêu? Dù thế nào thì nó vẫn thể hiện cái nhìn giải phóng phụ nữ khi ủng hộ việc họ kiếm tìm và theo yêu tình yêu đời mình. Những khuôn mẫu phong kiến, những huyền thoại về đức hạnh đã được Lê Minh Khuê gián tiếp giải bỏ.
Với những người nữ đã yêu, Lê Minh Khuê cũng không xây dựng nhân vật thủy chung một cách mù quáng. Cô gái Thi trong truyện ngắn Anh kỹ sư dạo trước là một hình tượng như vậy. Thi đếm từng ngày để được gặp chàng trai mình yêu - anh Nguyên kỹ sư đi chung chuyến xe qua trọng điểm B.52. Thế nhưng, cũng chính cô gái ấy đã dứt khoát đưa ra quyết định chia tay. Diễn biến tâm lý của nhân vật được Lê Minh Khuê chú ý đặc tả trong suốt cuộc hội ngộ. “Thi muốn dựa khuỷu tay vào đâu đó cho bớt lúng túng. Cô khuỳnh tay, cảm thấy cái ghế rộng bát ngát.” (Lê Minh Khuê, 1994, tr.144). Sự không thoải mái của cơ thể trong không gian nhà Nguyên thể hiện tâm lý bỡ ngỡ, lạ lẫm, thậm chí có phần lạc lõng của nhân vật. Là chiến sĩ, cô vốn đã quen nếp giản dị, mộc mạc cùng sự tạm bợ, gian khó do chiến tranh, trong khi nơi đây lại quá trang trọng, êm ấp. Về sau, Thi càng nhận thấy Nguyên là một người xa lạ mà nguyên nhân chính là nếp sống an nhàn - “ăn no, tắm mát, đời êm ả trôi không sóng gió.” (Lê Minh Khuê, 1993, tr.149) và sợ hãi cảnh sống chiến trường. Cô tự hỏi, như một cách để chất vấn anh hiện tại cũng như một cách để gợi nhớ về anh ngày xưa: “Hai bàn tay ấy đã mất đâu rồi?” (Lê Minh Khuê, 1994, tr.149). Cô tự nhận: “Còn bây giờ, không thấy thích nữa!” (Lê Minh Khuê, 1994, tr.151); “Thi cố tìm trong mình một chút rung động với anh nhưng mọi thứ cứ dửng dưng.” (Lê Minh Khuê, 1994, tr.155). Sự thay đổi trong lối sống của Nguyên khiến tình cảm trong Thi cũng thay đổi và nhận ra thực tế: người cô yêu say đắm là anh chàng kỹ sư mộc mạc, hay ngại ngùng nhưng dũng cảm của tháng ngày bom đạn; chứ không phải anh kỹ sư chấp nhận đời an nhàn, yên ổn. Nói cách khác, Thi hối tiếc cho quá khứ của Nguyên chứ không phải Nguyên hiện tại.
Trước cảnh ngộ éo le ấy, Lê Minh Khuê đã để cô gái trẻ dũng cảm đưa ra quyết định cuối cùng. “Thi đứng bật lên: - Thôi! Mặc kệ những cái đó của anh! Em đi đây! Sau này hãy hay…” “Thi gỡ tay anh Nguyên khỏi tay mình, lắc đầu: - Em phải đi! Đến giờ rồi…” (Lê Minh Khuê, 1994, tr.159). Việc nhấn mạnh mình cần phải rời đi hai lần cho thấy sự quyết tâm cũng như tự chủ của nhân vật Thi. Dù ngoài mặt cô viện lý do là đến giờ nhưng thực chất là đã đưa ra lựa chọn kết thúc chuyện tình yêu của hai người. Có thể thấy, trong mối quan hệ này, người nam và nữ được đặt ngang hàng, bình đẳng. Thi có quyền được đưa quyết định, có quyền được rời đi khi thấy không phù hợp thay vì sống lệ thuộc hoặc chịu đựng như những huyền thoại về sự đức hạnh quen thuộc. Lê Minh Khuê đã giải phóng nhân vật mình. Đương nhiên, khi nhìn thấy Nguyên đứng ngáng ở cửa, Thi đã thoáng chần chừ nhưng cái đó mất ngay. Cuộc sống của Thi nơi chiến trường: “đòi hỏi trong lòng dũng cảm cũng phải có sự thủy chung. Đến với nó phải thực. Đâu chỉ là một thoáng thể nghiệm để rồi sợ hãi.” (Lê Minh Khuê, 1994, tr.159 - 160). Một lần nữa, sự tự chủ, dứt khoát của nhân vật nữ được tác giả chú tâm khắc họa. Thi hiện lên như chân dung mới về phụ nữ trong tình yêu đầy độc lập, hiểu bản thân muốn gì và chấp nhận chọn đấu tranh, hy sinh cho điều đó. Cô ý thức được về sự khác biệt giữa hai người: không chỉ về khoảng cách mà còn về lối sống, ý chí giữa một bên đã chọn gian khổ, đấu tranh và một bên lại chọn an nhàn, hèn yếu. Ở đây, Thi hi sinh tình yêu, dù đau đớn để sống đúng là mình.
Tựu trung, chân dung người nữ mà Lê Minh Khuê xây dựng đều là những cô gái mạnh mẽ, độc lập, dám yêu và dám hy sinh cho lý tưởng. Thông qua kiểu nhân vật này, nhà văn đã thể hiện cái nhìn tiến bộ về người nữ: họ không nên bị những khuôn mẫu của chế độ gia trưởng trói buộc, mà cụ thể là về đức hạnh; mà thay vào đó nên được sống đúng là mình.
3.2.3. Giải huyền thoại về thiên chức người nữ
Trong tiềm thức văn hóa của đại đa số, hình ảnh người phụ nữ từ lâu đã bị đóng khung trong những “huyền thoại” về thiên chức làm vợ, làm mẹ, về sự hy sinh, nhẫn nhịn vun vén cho gia đình. Dường như chỉ thông qua đóm người nữ mới khẳng định được sự tồn tại trong mắt xã hội. Tuy nhiên, bước vào thế giới truyện ngắn của Lê Minh Khuê, những khuôn mẫu, huyền thoại ấy đã bị phá vỡ phần nào. Bằng cảm quan hiện thực sắc sảo và tư duy hậu hiện đại, bà đã thực hiện một cuộc tái sản xuất huyền thoại trong truyện ngắn của mình, để trả người phụ nữ về với bản thể tự do - nơi họ dám khước từ những “xiềng xích” của hôn nhân để bảo vệ lý tưởng cá nhân.
Trước hết, đến với truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi, ta bắt gặp những nhân vật trung tâm là Nho, Thao và Phương Định. Mặc dù còn trẻ tuổi, hồn nhiên là thế nhưng những cô gái hiện lên qua giọng kể của Lê Minh Khuê đều có lý tưởng sống cho riêng mình, thích tự do, đầy hoài bão, ước mơ và luôn mơ về một ngày hòa bình để thỏa sức làm điều mình thích. Trong những lần tâm sự cùng đồng đội, Phương Định đã đùa rằng: “Cũng như tôi, Nho thích sống tự do. Hai đứa bảo nhau: “Từ giờ tới già chỉ yêu thôi chứ không thèm lấy chồng. Lấy chồng khổ lắm. Tã lót, chăn màn, mùn cưa, nước mắm,...thì giờ đâu mà đi chơi nữa.” (Lê Minh Khuê, 1994, tr.21). Câu nói ấy không chỉ là lời đùa vui tinh nghịch của một cô gái trẻ mà còn chứa đựng một quan niệm sống đầy mới mẻ, vượt thoát khỏi những rào cản truyền thống của phụ nữ thời bấy giờ. Giữa khói lửa Trường Sơn, trong khi xã hội vẫn thường gắn chặt hình ảnh người phụ nữ với thiên chức làm vợ, làm mẹ và sự hy sinh thầm lặng nơi xóm bếp, thì Phương Định lại dõng dạc tuyên bố: “Từ giờ tới già chỉ yêu thôi chứ không thèm lấy chồng” hay “Lấy chồng khổ lắm...thì giờ đâu mà đi chơi nữa”. Quan niệm này cho thấy một sự tách biệt rạch ròi giữa tình yêu lý tưởng và gánh nặng gia đình. Với cô, tình yêu là sự tự do, là những rung động trong trẻo của tâm hồn, còn hôn nhân lại hiện lên qua những định nghĩa rất “đời” và trần trụi như “tã lót, chăn màn, mùn cưa, nước mắm”. Việc liệt kê một loạt những lo toan đời thường như “tã lót”, “nước mắm”, “mùn cưa” cho thấy một góc nhìn thực tế nhưng cũng rất hóm hỉnh về gánh nặng gia đình. Với cô tuổi trẻ là để yêu, để tận hưởng cuộc sống và cống hiến, chứ không phải để bị giam cầm trong những tủn mủn của sinh hoạt thường nhật. Hay trong một lần mẹ Phương Định đùa rằng: “Con gái gì cái của mày. Lấy chồng rồi mà no đòn… No đòn…!”, ngay sau đó cô đã nói “Vì thế nên ngay lúc ở nhà tôi đã thề là không lấy chồng” (Lê Minh Khuê, 1994, tr.23). Ta thấy đây là một tư duy rất tiến bộ và có ý thức về giá trị bản thân. Cô không chấp nhận một tương lai mà người phụ nữ bị tước đoạt lòng tự trọng và phải chịu đựng những nỗi đau thể xác lẫn tinh thần dưới danh nghĩa “đạo làm vợ”. Thông qua nhân vật Phương Định, Lê Minh Khuê không chỉ đem đến hình tượng nữ thanh niên xung phong đầy dũng cảm trên chiến trường, mà còn là hình tượng một người phụ nữ hiện đại với những quan niệm mới mẻ về hôn nhân, gia đình trong đời sống thường ngày.
Đến với truyện ngắn Bình minh ven biển, Lê Minh Khuê cũng lựa chọn nhân vật trung tâm là những người nữ, thế nhưng tác giả lại xây dựng hai hình tượng có phần đối lập với nhau. Thủy là người đã có gia đình, con cái ổn định và thấy cuộc sống mình đã trọn vẹn vì điều đó, trong khi Tấn lại luôn hướng về phía mặt trận, hướng về những lý tưởng riêng của bản thân: “Tình yêu của Tấn mãi tới đầu năm nay mới được tính tới. Chả phải khó khăn gì. Đã cứ nghĩ, chiến đấu xong, về làm việc ở bệnh viện tỉnh, rồi hẵng lấy chồng. Và ngày tháng trôi qua. Xem như không thực hiện được điều đó. Đã gắn bó với chiến trường mất rồi” (Lê Minh Khuê, 2005, tr.218). Qua lời kể, ta thấy được rằng nếu như Thủy đại diện cho mẫu phụ nữ truyền thống, tìm thấy sự vẹn tròn trong mái ấm gia đình và thiên chức làm mẹ, thì Tấn lại là hình ảnh của một cái tôi hiện đại, luôn đặt lý tưởng chung lên trên hạnh phúc riêng tư. Qua dòng suy nghĩ của Tấn: “Đã cứ nghĩ, chiến đấu xong... rồi hẵng lấy chồng”, ta thấy một kế hoạch cuộc đời rất chủ động. Hôn nhân đối với Tấn không phải là cái đích duy nhất hay sự bắt buộc của người con gái, mà là chỉ là một dự định được đặt sau nhiệm vụ và sự nghiệp. Sự đối lập giữa Thủy và Tấn không phải để phủ nhận giá trị của gia đình, của những thiên chức đáng quý, mà để mang đến thêm một cách nhìn khác về vai trò của người phụ nữ trong cuộc đời. Hạnh phúc của người phụ nữ không chỉ gói gọn trong gian bếp, mà còn rạng rỡ trên những cung đường chiến đấu và trong sự khẳng định giá trị bản thân trước vận mệnh dân tộc. Qua nhân vật Tấn, Lê Minh Khuê đã tạc nên bức chân dung về một thế hệ nữ thanh niên có tư duy vượt thời đại, dám sống và dám yêu theo cách riêng của mình.
4. Kết luận
Qua việc phá vỡ các huyền thoại về đã được quy chiếu lên người nữ từ lâu, Lê Minh Khuê không chỉ làm mới hình tượng người phụ nữ trong văn học mà còn góp phần thay đổi cách nhìn về họ trong đời sống. Người phụ nữ không còn bị đóng khung trong những chuẩn mực lý tưởng hóa về ngoại hình, phẩm chất hay thiên chức, mà hiện lên như những cá thể sống động, có quyền lựa chọn, trải nghiệm và khẳng định giá trị riêng. Việc giải huyền thoại vì thế mang ý nghĩa sâu sắc: Chính nó tháo gỡ những định kiến mang tính áp đặt, trả lại cho người phụ nữ sự tự do trong cách tồn tại và được nhìn nhận. Đồng thời, điều này cũng cho thấy bước chuyển của tư duy văn học hiện đại khi hướng tới việc tôn trọng con người trong tính chân thực, đa chiều và không thể giản lược vào bất kỳ khuôn mẫu cố định nào.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Nguồn ngân sách khoa học và công nghệ Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong đề tài sinh viên NCKH năm học 2025-2026.
Tài liệu tham khảo
Elaine Showalter. (1985). The New Feminist Criticism. New York: Pantheon Books.
Lê Minh Khuê. (1994). Truyện ngắn Lê Minh Khuê. Nxb Văn học.
Lê Minh Khuê. (2015). Cao điểm mùa hạ; Một chiều xa thành phố; Những ngôi sao xa xôi: Tập truyện ngắn. Nxb Hội nhà văn.
Nguyễn Minh Châu. (2009). Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Nxb Văn học.
Nguyễn Thị Ái Thoa. (2018, 06 16). Giải huyền thoại về nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết Giàn thiêu của Võ Thị Hảo và Hội thề của Nguyễn Quang Thân. Tạp chí Khoa học –Đại học Huế, Tập 127, Số 6A, pp. 83-95.
Phương Thúy. (2013, 07 26). Nhà văn Lê Minh Khuê: Chiến tranh ám ảnh từng trang viết. Retrieved from Báo Tiếng nói Việt Nam: https://vov.vn/van-hoa/van-hoc/nha-van-le-minh-khue-chien-tranh-am-anh-tung-trang-viet-272678.vov
Phùng Văn Khai. (2022, 03 30). Nhà văn Lê Minh Khuê: Những trang văn xanh mãi. Retrieved from Báo Văn nghệ quân đội: http://vannghequandoi.com.vn/in-bai/nha-van-le-minh-khue-nhung-trang-van-xanh-mai_13148.html
Simone de Beauvoir. (1996). Giới thứ hai - Tập 1 (Nguyễn Trọng Định & Đoàn Ngọc Thanh dịch). NXB Phụ nữ.