Thiều Thị Thúy Thanh
Trường THCS Phan Văn Trị, Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đứng trước nhiều thách thức mới, phức tạp và khó lường. Đội ngũ đoàn viên giáo viên không chỉ thực hiện nhiệm vụ truyền thụ tri thức mà còn giữ vai trò là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, đặc biệt trong môi trường lớp học. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy vai trò đoàn viên giáo viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; phân tích thực trạng, nguyên nhân; đề xuất các mô hình sáng tạo và giải pháp khả thi. Qua đó khẳng định lớp học chính là không gian quan trọng để hình thành bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và xây dựng “sức đề kháng tư tưởng” cho thế hệ trẻ trong kỷ nguyên số.
Từ khóa: Nền tảng tư tưởng; giáo viên trẻ; lớp học; giáo dục chính trị; không gian mạng.
1. Đặt vấn đề
Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là cơ sở lý luận, kim chỉ nam cho mọi đường lối, chủ trương và hành động cách mạng. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chính sự kiên định và vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng đó đã tạo nên những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam trong hơn chín thập niên qua. Như đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng” [11, tr 7].
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, nền tảng tư tưởng của Đảng đang đứng trước nhiều nguy cơ bị xuyên tạc, phủ nhận. Các thế lực thù địch không ngừng sử dụng nhiều phương thức tinh vi nhằm “phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối của Đảng” [2]. Đặc biệt, chúng triệt để khai thác môi trường mạng xã hội để lan truyền thông tin sai lệch, tạo tâm lý hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và thanh niên.
Trong bối cảnh đó, thanh thiếu niên trở thành đối tượng dễ bị tác động nhất. Với đặc điểm tâm lý đang hình thành thế giới quan, cùng với việc tiếp cận thông tin nhanh nhưng thiếu chọn lọc, học sinh có thể bị ảnh hưởng bởi những quan điểm sai trái nếu không được định hướng kịp thời. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với giáo dục nhà trường, đặc biệt là vai trò của đội ngũ giáo viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Dạy cũng như học phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là cái gốc rất quan trọng” [7, tr 400]. Quan điểm đó cho thấy giáo dục không chỉ dừng lại ở truyền đạt tri thức mà còn là quá trình hình thành nhân cách, tư tưởng và niềm tin. Trong bối cảnh hiện nay, điều này càng trở nên cấp thiết khi lớp học trở thành nơi “đầu nguồn” của việc xây dựng bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ.
Đặc biệt, đội ngũ đoàn viên giáo viên với đặc trưng là trẻ, năng động, có khả năng tiếp cận công nghệ và gần gũi với học sinh, giữ vai trò quan trọng trong việc lan tỏa giá trị đúng đắn, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái ngay từ trong môi trường giáo dục. Như Nghị quyết số 35 đã chỉ rõ, mỗi cán bộ, đảng viên đều là lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng [2]. Trong đó, giáo viên chính là lực lượng tiên phong trong việc “chuyển hóa” mặt trận này thành không gian giáo dục cụ thể.
Do đó, việc nghiên cứu vai trò của đoàn viên giáo viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ “mặt trận lớp học” không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc, góp phần xây dựng thế hệ công dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng “tự miễn dịch” trước các thông tin sai lệch trong thời đại số.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý luận
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của chế độ. Theo quan điểm của Đảng, nền tảng tư tưởng không chỉ là hệ thống lý luận mà còn là niềm tin, giá trị và định hướng hành động của toàn xã hội. “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc…” [8, tr 47]
Từ góc độ lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bao gồm ba nội dung cơ bản: Thứ nhất, kiên định và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Thứ hai, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thứ ba, củng cố niềm tin của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử và nhân dân ta” [9, tr 10]. Điều này khẳng định tính tất yếu khách quan của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng, không chỉ về mặt chính trị mà còn về mặt nhận thức xã hội.
Trong lĩnh vực giáo dục, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được thể hiện thông qua quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức cho học sinh. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục phải hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người, trong đó đạo đức giữ vai trò nền tảng. Người chỉ rõ: “Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng” [7, tr 401]
Điều này đặt ra yêu cầu đối với giáo viên không chỉ là người truyền đạt tri thức mà còn là người định hướng tư tưởng. Lớp học vì vậy không chỉ là không gian học tập mà còn là môi trường giáo dục chính trị, nơi học sinh được hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan đúng đắn và thái độ trách nhiệm đối với xã hội.
Đối với đoàn viên giáo viên, vai trò này càng trở nên rõ nét. Với đặc điểm gần gũi, dễ tiếp cận và có khả năng sử dụng công nghệ thông tin, giáo viên trẻ có thể trở thành “cầu nối” giữa lý luận chính trị và thực tiễn đời sống học sinh. Họ không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn giúp học sinh “giải mã” thông tin trên không gian mạng, từ đó hình thành năng lực nhận diện đúng sai.
Một trong những yêu cầu quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng hiện nay là gắn lý luận với thực tiễn. Như đã được khẳng định, lý luận phải gắn liền với thực tiễn, được kiểm nghiệm và phát triển trong thực tiễn. Điều này đặc biệt phù hợp với môi trường lớp học, nơi giáo viên có thể lồng ghép các nội dung giáo dục tư tưởng vào bài giảng một cách tự nhiên, sinh động.
Ví dụ, trong môn Ngữ văn, khi giảng dạy các tác phẩm về lịch sử, truyền thống dân tộc, giáo viên có thể định hướng học sinh nhận thức đúng về giá trị của độc lập dân tộc, vai trò của Đảng trong lịch sử. Trong môn Giáo dục công dân, các nội dung về pháp luật, quyền và nghĩa vụ công dân có thể được liên hệ với thực tiễn xã hội để giúp học sinh hiểu rõ hơn về trách nhiệm cá nhân.
2.2. Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn hiện nay cho thấy, không gian mạng đang trở thành “mặt trận chính” trong cuộc đấu tranh tư tưởng. Theo thống kê, Việt Nam có trên 77 triệu người sử dụng internet, trong đó tỷ lệ thanh thiếu niên chiếm phần lớn. Thời gian sử dụng mạng xã hội trung bình từ 5 đến 7 giờ mỗi ngày, tạo điều kiện cho các luồng thông tin đa chiều tác động mạnh mẽ đến nhận thức.
Các thế lực thù địch đã lợi dụng điều này để lan truyền thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu phát triển của đất nước. Như tài liệu đã chỉ rõ: “Chúng đặc biệt sử dụng internet và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng các sai sót trong quản lý để kích động…” [2]
Trong môi trường học đường, những biểu hiện này không phải là hiếm gặp. Một số học sinh có biểu hiện tiếp nhận thông tin thiếu chọn lọc, dễ tin vào các nguồn tin không chính thống. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực “miễn dịch thông tin” cho học sinh.
Tình huống thực tiễn: Trong một tiết học Ngữ văn lớp 9, khi thảo luận về chủ đề lòng yêu nước, một học sinh đã nêu quan điểm rằng “hiện nay đất nước vẫn còn nhiều vấn đề nên không đáng tự hào như trong sách giáo khoa”. Trước tình huống này, giáo viên không phủ nhận ý kiến mà gợi mở bằng cách yêu cầu học sinh phân tích cả mặt tích cực và hạn chế của xã hội, đồng thời cung cấp số liệu về tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống và vị thế quốc tế của Việt Nam. Qua đó, học sinh nhận thức được rằng yêu nước không phải là phủ nhận thực tế, mà là nhìn nhận đúng và có trách nhiệm xây dựng đất nước.
Tình huống trên cho thấy, nếu giáo viên có phương pháp phù hợp, lớp học có thể trở thành không gian đối thoại tích cực, giúp học sinh hình thành tư duy phản biện đúng hướng, thay vì bị cuốn theo các thông tin sai lệch.
Bên cạnh những tác động tiêu cực từ không gian mạng, thực tiễn cũng cho thấy công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong nhà trường đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Nội dung giáo dục ngày càng được đổi mới, gắn với thực tiễn; phương pháp giảng dạy chuyển từ truyền thụ một chiều sang phát huy tính chủ động của học sinh. Tuy nhiên, hiệu quả chưa đồng đều giữa các địa phương, các trường và từng giáo viên.
Một trong những nguyên nhân quan trọng là việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vào các môn học chưa thực sự linh hoạt. Ở nhiều nơi, nội dung này vẫn mang tính lý thuyết, khô cứng, chưa gắn với trải nghiệm thực tế của học sinh. Trong khi đó, các luồng thông tin trên mạng xã hội lại sinh động, hấp dẫn và có tính lan truyền mạnh, tạo ra sự cạnh tranh không cân xứng trong tiếp nhận thông tin.
Thực tiễn cũng cho thấy, đoàn viên giáo viên có nhiều lợi thế trong việc tiếp cận học sinh. Họ gần gũi về tâm lý, dễ chia sẻ, dễ tạo sự đồng cảm. Đây là điều kiện thuận lợi để triển khai các hoạt động giáo dục tư tưởng theo hướng mềm dẻo, thuyết phục, thay vì áp đặt.
2.3. Thực trạng và nguyên nhân
2.3.1. Thực trạng
Hiện nay, vai trò của đoàn viên giáo viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ “mặt trận lớp học” đã được khẳng định nhưng vẫn tồn tại những hạn chế nhất định.
Thứ nhất, một bộ phận giáo viên chưa thực sự chú trọng lồng ghép giáo dục tư tưởng vào bài giảng. Việc giảng dạy vẫn thiên về truyền đạt kiến thức, chưa chú ý đến việc hình thành thái độ, niềm tin và bản lĩnh cho học sinh.
Thứ hai, kỹ năng nhận diện và phản bác thông tin sai lệch của cả giáo viên và học sinh còn hạn chế. Trong nhiều trường hợp, giáo viên lúng túng khi xử lý các tình huống phát sinh từ những quan điểm trái chiều trong lớp học.
Thứ ba, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục tư tưởng chưa chặt chẽ. Điều này dẫn đến tình trạng “lệch pha” trong nhận thức của học sinh khi tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.
Thứ tư, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục tư tưởng còn chưa hiệu quả. Trong khi các thế lực thù địch tận dụng triệt để mạng xã hội thì nhiều giáo viên vẫn chưa khai thác tốt công cụ này để lan tỏa thông tin tích cực.
2.3.2. Nguyên nhân
Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
Trước hết là nguyên nhân nhận thức. Một số giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của mình trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cho rằng đây là nhiệm vụ của các môn lý luận hoặc các tổ chức chính trị.
Thứ hai là nguyên nhân về năng lực. Không phải giáo viên nào cũng được trang bị đầy đủ kiến thức lý luận và kỹ năng xử lý thông tin đa chiều. Điều này khiến họ gặp khó khăn khi đối thoại với học sinh về các vấn đề nhạy cảm.
Thứ ba là nguyên nhân về phương pháp. Việc giáo dục tư tưởng đôi khi vẫn mang tính áp đặt, thiếu tính tương tác, chưa phù hợp với tâm lý và đặc điểm của học sinh trong thời đại số.
Thứ tư là nguyên nhân từ môi trường xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội với lượng thông tin khổng lồ, trong đó có nhiều thông tin sai lệch, đã tạo ra áp lực lớn đối với công tác giáo dục trong nhà trường.
Như đã được chỉ ra: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, hoang mang, dao động, giảm sút niềm tin…” [11, tr 7]. Điều này cho thấy nếu không có giải pháp kịp thời, nguy cơ ảnh hưởng đến thế hệ trẻ là hoàn toàn có thể xảy ra.
2.4. Mô hình hay, cách làm mới và sáng tạo
Trong thực tiễn giáo dục hiện nay, nhiều đoàn viên giáo viên đã chủ động triển khai các mô hình sáng tạo, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ lớp học. Các mô hình này không chỉ mang tính linh hoạt, phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh mà còn đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong kỷ nguyên số.
2.4.1. Mô hình lớp học đối thoại gắn với tình huống thực tiễn
Đây là mô hình kết hợp giữa phương pháp đối thoại và tình huống hóa bài học, nhằm phát huy tính chủ động, tư duy phản biện của học sinh. Giáo viên tổ chức các tiết học theo hướng mở, đưa ra những chủ đề có tính thời sự, gần gũi với đời sống để học sinh thảo luận, tranh luận và đưa ra quan điểm cá nhân. Trên cơ sở đó, giáo viên đóng vai trò định hướng, giúp học sinh nhận diện đúng sai và hình thành nhận thức đúng đắn.
Ví dụ, trong một tiết học về quyền tự do ngôn luận, học sinh có thể nêu quan điểm rằng “muốn nói gì cũng được trên mạng xã hội”. Thông qua đối thoại, giáo viên dẫn dắt để học sinh hiểu rằng tự do luôn gắn với trách nhiệm pháp lý và đạo đức. Mô hình này giúp học sinh nâng cao khả năng phân tích thông tin, đồng thời tạo môi trường học tập dân chủ, khuyến khích sự tham gia tích cực.
2.4.2. Mô hình lồng ghép thông điệp tư tưởng trong từng bài học
Mô hình này tập trung vào việc tích hợp các giá trị tư tưởng, đạo đức vào nội dung giảng dạy một cách tự nhiên, không gây áp lực cho học sinh. Mỗi bài học được thiết kế với một thông điệp ngắn gọn, phù hợp với nội dung môn học và đặc điểm nhận thức của học sinh.
Chẳng hạn, trong môn Ngữ văn có thể lồng ghép tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc; trong môn Lịch sử nhấn mạnh giá trị truyền thống; trong môn Giáo dục công dân đề cao ý thức pháp luật và trách nhiệm xã hội. Việc lặp lại các thông điệp này một cách thường xuyên sẽ tạo ra tác động bền vững, giúp học sinh hình thành hệ giá trị ổn định. Ưu điểm của mô hình là dễ triển khai, không làm thay đổi cấu trúc bài giảng nhưng vẫn đạt hiệu quả giáo dục lâu dài.
2.4.3. Mô hình giáo dục mở rộng trên không gian mạng và phối hợp đa chiều
Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, giáo viên cần mở rộng không gian giáo dục ra ngoài lớp học thông qua việc sử dụng mạng xã hội và tăng cường phối hợp với gia đình, các tổ chức liên quan. Đoàn viên giáo viên có thể tạo các nhóm học tập trực tuyến, chia sẻ thông tin chính thống, đồng thời phản hồi kịp thời những vấn đề học sinh quan tâm.
Song song với đó, việc kết nối với phụ huynh đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng nhận thức cho học sinh. Thông qua trao đổi thường xuyên, hướng dẫn quản lý việc sử dụng internet và tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, giáo viên và gia đình có thể tạo ra sự thống nhất trong giáo dục. Mô hình này giúp chủ động “chiếm lĩnh” không gian mạng, tăng cường tương tác ngoài giờ học và xây dựng môi trường giáo dục toàn diện, trong đó mọi yếu tố đều hướng tới việc hình thành bản lĩnh chính trị và năng lực tự bảo vệ của học sinh.
2.5. Giải pháp thực hiện
Để phát huy hiệu quả vai trò của đoàn viên giáo viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ “mặt trận lớp học”, cần triển khai hệ thống giải pháp đồng bộ, có chiều sâu và gắn chặt với thực tiễn giáo dục. Những giải pháp này phải vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài, phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số và sự biến động nhanh chóng của môi trường thông tin hiện nay.
2.5.1. Nâng cao nhận thức chính trị và trách nhiệm nghề nghiệp của giáo viên
Giải pháp mang tính nền tảng đầu tiên là nâng cao nhận thức chính trị và trách nhiệm của đội ngũ giáo viên, đặc biệt là đoàn viên trẻ. Cần xác định rõ rằng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là nhiệm vụ riêng của các môn lý luận mà là trách nhiệm chung của mọi giáo viên, ở mọi cấp học, mọi môn học.
Theo quan điểm của Đảng: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc…” [8, tr 47]. Nhận thức đúng đắn nội dung này sẽ giúp giáo viên hiểu rõ vai trò của mình không chỉ là người dạy học mà còn là lực lượng trực tiếp tham gia bảo vệ trận địa tư tưởng trong nhà trường.
Để nâng cao nhận thức, cần tăng cường tổ chức sinh hoạt chuyên đề, học tập chính trị định kỳ, đặc biệt là các nội dung liên quan đến Nghị quyết số 35. Các hoạt động này cần đổi mới theo hướng gắn với thực tiễn, lấy tình huống cụ thể làm trung tâm thay vì chỉ truyền đạt lý thuyết khô cứng.
Đồng thời, mỗi giáo viên cần chủ động tự học, tự bồi dưỡng, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng. Khi có nhận thức đúng, giáo viên sẽ tự giác lồng ghép nội dung giáo dục tư tưởng vào bài giảng, góp phần hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh.
2.5.2. Nâng cao năng lực toàn diện, đặc biệt là năng lực tư duy và xử lý thông tin
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, năng lực của giáo viên không chỉ dừng lại ở chuyên môn mà còn phải mở rộng sang lĩnh vực nhận diện, phân tích và xử lý thông tin. Đây là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng trong nhà trường.
Như đã được khẳng định trong nghiên cứu: “Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam” [11, tr 7]. Do đó, việc trang bị kiến thức lý luận chính trị cho giáo viên là yêu cầu tất yếu nhằm giúp họ có cơ sở vững chắc để định hướng cho học sinh.
Bên cạnh đó, giáo viên cần được bồi dưỡng kỹ năng xử lý thông tin trong môi trường số. Điều này bao gồm khả năng xác định nguồn tin, phân tích nội dung, đánh giá độ tin cậy và phát hiện các yếu tố xuyên tạc. Đây cũng là kỹ năng cần thiết để hướng dẫn học sinh xây dựng “bộ lọc thông tin” cá nhân.
Một năng lực quan trọng khác là kỹ năng đối thoại. Trong lớp học hiện đại, giáo viên không thể áp đặt mà cần đối thoại, thuyết phục, dẫn dắt học sinh bằng lập luận và bằng chứng. Khi học sinh được tham gia vào quá trình nhận thức, niềm tin sẽ được hình thành một cách bền vững hơn.
2.5.3. Đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng phát triển tư duy phản biện và gắn với thực tiễn
Đổi mới phương pháp giáo dục là yêu cầu tất yếu để nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong nhà trường. Trọng tâm của đổi mới là chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực tư duy phản biện.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận phải gắn liền với thực tiễn và được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Điều này đặc biệt phù hợp với môi trường lớp học, nơi giáo viên có thể đưa các vấn đề xã hội, các tình huống thực tế vào bài giảng để học sinh phân tích và đánh giá.
Thay vì cung cấp sẵn kết luận, giáo viên cần đặt câu hỏi, tạo tình huống và khuyến khích học sinh tranh luận. Quá trình này giúp học sinh hình thành khả năng phân tích đa chiều, từ đó nâng cao năng lực nhận diện các quan điểm sai trái.
Đồng thời, cần chuyển từ phương pháp áp đặt sang định hướng. Giáo viên không nên áp đặt suy nghĩ mà cần đóng vai trò là người dẫn dắt, giúp học sinh tự nhận ra giá trị đúng đắn. Đây là cách tiếp cận phù hợp với đặc điểm tâm lý của thế hệ trẻ trong thời đại số.
2.5.4. Chủ động “chiếm lĩnh” không gian mạng và ứng dụng công nghệ trong giáo dục tư tưởng
Không gian mạng hiện nay là một trong những “mặt trận chính” của cuộc đấu tranh tư tưởng. Do đó, giáo viên không thể đứng ngoài mà cần chủ động tham gia và định hướng thông tin.
Thực tế cho thấy: “Chúng đặc biệt sử dụng internet và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng các sai sót… để kích động…” [2]. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sử dụng chính không gian mạng như một công cụ giáo dục.
Giáo viên cần tận dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin chính thống, lan tỏa giá trị tích cực và phản hồi kịp thời những vấn đề học sinh quan tâm. Việc xây dựng các nhóm học tập trực tuyến, diễn đàn trao đổi sẽ giúp mở rộng không gian giáo dục ra ngoài lớp học.
Bên cạnh đó, cần đổi mới hình thức truyền tải nội dung theo hướng hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu của học sinh. Các sản phẩm như video ngắn, hình ảnh trực quan, câu chuyện thực tế có thể giúp tăng hiệu quả tiếp nhận thông tin.
Quan trọng hơn, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng công nghệ một cách có trách nhiệm, biết chọn lọc thông tin và tự bảo vệ mình trước các tác động tiêu cực từ môi trường mạng.
2.5.5. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh gắn với sự phối hợp đa chiều
Giải pháp mang tính tổng thể là xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, trong đó lớp học trở thành không gian an toàn về tư tưởng và là nơi nuôi dưỡng niềm tin, giá trị đúng đắn cho học sinh.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Dạy cũng như học phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là cái gốc rất quan trọng” [7, tr 400]. Điều này khẳng định giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn là quá trình hình thành nhân cách và đạo đức.
Trong môi trường lớp học, giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh được bày tỏ ý kiến, được lắng nghe và được tôn trọng. Khi học sinh cảm thấy an toàn và được ghi nhận, các em sẽ cởi mở hơn trong việc tiếp nhận và điều chỉnh nhận thức.
Bên cạnh đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức đoàn thể. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng thói quen sử dụng thông tin của học sinh, trong khi các tổ chức đoàn thể góp phần tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng sẽ tạo ra một hệ sinh thái giáo dục toàn diện, trong đó mọi yếu tố đều hướng tới mục tiêu chung là xây dựng thế hệ trẻ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng “tự miễn dịch” trước các quan điểm sai trái.
Có thể khẳng định rằng, việc triển khai đồng bộ năm nhóm giải pháp trên sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong nhà trường. Trong đó, đoàn viên giáo viên giữ vai trò trung tâm, là lực lượng trực tiếp tác động đến nhận thức và niềm tin của học sinh.
Khi mỗi giáo viên thực sự trở thành một “chiến sĩ tư tưởng”, mỗi lớp học trở thành một “không gian giáo dục chính trị sống động”, thì công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được thực hiện từ gốc rễ, bền vững và hiệu quả trong kỷ nguyên mới
3. Kết luận
Trong bối cảnh kỷ nguyên số với sự bùng nổ thông tin và những tác động đa chiều đến nhận thức xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không còn là nhiệm vụ riêng của các cơ quan chuyên trách mà đã trở thành trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị, trong đó giáo dục giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nhà trường không chỉ là nơi truyền thụ tri thức mà còn là môi trường hình thành nhân cách, niềm tin và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ.
Thực tiễn đã cho thấy, lớp học chính là “mặt trận đầu tiên” trong việc xây dựng “sức đề kháng tư tưởng” cho học sinh. Tại đây, giáo viên không chỉ dạy chữ mà còn dạy người, không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn định hướng giá trị. Điều này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và tác động vào giới trẻ.
Đội ngũ đoàn viên giáo viên, với đặc điểm trẻ, năng động, có khả năng tiếp cận công nghệ và gần gũi với học sinh, chính là lực lượng xung kích trên mặt trận này. Họ có lợi thế trong việc nắm bắt tâm lý học sinh, dễ dàng tạo dựng niềm tin và truyền cảm hứng. Khi được trang bị đầy đủ kiến thức lý luận, kỹ năng sư phạm và bản lĩnh chính trị, đoàn viên giáo viên có thể trở thành những “người dẫn dắt tư tưởng” hiệu quả ngay trong lớp học.
Những mô hình như lớp học đối thoại, tình huống hóa bài học, giáo dục thông qua không gian mạng hay kết nối gia đình và nhà trường đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và hình thành tư duy phản biện đúng đắn cho học sinh. Đây chính là những cách làm sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của thế hệ trẻ trong thời đại số.
Tuy nhiên, để phát huy tối đa vai trò của đoàn viên giáo viên, cần có sự vào cuộc đồng bộ của nhiều yếu tố: từ nâng cao nhận thức, bồi dưỡng năng lực, đổi mới phương pháp giáo dục đến tăng cường ứng dụng công nghệ và xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Quan trọng hơn, mỗi giáo viên cần tự ý thức được trách nhiệm của mình, không đứng ngoài cuộc, mà chủ động tham gia vào công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Có thể khẳng định rằng, trong kỷ nguyên mới, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ diễn ra trên các diễn đàn lý luận hay không gian mạng mà còn hiện diện trong từng bài giảng, từng câu chuyện, từng tình huống trong lớp học. Khi mỗi lớp học trở thành một “pháo đài tư tưởng”, khi mỗi giáo viên là một “chiến sĩ tiên phong”, thì nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được củng cố vững chắc từ gốc rễ, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Tuổi trẻ không đứng ngoài cuộc. Đoàn viên giáo viên không đứng ngoài cuộc. Và lớp học chính là nơi bắt đầu của mọi sự bảo vệ bền vững nhất.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Tuyên giáo Trung ương. (2020). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
2. Bộ Chính trị. (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
5. Hồ Chí Minh. (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 5). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Hồ Chí Minh. (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 12). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Hồ Chí Minh. (2011). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 14). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
8. Nguyễn Đình Thái. (2024). Vận dụng Nghị quyết số 35-NQ/TW vào giảng dạy môn khoa học lãnh đạo. Tạp chí Lãnh đạo và Chính sách, (6), 47-50.
9. Nguyễn Phú Trọng. (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
10. Nguyễn Thị Xuyên. (2025). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh (Tóm tắt luận án tiến sĩ). Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
11. Vũ Hoàng Công. (2020). Chân lý và sự thật. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.