NGUYỄN HOÀNG ANH
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Tóm tắt
Trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954, đồng bằng Bắc Bộ là địa bàn chiến lược trọng yếu, nơi thực dân Pháp tập trung thực hiện các cuộc càn quét, bình định nhằm giữ “vùng có ích”, phá hoại cơ sở kháng chiến và ngăn chặn sự phối hợp của ta với chiến trường chính. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân đồng bằng Bắc Bộ đã phát huy thế trận chiến tranh nhân dân, đẩy mạnh đấu tranh chống càn quét bằng nhiều hình thức linh hoạt, sáng tạo. Hoạt động này không chỉ tiêu hao, kìm giữ và phân tán lực lượng địch mà còn bảo vệ hậu phương, duy trì và mở rộng vùng du kích, đồng thời bảo đảm chi viện sức người, sức của cho chiến trường chính. Qua đó, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Từ khóa: chống càn quét; đồng bằng Bắc Bộ; Đông - Xuân 1953-1954; chiến tranh nhân dân; Điện Biên Phủ.
Abstract
During the Winter-Spring Campaign of 1953-1954, the Red River Delta constituted a strategically vital theater in which the French colonial forces concentrated their sweeping and pacification operations aimed at retaining the “useful areas,” dismantling resistance bases, and preventing coordination between local forces and the main battlefield. Under the leadership of the Communist Party of Vietnam, the military and civilian population in the Red River Delta effectively mobilized the posture of people’s war, intensifying anti-sweep resistance through diverse, flexible, and innovative forms of struggle. These activities not only inflicted attrition, containment, and dispersion upon enemy forces, but also safeguarded the rear areas, sustained and expanded guerrilla zones, and ensured the provision of manpower and material support to the principal front. Consequently, they made a significant contribution to the victory of the Battle of Điện Biên Phủ.
Keywords: anti-sweep operations; Red River Delta; Winter–Spring 1953–1954; people’s war; Điện Biên Phủ.
1. Đặt vấn đề:
Sau thất bại trong Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950, thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào thế bị động và phụ thuộc nặng nề vào viện trợ Mỹ. Thực hiện Kế hoạch Nava (1953) nhằm “kết thúc chiến tranh trong danh dự”, Pháp tập trung xây dựng lực lượng cơ động chiến lược tại đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời đẩy mạnh bình định bằng các cuộc càn quét quy mô lớn để giữ cho bằng được “vùng đồng bằng có ích” này. Từ tháng 12/1953 đến tháng 3/1954, địch đã tiến hành 392 trận càn tại các địa bàn trọng điểm như Kiến An, Hưng Yên, Hải Dương nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến và phá hoại cơ sở cách mạng. Tuy nhiên, việc phân tán lực lượng để kiểm soát đồng bằng đã làm suy giảm khả năng cơ động chiến lược của quân Pháp, tạo điều kiện để quân và dân ta đẩy mạnh chiến tranh du kích, chống càn quét, phá giao thông và đánh vào hậu cần địch, góp phần làm suy yếu hệ thống quân sự Pháp trong giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến.
2. Chủ trương và chỉ đạo của Đảng đối với đồng bằng Bắc Bộ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954
Trước âm mưu càn quét, bình định của thực dân Pháp, Đảng đã xác định đúng vị trí của đồng bằng Bắc Bộ trong thế trận chung của cuộc kháng chiến. Nếu miền núi, trung du là nơi thuận lợi cho xây dựng căn cứ và mở các chiến dịch vận động lớn, thì đồng bằng Bắc Bộ là nơi phải phát huy cao độ chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng tại chỗ, kết hợp đấu tranh quân sự với chính trị, binh vận, kinh tế, văn hóa, xã hội. Về phương châm, Đảng coi chiến tranh du kích là hình thức tác chiến căn bản ở vùng sau lưng địch, đặc biệt phù hợp với đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình đồng bằng có nhiều làng mạc, sông ngòi, ruộng đồng, đường giao thông, đồn bốt địch xen kẽ với khu dân cư. Trong điều kiện đó, nếu chỉ dùng lực lượng tập trung lớn sẽ khó duy trì lâu dài; ngược lại, nếu phát triển lực lượng tại chỗ, bám dân, bám đất; “đánh nhỏ, đánh gần, đánh liên tục”, thì có thể làm cho địch luôn bị động, không lúc nào yên ổn. Tháng 9-1953 Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp và ra Nghị quyết về chủ trương tác chiến chiến lược trong Đông Xuân 1953-1954. Sau khi phân tích tình hình Bộ Chính trị quyết định mở các cuộc tiến công chiến lược trên các hướng Tây Bắc, Trung - Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên và Thượng Lào nhằm buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời, Bộ Chính trị chủ trương “đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, củng cố và phát triển các căn cứ du kích và khu du kích, phối hợp với các cuộc tiến công trên (các cuộc tiến công lên Tây Bắc, Trung-Hạ Lào)” [1, tr.11]. Trên cơ sở chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 10/1953, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cụ thể cho Liên khu 3, Khu Tả Ngạn cùng với Mặt trận Hà Nội “tiến công tiêu hao, tiêu diệt địch, đánh phá các đường giao thông thủy, bộ và sân bay, giam chân chủ lực địch”. Riêng Đại đoàn 320 (đứng chân ở vùng tự do Tây Nam tỉnh Ninh Bình), làm lực lượng dự bị, chuẩn bị sẵn sàng tham gia tiến công địch ở đồng bằng” [2, tr.289]. Chấp hành nhiệm vụ của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Liên khu 3 và Khu Tả Ngạn khẩn trương triển khai công tác chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954. Tranh thủ thời cơ khi địch chưa mở rộng đánh phá, Liên khu 3, Khu ủy Tả ngạn và các tỉnh đảng bộ đã quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng phát động quần chúng cải cách ruộng đất, đồng thời huy động toàn diện lực lượng với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, “Quyết tâm đánh bại kế hoạch Na-va”. Các đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương tích cực chỉnh quân chính trị, chỉnh huấn quân sự; công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật được tăng cường với việc tích trữ vũ khí, đạn dược, huy động lương thực, thuốc men. Đồng thời, hàng nghìn thanh niên nhập ngũ, hàng vạn nhân dân tham gia mở đường, vận chuyển, tạo cơ sở trực tiếp phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Trước việc dân quân Liên khu 3 khẩn trương triển khai chuẩn bị cho việc thực hiện chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị đề ra, địch cho rằng ta sẽ mở cuộc tiến công lớn ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 15-10-1953 Nava quyết định mở cuộc hành binh mang tên Hải Âu (Mouette) đánh phía tây nam tỉnh Ninh Bình nhằm thăm dò lực lượng ta, loại Sư đoàn 320 ra khỏi vòng chiến đấu, ngăn chặn đường giao thông liên lạc giữa Khu 3, Khu 4 và Việt Bắc. Nhận được mật điện của Bộ Tổng Tư lệnh về việc chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công của Pháp ra vùng tự do tây nam tỉnh Ninh Bình, Liên khu 3 đã hiệp đồng với Đại đoàn 320 về kế hoạch chuẩn bị phá càn và tổ chức ban chỉ đạo chung của mặt trận này. Trung tuần tháng 10-1953, nhiều đoàn cán bộ của Liên khu 3 và Đại đoàn 320 đã xuống giúp cơ sở chuẩn bị chiến đấu. Sau 23 ngày đêm kiên cường chiến đấu (từ ngày 15-10 đến ngày 06-11), quân dân Liên khu 3 phối hợp với Đại đoàn 320 đã đánh tan cuộc hành binh Hải Âu của thực dân Pháp, tiêu diệt hơn 4000 tên địch (phần lớn là lính Âu - Phi). Riêng các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Ninh Bình đã diệt và bắt 780 tên, phá hủy 13 xe, thu nhiều vũ khí [3, tr.399]. Để thu hút, giam chân địch, phối hợp với các chiến trường theo kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 và tranh thủ thời cơ tiêu hao, tiêu diệt địch trong tháng 11 và 12-1953, quân dân Liên khu 3 tiếp tục mở hàng loạt trận đánh vừa và nhỏ vào nhiều vị trí quân địch và đánh tan các cuộc càn quét của chúng vào khu du kích Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, Trực Ninh (Nam Định) và Thái Bình. Chỉ trong 3 tháng mở đầu chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, quân và dân đồng bằng Bắc Bộ đã chủ động tiến công, từng bước làm thất bại kế hoạch bình định của địch, đạt kết quả đáng kể: tiêu diệt hơn 2.000 tên địch, làm bị thương 1.147 tên, bắt 733 tên, số vũ khí thu được của địch đủ trang bị cho một trung đoàn chủ lực [4, tr.401]. Trên cơ sở đó, tháng 12/1953, Liên khu III và Khu Tả Ngạn tiếp tục chủ trương: tích cực chống càn quét, tập trung lực lượng phối hợp với Đại đoàn 320 đánh phá phòng tuyến sông Đáy, mở rộng căn cứ du kích, đồng thời tăng cường phá giao thông, hậu cần, đẩy mạnh binh vận và huy động sức người, sức của chi viện cho mặt trận Chiến dịch Điện Biên Phủ [5, tr.401]. Thực hiện chủ trương trên, lực lượng vũ trang đồng bằng Bắc Bộ đã phối hợp hiệu quả với Đại đoàn 320 tiến công các tuyến phòng thủ sông Đáy, sông Luộc, tiêu diệt và bức rút nhiều đồn bốt, đặc biệt quân dân tỉnh Thái Bình đã đánh bại cuộc hành binh Giécphô của Pháp kéo dài hơn 1 tháng (từ ngày 12-12-1953 đến ngày 20-01-1954). Trong trận chống càn này, chỉ riêng ở Duyên Hà, từ ngày 18-12-1953 đến ngày 10-02-1954 quân và dân nơi đây đã tiêu diệt 262 tên địch, làm bị thương 153 tên khác, phá hủy 02 xe tăng, 02 xe tải [6, tr.406], gây cho địch nhiều thiệt hại và buộc địch chuyển từ thế chủ động càn quét sang bị động đối phó. Những thắng lợi này không chỉ làm suy yếu hệ thống kiểm soát của địch ở đồng bằng mà còn trực tiếp mở đầu cho cao trào chi viện của quân, dân đồng bằng Bắc Bộ đối với mặt trận Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngày 23/2/1954, Bộ Chính trị ra chỉ thị nêu rõ nhiệm vụ của quân dân đồng bằng Bắc Bộ: “Lợi dụng mọi cơ hội để đánh nhỏ, phá hoại giao thông, kho tàng, đánh địa lôi, phá hoại cầu đường, làm cản trở vận chuyển của địch, giữ một bộ phận cơ động của địch, chống địch bắt lính, đồng thời phát triển cơ sở của ta” [7, tr.35-36]. Quán triệt sâu sắc chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 2/3/1954, Liên khu ủy 3 ra chỉ thị số 05/CT-BA nêu rõ: “Tranh thủ thời cơ hoạt động rộng khắp, củng cố khu du kích cũ và mới, mở thêm khu du kích. Nắm vững phương châm tác chiến, tranh thủ tiến công địch, phối hợp các chiến trường toàn quốc và các địa phương trong Liên khu. Đẩy mạnh hoạt động trên các đường giao thông, tăng cường hoạt động của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Phát triển tập kích, phục kích trong chống càn, chú trọng dìu dắt du kích trong chống càn nhỏ, kìm giữ lực lượng cơ động địch, thu hút địch ở hữu ngạn để phối hợp đắc lực với Điện Biên Phủ và các chiến trường khác” [8, tr. 386, 388, 389].
Mở đầu đợt hoạt động, đêm 3 rạng ngày 4-3-1954, một phân đội gồm 16 chiến sĩ từ làng Thạch Cầu (Gia Lâm) đã tiến hành tập kích sân bay Gia Lâm - một trong những căn cứ không quân quan trọng bậc nhất của Pháp ở Bắc Đông Dương, đồng thời là đầu mối tiếp tế chủ yếu cho chiến trường Điện Biên Phủ. Kết quả, ta phá hủy 18 máy bay, cùng hệ thống nhà sửa chữa và kho xăng, tiêu diệt 16 tên địch. Tiếp đó, đêm 6 rạng ngày 7-3-1954, phân đội chiến đấu gồm 32 chiến sĩ bộ đội tỉnh Kiến An tập kích sân bay Cát Bi, phá hủy 59 máy bay cùng nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch. Đây là trận đánh đạt hiệu suất tiêu diệt và phá hủy máy bay lớn nhất của ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hai trận tập kích liên tiếp tại Gia Lâm và Cát Bi đã gây tổn thất nặng nề cho không quân Pháp, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng vận tải hàng không, đặc biệt là hoạt động tiếp tế cho mặt trận Điện Biên Phủ, qua đó tác động trực tiếp đến cục diện chiến trường toàn quốc. Trên đà thắng lợi, các địa phương ở đồng bằng Bắc Bộ đẩy mạnh hoạt động chống càn, bao vây, tiêu hao sinh lực địch tại nhiều địa bàn như Ninh Bình, Sơn Tây, Kiến An. Tiêu biểu, tại Thái Bình, chỉ trong 15 ngày đầu tháng 2-1954, lực lượng bộ đội và du kích đã đánh bại hai cuộc càn quét lớn của binh đoàn cơ động số 8 vào các khu du kích Vũ Tiên, Thư Trì, Kiến Xương, tiêu diệt 96 tên, làm bị thương 161 tên địch. Sau khi phá càn thành công, lực lượng vũ trang Thái Bình chuyển sang thế tiến công, vây ép địch. Các làng chiến đấu thuộc Kiến Xương, Vũ Tiên, Tiền Hải phối hợp với Tiểu đoàn 53 bộ đội địa phương tỉnh tiến công khu tập trung Thân Thượng - nơi địch dồn hơn 4 vạn dân trong diện tích khoảng 3 km² - qua đó làm thất bại âm mưu dồn dân, tập trung dân nhằm kiểm soát và bình định của chúng. Song song với hoạt động chống càn quét, thực hiện chỉ thị của Liên khu, phát huy tinh thần, kết quả “cuộc tổng công kích đường 5” trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân Kiến An đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp tác chiến nhằm cản phá khả năng cơ động của địch. Trên tuyến đường số 10, quân dân Kiến An đã tổ chức đào hố, phá đường, hạn chế hoạt động vận chuyển và tiếp viện của chúng; đồng thời, trên các tuyến sông, hình thành các tổ, đội chuyên trách đánh địch, tăng cường kiểm soát và uy hiếp giao thông thủy. Trong quá trình thực hiện, ngày 2-4-1954, du kích An Lão sử dụng địa lôi đánh đổ một đoàn tàu gồm 22 toa, tiêu diệt gần 200 tên địch. Tiếp đó, ngày 15-4-1954, lực lượng này tiếp tục phá hủy một đoàn tàu và bốn toa xe tại khu vực nhà máy gạch, tiêu diệt thêm 20 tên địch. Những trận đánh này đã góp phần quan trọng làm gián đoạn hệ thống vận tải, tiếp tế của địch trên địa bàn cho các chiến trường khác, đặc biệt là Điện Biên Phủ.
Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, cùng với quân dân cả nước, quân dân Liên khu 3, Khu Tả Ngạn đã chủ động chống càn quét và tiến công địch giành nhiều thắng lợi. Quân dân đồng bằng Bắc Bộ đã tiêu diệt hơn 4.000 tên địch; tiêu diệt, bức rút, bức hàng 250 vị trí; bắn rơi, phá hủy 82 máy bay; thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh [9, tr.420]; khiến địch không thể rút lực lượng cơ động để tăng cường cho các chiến trường, nhất là Điện Biên Phủ; mở rộng nhiều khu du kích, căn cứ du kích, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch trong các thành phố, thị xã, các trục đường giao thông huyết mạch và các mục tiêu trọng yếu.
Cùng với hoạt động tác chiến, phong trào đấu tranh chính trị và công tác binh địch vận trong các vùng tạm chiếm cũng được đẩy mạnh, góp phần làm suy giảm tinh thần và lực lượng của địch. Chỉ trong 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 6-1954) ở Hà Nam đã có hơn 4000 ngụy binh bỏ ngũ, nhiều người mang cả vũ khí trở về [10, tr.131]. Đồng thời, quân và dân đồng bằng Bắc Bộ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huy động sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến, đặc biệt là chiến trường chính Tây Bắc và Chiến dịch Điện Biên Phủ. Những tháng đầu năm 1954, gần 1 vạn thanh niên nhập ngũ bổ sung cho quân thường trực. Hàng vạn dân công từ các tỉnh đồng bằng Liên khu 3, Khu Tả Ngạn tấp nập thồ, tải súng đạn, lương thực, thực phẩm ra phía trước. Mặc dù vừa trải qua vụ đói ngặt nghèo, nhân dân các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ vẫn tự nguyện đóng góp cho Nhà nước hàng nghìn tấn lương thực, nhiều địa phương nộp vượt chỉ tiêu quy định. Liên khu 3, Khu Tả Ngạn đã cung cấp cho Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ: 1.464 tấn gạo, 64 tấn thịt, 266 tấn muối, 51,66 tấn rau khô, 6.400 dân công, 1.712 xe đạp thồ, 736 xe bò, ngựa, trâu [11, tr.289]. Ngày 7/5/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, buộc thực dân Pháp phải đi đến ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
3. Một số nhận xét có ý nghĩa lịch sử và lý luận.
Thứ nhất, chống càn quét ở đồng bằng Bắc Bộ là một bộ phận hữu cơ của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Nó không phải là hoạt động địa phương biệt lập, mà gắn chặt với chiến lược chung của cuộc kháng chiến. Nhờ chống càn quét, ta giữ vững được cơ sở chính trị, bảo vệ nhân dân, phát triển lực lượng vũ trang, mở rộng vùng du kích, làm thất bại từng bước âm mưu bình định của địch.
Thứ hai, chống càn quét đã góp phần trực tiếp vào thắng lợi Điện Biên Phủ thông qua ba phương diện chủ yếu: giam chân, phân tán lực lượng địch; đánh phá giao thông, sân bay, kho tàng, làm suy yếu hậu cần và cơ động của địch; bảo vệ và phát huy nguồn chi viện nhân lực, vật lực cho chiến dịch. Những phương diện này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa chiến trường đồng bằng và chiến trường Tây Bắc.
Thứ ba, thành công của chống càn quét bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Đảng đã nhận thức đúng vị trí chiến lược của đồng bằng Bắc Bộ, đề ra chủ trương phát triển chiến tranh du kích sau lưng địch, củng cố căn cứ du kích, khu du kích, phối hợp với các chiến trường chính. Sự chỉ đạo ấy vừa sát thực tiễn địa bàn, vừa phục vụ mục tiêu chiến lược toàn cục.
Thứ tư, chống càn quét ở đồng bằng Bắc Bộ cho thấy vai trò quyết định của nhân dân. Nhân dân không chỉ là người cung cấp lương thực, dân công, thanh niên nhập ngũ, mà còn là lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng làng chiến đấu, bảo vệ cơ sở, đấu tranh chính trị, binh vận, che giấu cán bộ, phục vụ chiến đấu. Không có dân, chiến tranh du kích không thể tồn tại; không có thế trận lòng dân, chống càn quét không thể giành thắng lợi.
Thứ năm, thực tiễn này góp phần làm sâu sắc thêm nhận thức về thắng lợi Điện Biên Phủ. Điện Biên Phủ không chỉ được tạo nên bởi pháo binh, bộ binh, chiến hào và những trận đánh quyết liệt ở Tây Bắc, mà còn bởi hàng nghìn hoạt động phối hợp trên khắp các chiến trường, trong đó có đồng bằng Bắc Bộ. Mỗi trận chống càn, mỗi đoạn đường bị phá, mỗi sân bay bị tập kích, mỗi cuộc đấu tranh chống bắt lính, mỗi chuyến dân công, mỗi tấn gạo chi viện đều là một phần của thắng lợi chung.
Kết luận
Trong Đông Xuân 1953-1954, chống càn quét ở đồng bằng Bắc Bộ đã phát triển lên một trình độ mới, trở thành hoạt động phối hợp chiến lược trực tiếp với Điện Biên Phủ. Bằng việc giam chân và phân tán lực lượng địch, đánh phá giao thông, sân bay, kho tàng, làm suy yếu khả năng cơ động và tiếp tế của Pháp, đồng thời cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến, quân và dân đồng bằng Bắc Bộ đã góp phần quan trọng vào thắng lợi Điện Biên Phủ. Thực tiễn đó khẳng định: thắng lợi Điện Biên Phủ là kết quả tổng hợp của cả nước, của toàn dân, của nhiều chiến trường, nhiều lực lượng, nhiều hình thức đấu tranh. Trong thắng lợi ấy có đóng góp to lớn của quân và dân đồng bằng Bắc Bộ - những người đã biến vùng địch hậu thành mặt trận tiến công, biến chống càn quét thành một phương thức tạo thế, tạo lực cho trận quyết chiến chiến lược. Đây cũng là minh chứng sinh động cho sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tài liệu tham khảo
[10] Lê Thanh Bài (2019), Làng chiến đấu vùng đồng bằng Bắc Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân.
[8] Bộ Tổng Tham mưu (1964), Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy (Tập 4), Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, Hà Nội.
[3], [4], [5], [6], [9] Bộ Tư lệnh Quân khu 3 và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2005), Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu 3 (1945-1955), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15 (1954), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011.
[11] Cục Hậu cần (2004), Lịch sử Hậu cần Quân khu 3 trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.
[2] Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập II, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.
[1] Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1991), Chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ (13-3 - 07-5-1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.