Nguyễn Huy Phương
Trường Cao đẳng nghề Nghi Sơn
Tóm tắt: Nghiên cứu xây dựng khung quản lý phát triển liên kết nhà trường – doanh nghiệp theo tiếp cận “đặt hàng kỹ năng” trong hệ sinh thái giáo dục nghề nghiệp của tỉnh Thanh Hóa. Cách tiếp cận định vị doanh nghiệp và cụm ngành ở vai trò dẫn dắt nhu cầu kỹ năng, đồng thời tổ chức lại chuỗi giá trị đào tạo theo năng lực, học tại nơi làm việc và đánh giá dựa trên minh chứng. Mô hình quản lý đề xuất gồm sáu hợp phần: thiết chế đồng quản trị cấp tỉnh, tình báo kỹ năng và dự báo nhu cầu, tài chính – mua sắm theo kết quả, chương trình theo năng lực và học tại nơi làm việc, bảo đảm chất lượng và dữ liệu, phát triển năng lực tác nhân và truyền thông. Lộ trình triển khai ba giai đoạn kèm bộ chỉ số theo dõi nhấn mạnh cơ chế trả theo kết quả và liên thông tín chỉ kỹ năng. Kỳ vọng tác động thể hiện ở thu hẹp khoảng cách kỹ năng, nâng tỷ lệ việc làm đúng nghề và hình thành cơ chế đặt hàng kỹ năng mang tính thường trực của địa phương.
Summary: This paper proposes a management framework to strengthen school–enterprise partnerships through a skills-ordering approach within Thanh Hoa’s TVET ecosystem. Employers and sector associations lead the articulation of competency standards and demand volumes, while TVET institutions restructure curricula toward competency-based education, work-based learning, and evidence-based assessment. The model comprises six pillars: provincial co-governance, skills intelligence and forecasting, results-based financing and procurement, competency-based programs and work-based learning, quality assurance and data, and capacity building with strategic communication. A three-phase roadmap with indicators prioritizes results-linked payments and micro-credential portability. Anticipated outcomes include smaller skills gaps, higher job-match employment, and an institutionalized mechanism for employer-led skills ordering in Thanh Hoa.
Từ khóa: Liên kết nhà trường–doanh nghiệp; đặt hàng kỹ năng; giáo dục nghề nghiệp; quản lý theo kết quả; học tại nơi làm việc
Keywords: School–enterprise partnership; skills ordering; TVET; results-based management; work-based learning.
1. Đặt vấn đề
Thanh Hóa đang bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh với các cực phát triển gồm Khu kinh tế Nghi Sơn, du lịch biển và sinh thái, cùng công nghiệp chế biến và chế tạo, kéo theo nhu cầu nhân lực lớn và đa dạng [11], [9]. Cạnh tranh trên thị trường lao động của địa phương ngày càng được quyết định bởi mức độ thành thạo kỹ năng nghề, năng lực thích ứng công nghệ và sự tuân thủ văn hóa công nghiệp, những yếu tố chi phối năng suất và khả năng có việc làm bền vững [6]. Trong bối cảnh ấy, liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp cần được thiết kế lại theo logic “đặt hàng kỹ năng”, theo đó các doanh nghiệp và tổ chức ngành nghề xác định chuẩn năng lực cùng quy mô nhu cầu, còn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cấu trúc chương trình đào tạo, mô đun học tập, lịch thực hành tại cơ sở sản xuất và phương thức đánh giá nhằm đáp ứng đơn hàng kỹ năng, với chất lượng và hiệu quả được định giá cũng như kiểm chứng dựa trên kết quả đầu ra [6], [4]. Cách tiếp cận này phù hợp với các khuyến nghị quốc tế về hệ thống đào tạo nghề gắn với thị trường lao động và học tập suốt đời, đồng thời đề cao vai trò của tổ chức đại diện người lao động và tổ chức của giới sử dụng lao động trong quản trị kỹ năng [4]. Khung tiếp cận nói trên cũng tương thích với pháp luật trong nước về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đối với dịch vụ sự nghiệp công, qua đó tạo nền tảng cho việc thiết kế các hợp đồng cung ứng kỹ năng theo kết quả [2], [8].
2. Cơ sở lí luận
2.1. Hệ sinh thái giáo dục nghề nghiệp và liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
Hệ sinh thái giáo dục nghề nghiệp được cấu thành bởi các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và các cụm ngành, cơ quan quản lý ở cấp trung ương và địa phương, tổ chức xã hội nghề nghiệp, người học và người lao động, tổ chức đánh giá và chứng nhận, cùng với hạ tầng dữ liệu phục vụ ra quyết định [6]. Cơ chế vận hành hiệu quả của hệ sinh thái này dựa trên nguyên tắc đồng quản trị, trong đó các chủ thể cùng tham gia thiết kế chuẩn năng lực, chia sẻ nguồn lực đào tạo, và phối hợp đánh giá kết quả học tập tại nơi làm việc để bảo đảm mức độ phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động [4], [10]. Vai trò của tổ chức đại diện người lao động và tổ chức của giới sử dụng lao động được đề cao nhằm phản ánh đúng nhu cầu kỹ năng, đồng thời tạo cơ chế phản hồi thường xuyên giữa khu vực sản xuất kinh doanh và cơ sở giáo dục nghề nghiệp [4]. Bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu nâng cao năng suất càng làm rõ nhu cầu liên kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động, đặc biệt ở cấp địa phương nơi các cụm ngành và doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn [6], [11].
2.2. “Đặt hàng kỹ năng”
Khái niệm “đặt hàng kỹ năng” được hiểu là cơ chế trong đó doanh nghiệp hoặc tổ chức đại diện theo cụm ngành, và khi cần thiết là cơ quan nhà nước, xác định danh mục năng lực đầu ra, mức độ thành thạo cần đạt, quy mô và nhịp độ cung ứng, chuẩn đánh giá tại nơi làm việc, cùng với phương thức tài chính và chia sẻ rủi ro giữa các bên [6], [4]. Cơ chế này nhấn mạnh vai trò dẫn dắt của bên sử dụng lao động trong việc mô tả công việc, tiêu chí hiệu năng, và minh chứng năng lực, qua đó định hình cấu trúc mô đun đào tạo và ma trận đánh giá theo năng lực của cơ sở giáo dục nghề nghiệp [6]. Khung pháp lý trong nước cho phép triển khai thông qua phương thức đặt hàng và giao nhiệm vụ đối với dịch vụ sự nghiệp công theo Luật Giáo dục nghề nghiệp, kết hợp cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập để linh hoạt bố trí nguồn lực [8], [2]. Một số trường hợp đặc thù của hoạt động mua sắm phục vụ đào tạo ngắn hạn có thể vận dụng quy định lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt nhằm đáp ứng yêu cầu thời gian và tính tùy biến của đơn hàng kỹ năng [1]. Tính chính danh của “đặt hàng kỹ năng” được củng cố khi các tiêu chí đầu ra được xác lập minh bạch, có đo lường tại nơi làm việc, và gắn với các thỏa thuận giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo về tuyển dụng sau đào tạo [4].
2.3. Quản lý phát triển liên kết
Cách tiếp cận quản lý hiện đại khuyến nghị vận dụng chu trình PDCA gồm Hoạch định, Thực hiện, Kiểm tra, Hành động và nguyên tắc quản lý theo kết quả, trong đó chuỗi logic đầu vào, hoạt động, đầu ra và kết quả được xác định kèm hệ chỉ số giám sát và đánh giá [6]. Thiết kế liên kết theo hướng “đặt hàng kỹ năng” đòi hỏi tổ chức đồng thiết kế chương trình với doanh nghiệp, bố trí học tại nơi làm việc và cơ chế thực tập sinh, đồng thời tích hợp đánh giá tay nghề do người hướng dẫn của doanh nghiệp tham gia để đảm bảo độ tin cậy của minh chứng năng lực [4], [10]. Hiệu quả của liên kết phụ thuộc mạnh vào năng lực của đội ngũ nhà giáo và người hướng dẫn tại cơ sở sản xuất, bao gồm kinh nghiệm công nghiệp định kỳ, kỹ năng xây dựng tiêu chí đánh giá, và khả năng tổ chức đào tạo theo năng lực [5]. Nhu cầu dự báo thị trường lao động và hệ thống thông tin dữ liệu đáng tin cậy là điều kiện cần để xác định quy mô và nhịp độ đơn hàng kỹ năng, đồng thời là căn cứ cho cơ chế tài chính theo kết quả nhằm khuyến khích trách nhiệm giải trình của các bên tham gia [6], [4]. Bằng chứng ở bối cảnh Việt Nam cho thấy các mô hình liên kết được quản trị với sự tham gia thực chất của doanh nghiệp có khả năng cải thiện mức độ phù hợp của chương trình, tăng cơ hội việc làm và nâng cao chất lượng trải nghiệm học tập tại nơi làm việc [7], [10].
3. Thực trạng liên kết NT–DN trong hệ sinh thái GDNN Thanh Hóa
3.1. Điểm mạnh
Nền kinh tế của tỉnh mở rộng theo các trục công nghiệp, dịch vụ và du lịch, tạo ra nhu cầu kỹ năng rõ rệt ở lực lượng lao động trình độ trung cấp đến cao đẳng, qua đó hình thành sức ép tích cực buộc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nâng cao năng lực cung ứng đào tạo phù hợp với chuyển dịch cơ cấu việc làm [11], [9]. Một số doanh nghiệp địa phương chủ động tham gia đồng thiết kế hoạt động thực hành và thực tập, đặc biệt trong ngành dịch vụ du lịch và lữ hành, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa chuẩn đầu ra và yêu cầu vị trí việc làm tại nơi sản xuất – kinh doanh [7]. Khung chính sách hiện hành về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập cùng quy định về đặt hàng và giao nhiệm vụ dịch vụ sự nghiệp công tạo nền tảng pháp lý để địa phương vận dụng các hình thức hợp tác và mua sắm đào tạo theo kết quả đầu ra [2], [8]. Một số mô hình điểm về hợp tác đào tạo theo định hướng chuyên ngành trong lĩnh vực dịch vụ – thương mại và các sáng kiến thúc đẩy liên kết ở bậc đại học tại khu vực lân cận cung cấp kinh nghiệm tham chiếu có thể chuyển hóa cho bối cảnh giáo dục nghề nghiệp của tỉnh [3], [10].
Bảng 3.1. Điểm mạnh của liên kết nhà trường – doanh nghiệp tại Thanh Hóa
|
Điểm mạnh chủ đạo
|
Biểu hiện cụ thể
|
Hàm ý quản lý/KPI gợi ý
|
|
Nhu cầu kỹ năng rõ rệt
|
Mở rộng các cực tăng trưởng; tăng vị trí việc làm trình độ trung cấp – cao đẳng
|
Tỷ lệ tuyển sinh theo ngành ưu tiên; tỷ lệ việc làm phù hợp sau 6 tháng
|
|
Doanh nghiệp đồng thiết kế
|
Tham gia xây dựng kế hoạch thực hành, lịch thực tập, góp ý chuẩn đầu ra
|
Số thỏa thuận đồng thiết kế; số giờ WBL trên mỗi học viên
|
|
Khung chính sách sẵn có
|
Cơ chế tự chủ tài chính, đặt hàng và giao nhiệm vụ đào tạo theo kết quả
|
Tỷ trọng nhiệm vụ/đặt hàng theo kết quả trong tổng kinh phí
|
|
Mô hình điểm tham chiếu
|
Mô hình dịch vụ – thương mại, sáng kiến liên kết ở bậc đại học có thể chuyển hóa
|
Số mô hình được nhân rộng; mức độ hài lòng của doanh nghiệp
|
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả)
3.2. Hạn chế và điểm nghẽn
Tổ chức liên kết còn phân tán do chưa hình thành cơ chế điều phối thống nhất như hội đồng kỹ năng cấp tỉnh hoặc hội đồng theo cụm ngành, làm hạn chế khả năng xác lập ưu tiên đào tạo và đặt hàng kỹ năng sát với nhu cầu thị trường lao động [6]. Cơ chế tài chính vẫn thiên về phân bổ đầu vào và định mức chi thường xuyên, chưa gắn chặt với chỉ số kết quả như tỷ lệ việc làm đúng nghề hay tỷ lệ đạt chuẩn đánh giá tại nơi làm việc, khiến động lực nâng cao chất lượng và mức độ phù hợp của chương trình đào tạo chưa đủ mạnh [2], [6]. Quy trình mua sắm và đặt hàng đào tạo chưa đủ phù hợp cho các khóa ngắn hạn theo mô đun; việc áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt chưa được tối ưu hóa để đáp ứng tính linh hoạt của đơn hàng kỹ năng [1]. Chuẩn năng lực và phương thức đánh giá thực hành tại doanh nghiệp chưa thống nhất giữa chuẩn nghề quốc gia, chuẩn đầu ra của cơ sở đào tạo và yêu cầu tuyển dụng, làm tăng nguy cơ đánh giá tại nơi làm việc mang tính hình thức thay vì xác thực năng lực [4], [6]. Dữ liệu thị trường lao động còn phân tán và thiếu cơ chế cập nhật theo chu kỳ ngắn, dẫn đến hạn chế trong dự báo quy mô và nhịp độ đơn hàng kỹ năng phục vụ lập kế hoạch đào tạo dựa trên bằng chứng [9]. Năng lực của các tác nhân liên kết vẫn là thách thức khi một bộ phận nhà giáo thiếu trải nghiệm công nghiệp định kỳ, doanh nghiệp nhỏ và vừa hạn chế nguồn lực cho hướng dẫn – đánh giá tại nơi làm việc, trong khi người học cần được tăng cường kỹ năng mềm, kỹ năng số và năng lực ngoại ngữ để thích ứng môi trường làm việc hiện đại [5], [6].
Bảng 3.2. Ma trận điểm nghẽn của liên kết nhà trường – doanh nghiệp
|
Điểm nghẽn
|
Biểu hiện
|
Hệ quả chính
|
Hướng xử lý sơ bộ
|
|
Thiếu cơ chế điều phối
|
Chưa có hội đồng kỹ năng cấp tỉnh/cụm ngành
|
Phân tán nguồn lực, khó thống nhất ưu tiên
|
Thành lập thiết chế điều phối và quy trình ra quyết định chung
|
|
Tài chính thiên về đầu vào
|
Cấp phát theo định mức, ít gắn kết quả
|
Động lực cải thiện chất lượng thấp
|
Thiết kế thanh toán theo kết quả và hợp đồng đầu ra
|
|
Mua sắm chưa phù hợp
|
Khó áp dụng cho mô đun ngắn hạn, linh hoạt
|
Chậm đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp
|
Chuẩn hóa mẫu hồ sơ, tối ưu hóa lựa chọn trường hợp đặc biệt
|
|
Chuẩn năng lực – đánh giá lệch pha
|
Khác biệt giữa chuẩn quốc gia, chuẩn trường và yêu cầu tuyển dụng
|
Đánh giá tại nơi làm việc thiếu xác thực
|
Đồng thiết kế chuẩn năng lực, chuẩn hóa rubrics WBA
|
|
Dữ liệu thị trường lao động phân tán
|
Thiếu cập nhật theo quý, thiếu liên thông
|
Dự báo quy mô và nhịp độ đơn hàng yếu
|
Xây dựng nền tảng dữ liệu và cơ chế báo cáo định kỳ
|
|
Hạn chế năng lực tác nhân
|
Giáo viên ít trải nghiệm công nghiệp; DN nhỏ thiếu nguồn lực; người học thiếu kỹ năng nền
|
Giảm chất lượng WBL, giảm khả năng thích ứng
|
Chương trình thâm nhập công nghiệp, bồi dưỡng hướng dẫn viên, tăng cường kỹ năng mềm – số – ngoại ngữ
|
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả)
4. Giải pháp quản lý theo tiếp cận “đặt hàng kỹ năng”
4.1. Kiến trúc đồng quản trị: Hội đồng Kỹ năng tỉnh
Giải pháp trọng tâm là thiết lập Hội đồng Kỹ năng tỉnh do Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội làm cơ quan thường trực, với sự tham gia của hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp nòng cốt, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Trung tâm Dịch vụ việc làm và chuyên gia độc lập. Hội đồng chịu trách nhiệm định hướng chiến lược và điều phối liên ngành; phê duyệt danh mục đơn hàng kỹ năng theo các cụm ngành ưu tiên như cơ khí và chế tạo, dệt may và da giày, logistics, du lịch; ban hành bộ chuẩn năng lực và mô tả năng lực cho từng nghề; thông qua khung đánh giá tại nơi làm việc; xác lập bộ chỉ số kết quả cấp tỉnh để theo dõi, giám sát và công bố định kỳ. Cơ chế hoạt động của Hội đồng bảo đảm tính đại diện của các bên liên quan, ra quyết định dựa trên dữ liệu và gắn trách nhiệm giải trình với kết quả đầu ra.
4.2. Tình báo kỹ năng và dự báo nhu cầu
Một nền tảng số mang tên “Bản đồ Kỹ năng Thanh Hóa” cần được xây dựng nhằm kết nối doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và người học. Nền tảng này cập nhật theo quý các thông tin về vị trí việc làm, mô tả kỹ năng, mức lương tham chiếu, nhịp độ tuyển dụng và yêu cầu công nghệ, từ đó hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ đặt hàng kỹ năng. Cơ chế dữ liệu kết hợp nghĩa vụ và khuyến khích: doanh nghiệp nhận hỗ trợ đào tạo cam kết cung cấp dữ liệu tuyển dụng và sử dụng lao động; hệ thống liên thông với Trung tâm Dịch vụ việc làm để bảo đảm vòng phản hồi liên tục giữa cung và cầu. Phân tích nghề được triển khai theo phương pháp DACUM và đối sánh với khung kỹ năng châu Âu ESCO để xây dựng ma trận kỹ năng cho từng nghề, tiếp đó ánh xạ sang chuẩn năng lực quốc gia và các chứng chỉ kỹ năng nghề nhằm bảo đảm tính công nhận lẫn nhau và khả năng chuyển đổi tín chỉ.
4.3. Tài chính và mua sắm theo kết quả
Cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ được vận dụng cho các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo mô đun, kết hợp hình thức lựa chọn nhà thầu phù hợp đối với trường hợp đặc thù để bảo đảm tính linh hoạt và kịp thời của đơn hàng kỹ năng. Phương thức thanh toán gắn với kết quả quy định tỷ trọng tối thiểu ba mươi đến bốn mươi phần trăm kinh phí phụ thuộc vào các chỉ số như tỷ lệ hoàn thành đơn hàng đúng thời hạn và đúng chất lượng, tỷ lệ việc làm đúng nghề sau ba đến sáu tháng, tỷ lệ người học đạt chuẩn đánh giá tại nơi làm việc do doanh nghiệp xác nhận. Cơ chế đồng đầu tư khuyến khích doanh nghiệp tài trợ trang thiết bị thực hành, chi phí hướng dẫn và bố trí vị trí học tại nơi làm việc; chính quyền địa phương xem xét các ưu đãi phù hợp như miễn giảm tiền sử dụng đất, khấu trừ chi phí đào tạo hoặc các hình thức hỗ trợ khác trong khuôn khổ chương trình do Hội đồng Kỹ năng tỉnh phê duyệt.
4.4. Chương trình và đánh giá theo năng lực, học tại nơi làm việc
Cấu trúc chương trình chuyển sang đào tạo theo năng lực, trong đó mỗi đơn hàng kỹ năng được thiết kế thành tín chỉ kỹ năng dạng vi mô có khả năng tích lũy và được công nhận lẫn nhau giữa các cơ sở. Thời lượng học tại nơi làm việc đạt khoảng ba mươi đến năm mươi phần trăm, tổ chức theo các “tuần kỹ năng” bám sát chu kỳ sản xuất và cung ứng dịch vụ, với cơ chế đồng hướng dẫn và đồng chấm giữa giảng viên và người hướng dẫn tại doanh nghiệp. Hoạt động đánh giá tại nơi làm việc sử dụng bảng tiêu chí năng lực do Hội đồng Kỹ năng tỉnh phê duyệt; người hướng dẫn tại doanh nghiệp được bồi dưỡng nghiệp vụ và cấp thẻ đánh giá viên để bảo đảm tính chuẩn hóa và độ tin cậy của minh chứng năng lực. Cơ chế liên thông cho phép tín chỉ kỹ năng tích lũy lên các trình độ cao hơn hoặc chuyển ngang giữa các cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho học tập suốt đời và di chuyển nghề nghiệp.
4.5. Bảo đảm chất lượng và dữ liệu
Khung bảo đảm chất lượng nhiều vòng được vận hành theo trình tự tự đánh giá ở cấp cơ sở, đánh giá đồng đẳng có sự tham gia của doanh nghiệp và đánh giá độc lập ở cấp tỉnh. Bộ chỉ số cốt lõi bao gồm tỷ lệ sinh viên có việc làm phù hợp sau sáu tháng, tỷ lệ hoàn thành đơn hàng kỹ năng đúng thời hạn và đúng chất lượng, tỷ lệ tín chỉ kỹ năng được doanh nghiệp công nhận, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và người học, tỷ lệ giảng viên có trải nghiệm công nghiệp tối thiểu hai tháng trong một năm. Hệ thống thông tin quản lý tích hợp với nền tảng của Hội đồng Kỹ năng tỉnh cho phép theo dõi đơn hàng, tiến độ và kết quả theo thời gian thực, đồng thời cung cấp dữ liệu đầu vào cho phân tích dự báo và lập kế hoạch chu kỳ đặt hàng kỹ năng.
4.6. Phát triển năng lực tác nhân và truyền thông
Chương trình phát triển năng lực cho đội ngũ giảng viên giáo dục nghề nghiệp tập trung vào chuẩn năng lực nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế, kết hợp các đợt thâm nhập doanh nghiệp hằng năm để cập nhật quy trình công nghệ và văn hóa sản xuất. Doanh nghiệp được huấn luyện về thiết kế chương trình theo năng lực, tổ chức dạy và học tại nơi làm việc, an toàn lao động và hướng dẫn kiểu cố vấn nhằm nâng cao chất lượng giám sát và đánh giá người học. Chiến lược truyền thông định vị giáo dục nghề nghiệp gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh và chuyển đổi số, hướng tới phụ huynh, học sinh và lực lượng lao động đang chuyển đổi nghề, qua đó nâng cao hình ảnh kỹ năng nghề, củng cố niềm tin xã hội và tăng cường thu hút người học vào các chương trình có liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp.
5. Kết luận
Tiếp cận “đặt hàng kỹ năng” tạo cơ chế liên kết nhà trường – doanh nghiệp dựa trên nhu cầu thực và kết quả đầu ra đo lường được, qua đó cải thiện mức độ phù hợp của chương trình, hiệu quả chi tiêu công và khả năng có việc làm đúng nghề. Mô hình sáu hợp phần cùng lộ trình ba giai đoạn giúp chuẩn hóa quản trị liên kết, mở rộng học tại nơi làm việc, thúc đẩy tài chính theo kết quả và nâng cao năng lực của các tác nhân trong hệ sinh thái. Triển khai nghiêm túc các giải pháp về thiết chế đồng quản trị, dữ liệu thị trường lao động, chuẩn năng lực và đánh giá tại nơi làm việc sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách kỹ năng, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của Thanh Hóa trong giai đoạn 2025–2027 và những năm tiếp theo.
6. Tài liệu tham khảo
[1]. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam. (2019). Quyết định số 17/2019/QĐ-TTg về một số gói thầu, nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên được áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt.
[2]. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam. (2021). Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập
[3]. Hậu, Đ. T., & Cường, B. H. (2025). Định hướng phát triển hợp tác đào tạo tiếng anh chuyên ngành thương mại–dịch vụ giữa nhà trường và doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tạp chí Khoa học và Công nghệ-Đại học Đà Nẵng, 16-19.
[4]. International Labour Organization. (2020). Skills development and lifelong learning: Resource guide for workers’ organizations. ILO.
[5]. Ngọc, P. T. Á. (2025). Xây dựng khung năng lực giảng viên giáo dục nghề nghiệp ở các trường cao đẳng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Journal of Science Educational Science, 51-62.
[6]. OECD. (2010). Learning for jobs (OECD Reviews of Vocational Education and Training). OECD.
[7]. Phương, T. N. (2023). Nâng Cao Hiệu Quả Phối Hợp Giữa Nhà Trường Và Doanh Nghiệp Du Lịch Trong Hoạt Động Thực Tế, Thực Tập Cho Sinh Viên Ngành Quản Trị Dịch Vụ Du Lịch Và Lữ Hành, Trường Đại Học Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Thanh Hóa. Tạp chí Khoa học, (03 (18) T11), 113-113.
[8]. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. (2014). Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13.
[9]. Tổng cục Thống kê. (2024). Niên giám Thống kê 2023. Nhà xuất bản Thống kê.
[10]. Trang, P. T. T., Thúy, B. T., Thủy, N. T. T., & Hùng, H. T. (2019). Thúc Đẩy Hoạt Động Liên Kết Giữa Nhà Trường Và Doanh Nghiệp–Trường Hợp Nghiên Cứu Tại Trường Đại Học Kinh Tế, Đại Học Huế. Hue University Journal of Science: Economics and Development, 128(5A), 79-91.
[11]. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. (2023). Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến 2045