VẬN DỤNG KỸ NĂNG ĐỌC SUY LUẬN TRONG VIỆC DẠY HỌC YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG TRONG VĂN BẢN THƠ

30/03/2026 - 10:40      39 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Nguyễn Thị Hồng

Trần Thảo Nhi

Trần Thụy Quỳnh Phương

Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

TÓM TẮT

Trong bối cảnh Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu học sinh lớp 11 phải nhận biết và phân tích được vai trò của yếu tố tượng trưng trong thơ, nghiên cứu này hướng đến việc góp phần giải quyết những khó khăn trong việc dạy và học những văn bản thơ có chứa yếu tố tượng trưng. Thông qua việc tập trung vào các kỹ năng đọc và yếu tố tượng trưng, nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lý luận và cách thức thực hiện kỹ năng đọc suy luận và đề xuất các biện pháp vận dụng hiệu quả kỹ năng này vào tiến trình đọc hiểu văn bản thơ. Bằng việc cụ thể hóa các bước thực hiện kỹ năng đọc suy luận và minh họa qua việc dạy học một văn bản cụ thể, nghiên cứu đã đưa ra giải pháp giúp học sinh có thể tiếp cận phần tri thức này một cách hiệu quả hơn, đồng thời bồi đắp khả năng đồng sáng tạo và rung cảm thẩm mỹ khi tiếp xúc với ngôn từ văn chương.

Từ khóa: kỹ năng đọc suy luận, văn bản thơ, yếu tố tượng trưng.

ABSTRACT

In the context of the 2018 General Education Curriculum, which requires 11th-grade students to identify and analyze the role of symbolic elements in poetry, this study aims to help address the challenges in teaching and learning poetic texts. By focusing on reading skills, the research clarifies the theoretical framework, implementation of inferential reading skills, while proposing measures to effectively integrate these skills into the poetic text comprehension. By specifying the steps for these reading skills and illustrating them through a specific text, the study offers solutions for more effective student engagement, simultaneously fostering co-creative capacity and aesthetic resonance when interacting with literary language.

Key words: inferential reading skill, poetic text, symbolic elements

1. Đặt vấn đề

Trong việc dạy đọc hiểu văn bản thơ, đặc biệt là ở chương trình lớp 11, phần tri thức về yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là một nội dung quan trọng và không dễ dàng để tiếp cận. Tri thức này cung cấp cho học sinh (HS) cái nhìn tượng trưng cao, những ý niệm trừu tượng, vấn đề triết học,… đồng thời kích thích trí tưởng tượng, suy luận mạnh mẽ. Trong Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) môn Ngữ Văn 2018, việc đọc hiểu yếu tố tượng trưng của HS được triển khai cụ thể qua yêu cầu cần đạt: “Nhận biết và phân tích được vai trò của yếu tố tượng trưng trong thơ.” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Thực tế giảng dạy hiện nay cho thấy, nhiều HS gặp khó khăn khi phân tích thơ có yếu tố tượng trưng. Các em thường chỉ dừng lại ở việc nắm bắt nghĩa đen của từ ngữ, hình ảnh mà chưa thể suy luận, liên tưởng để khám phá ý nghĩa biểu tượng hay thông điệp sâu xa mà tác giả muốn gửi gắm. Trong bối cảnh CTGDPT 2018 đang hướng tới mục tiêu phát triển năng lực cho người học, việc trang bị và rèn luyện các kỹ năng đọc hiểu như đọc suy luận trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trên cơ sở đó, nghiên cứu hướng đến các mục tiêu chính: (1) Làm rõ cơ sở lý luận và thao tác thực hiện của kỹ năng đọc suy luận; (2) Đề xuất một số biện pháp nhằm vận dụng hiệu quả kỹ năng đọc suy luận để giải quyết những khó khăn trong tiến trình đọc hiểu văn bản thơ có chứa yếu tố tượng trưng.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Cơ sở đề xuất

2.1.1. Cơ sở lí luận          

Bởi đặc trưng lấy ngôn từ làm chất liệu nên những tác phẩm văn học đều có tính mơ hồ và đa nghĩa. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng tính mơ hồ, đa nghĩa của văn học bắt nguồn từ đặc trưng tư duy hình tượng của nó và bắt nguồn từ chỗ tác phẩm được viết ra để cho người đọc đồng sáng tạo. Bởi thế mà ông cũng nhận định: “Tính mơ hồ tạo tiềm năng cho người đọc đồng tưởng tượng, bổ sung, suy đoán,…” (Trần Đình Sử, 2021). Qua đó ta thấy một trong những kỹ năng đọc giúp độc giả giải mã được tầng sâu ý nghĩa bên dưới lớp vỏ ngôn từ chính là đọc suy luận. Nói riêng về yếu tố tượng trưng trong thơ, chúng không dễ gì để khám phá, do đó người đọc cần sử dụng kỹ năng suy luận để có thể suy đoán và giải mã, kết luận được ý nghĩa từ những hình ảnh, chi tiết trong văn bản. 

Nói về kỹ năng đọc suy luận, Preszler nhận định cho rằng: “Suy luận trong quá trình đọc - và trong cuộc sống - là hình dung ra câu trả lời từ các sự kiện mà ta tiếp nhận” (Nguyễn Thị Hồng Nam, 2023, tr.40). Hay theo Kispal, suy luận trong quá trình đọc là “khả năng kết hợp những từ ngữ, thông tin mà người viết sử dụng trong VB với kiến thức nền của người đọc để hiểu, dự đoán những thông điệp không được thể hiện trực tiếp trên VB.” (Nguyễn Thị Hồng Nam, 2023, tr.40). Beers cho rằng: “Suy luận là năng lực liên hệ các trong VB với cái trong đầu người đọc” (Nguyễn Thị Hồng Nam, 2023, tr.40). Ba nhận định trên tuy được diễn đạt theo những cách khác nhau nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất kỹ năng suy luận chính là việc dùng kiến thức nền của chính bản thân người đọc để suy đoán, giải mã từ ngữ mà người viết sử dụng trong văn bản, từ đó nhận ra những gì được thể hiện đằng sau lớp vỏ ngôn từ ấy.

Suy luận là hoạt động không thể thiếu trong quá trình đọc văn bản vì ý nghĩa của văn bản thường không được thể hiện trực tiếp trên bề mặt, người đọc phải “phá vỡ” lớp vỏ ngôn từ để suy đoán ý nghĩa. Hoạt động suy luận cho phép người đọc mở rộng cách hiểu của mình dựa trên VB, nghĩa là ta có thể hiểu rộng hơn, sâu hơn những gì chỉ được hiển ngôn trên bề mặt ngôn từ. Chẳng hạn như đọc bài thơ Mời trầu (Hồ Xuân Hương), người đọc sẽ huy động kiến thức nền của mình về hình ảnh miếng trầu, tục ăn trầu, mời trầu trong văn hóa Việt kết hợp với kiến thức nền về nghệ thuật ẩn dụ, về tác giả Hồ Xuân Hương, về thể loại văn bản, từ đó có thể suy luận được rằng: nhà thơ dùng hình ảnh miếng trầu để gửi gắm ước mong về tình yêu lứa đôi. Theo TS. Phạm Thị Thu Hương, “Về mặt hiệu quả, chiến thuật đọc suy luận giúp học sinh: Gợi lại những tri thức có trước trong quá trình đọc văn bản; Biết cách suy luận, đọc ra những điều không được thể hiện trực tiếp trên văn bản; Bổ sung, tái tạo, làm sống dậy thế giới nghệ thuật trong cảm nhận của độc giả; Hiểu rõ ảnh hưởng của quan điểm, tình cảm, vốn sống, trải nghiệm ở cá nhân người đọc đối với việc kiến tạo ý nghĩa của văn bản đọc hiểu.” (Phạm Thị Thu Hương, 2020).

Nói tóm lại, kỹ năng đọc suy luận giúp độc giả từ những thông tin hiển ngôn mà đọc thấy phía sau đó lớp ý nghĩa hàm ngôn, đọc ra những điều mới mẻ bằng kiến thức đời sống phong phú, sự trải nghiệm nghệ thuật và tích lũy kinh nghiệm thẩm mỹ. Sự suy luận của người đọc cần dựa trên hai cơ sở: ngôn từ của VB và kiến thức nền của bản thân về ngôn ngữ, về thể loại VB và về cuộc sống. Từ sự kết hợp giữa hai cơ sở này, người đọc sẽ rút ra kết luận, nhận xét, đánh giá và hình thành những lý giải riêng, độc đáo từ VB.  

Có thể mô tả quá trình suy luận bằng sơ đồ sau:

 

 

2.1.2. Cơ sở thực tế

Trong chương trình Ngữ văn 11, nhiều văn bản thơ sử dụng yếu tố tượng trưng nhằm biểu đạt những ý niệm trừu tượng, giàu chiều sâu triết lý. Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, học sinh lớp 11 cần “nhận biết và phân tích được vai trò của yếu tố tượng trưng trong thơ” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Tuy nhiên, thực tiễn dạy học cho thấy đây là một trong những nội dung gây nhiều khó khăn cho học sinh.

Khó khăn lớn nhất của học sinh nằm ở việc nhận diện ý niệm trừu tượng mà hình ảnh thơ gợi ra. Yếu tố tượng trưng trong thơ có đặc trưng là “loại hình ảnh mang tính trực quan, sinh động nhưng hàm nghĩa biểu đạt những tư tưởng, quan niệm, khái niệm trừu tượng” (Nguyễn Thành Thi, 2022, tr.59). Với những hình ảnh biểu trưng quen thuộc, mang tính quy ước văn hóa, học sinh có thể dễ dàng nhận biết. Tuy nhiên, trong thơ trữ tình hiện đại, hình ảnh thường mang tính cá nhân hóa, đa nghĩa, không tuân theo những quy ước sẵn có, khiến học sinh gặp nhiều lúng túng khi giải mã. Bên cạnh đó, học sinh còn gặp khó khăn trong việc khái quát triết lý nhân sinh ẩn chứa trong yếu tố tượng trưng. Khác với các biện pháp tu từ thông thường, yếu tố tượng trưng không chỉ tạo hiệu quả biểu đạt mà còn hàm chứa những suy tư về bản chất con người và cuộc sống. Việc tiếp cận tầng nghĩa này đòi hỏi năng lực tư duy tổng hợp, khả năng liên tưởng và trải nghiệm thẩm mỹ - những năng lực chưa thực sự phát triển đầy đủ ở học sinh phổ thông.

Về góc nhìn của giáo viên đối với phần nội dung này, trong bài báo “Giáo viên mong giảm tải một số phạm vị kiến thức chương trình môn Ngữ văn 11” đăng trên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, tác giả viết: “Nhiều giáo viên cho biết, những bài thơ này thực sự rất hay, nhưng chỉ phù hợp với sinh viên chuyên ngành, còn dạy cho học sinh phổ thông hiểu thấu đáo nội dung và nghệ thuật của tác phẩm là nan giải. Người viết đã dạy những bài thơ này và nhận thấy rằng, việc truyền đạt kiến thức cho học sinh lớp 11 gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vì, ngôn ngữ thơ tượng trưng có tính biểu tượng cao, chứ không chỉ là những ẩn dụ đơn thuần như thường gặp.” (Ánh Dương, 2024). Qua đó ta thấy, nhận biết và phân tích yếu tố tượng trưng trong thơ không chỉ là khó khăn đối với học sinh, mà nó còn đặt ra yêu cầu đối với những người giảng dạy.

Như vậy, những khó khăn trên cho thấy việc tiếp cận yếu tố tượng trưng trong văn bản thơ lớp 11 là một thách thức đối với học sinh. Tuy nhiên thay vì mong muốn giảm tải, ta nên tìm hiểu những cách thức dạy - học hiệu quả đối với phần nội dung có độ khó nhất định này, bởi lẽ những yếu tố tượng trưng trong thơ là một phần nội dung độc đáo, có thể đánh thức những rung cảm thẩm mỹ và khả năng tưởng tượng, sáng tạo của học sinh. 

2.2. Cách thức sử dụng kỹ năng đọc suy luận để phân tích yếu tố tượng trưng trong dạy hoc văn bản thơ

2.2.1. Cách thức thực hiện

Từ cơ sở về yêu cầu cần đạt, có thể đề xuất cách thức thực hiện kỹ năng đọc suy luận để hỗ trợ HS trong việc nhận biết và phân tích vai trò của yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình như sau:

Bước 1: Đọc văn bản thơ có yếu tố tượng trưng.

Xuất phát từ đặc điểm của kỹ năng suy luận là dựa vào ngôn từ VB và kiến thức nền của người đọc, ở bước này HS sẽ tiến hành đọc VB để bước đầu tiếp cận, tìm hiểu bề mặt hiển ngôn mà tác giả sử dụng.

Bước 2: Xác định hình ảnh, chi tiết cần giải mã ý nghĩa tượng trưng trong VB.

Sau khi đọc VB, HS tìm và gạch chân những từ ngữ, câu văn trong VB. Đó có thể là những hình ảnh trung tâm, xuất hiện xuyên suốt VB, hoặc là những chi tiết quan trọng, gây ấn tượng, cần được giải mã xem chúng tượng trưng cho ý nghĩa gì.

Bước 3: Kích hoạt kiến thức nền của bản thân về các hình ảnh, chi tiết vừa xác định.

Ở bước này, người đọc kích hoạt kiến thức nền của bản thân, nhớ lại những điều đã được biết liên quan đến các hình ảnh, chi tiết vừa xác định. Kiến thức nền có thể là kiến thức về thể loại, tác giả, về ngôn ngữ, hay các vấn đề đời sống được đề cập trong VB.

Bước 4: Đặt những câu hỏi suy luận để giải mã ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh, chi tiết trong VB

Học sinh có thể tự đặt những dạng câu suy luận để tiến hành giải mã ý nghĩa hình ảnh, chi tiết trong VB:

  • Khi tôi đọc những từ ngữ... và bức tranh cho thấy... Tôi nghĩ rằng....
  • Khi tôi đọc những từ ngữ... nó gợi cho tôi nhớ đến.... vì vậy tôi nghĩ....
  • Nó nói.... và nó cho thấy.... vì vậy tôi đoán....
  • Nó nói.... và tôi biết.... vì vậy tôi đang nghĩ....
  • Vì đoạn văn nói.... và tôi biết.... tôi có thể suy luận....
  • Nhân vật đã nói.... và đã làm.... vì vậy tôi nghĩ....

Bên cạnh đó, theo TS. Phạm Thị Thu Hương, trong cuốn When kids can't read, tác giả Kylene Beers đã cung cấp danh sách gồm các lời bình luận, dẫn dắt, định hướng,... giáo viên có thể sử dụng để trợ giúp học sinh tạo nên các suy luận trong quá trình đọc hiểu văn bản. Những định hướng của giáo viên trợ giúp học sinh đọc suy luận như sau:

  • Hãy nhìn vào đại từ và đoán xem yếu tố nào kết nối với nó?
  • Đoán xem điều gì giải thích cho sự kiện này?
  • Gợi lại những gì bạn đã biết về điều này và quan sát xem điều bạn biết phù hợp hoặc không phù hợp như thế nào với điều văn bản đang thể hiện?
  • Quan sát các từ bạn không biết và những từ ngữ, câu văn xung quanh đã giúp bạn đoán nghĩa của từ đó như thế nào?
  • Sau khi đọc phần này, hãy tìm xem tác giả định nói gì với chúng ta, dựa vào đâu mà bạn trả lời như vậy?

Bước 5: Rút ra dự đoán hoặc kết luận dựa trên những điều đã suy luận được, từ đó có thể nhận ra triết lý từ những ý nghĩa tượng trưng đó.

Sau khi vận dụng kiến thức nền của mình và phân tích thông tin có trong văn bản, người đọc rút ra kết luận, đưa ra nhận xét mang tính tư duy và hình thành nên sự hiểu biết độc đáo về văn bản. Suy luận có thể xuất hiện dưới dạng các dự đoán, kết luận hoặc những ý tưởng mới. Sau khi kết hợp kiến thức nền với ngôn từ trong VB, người đọc có thể suy luận được những hình ảnh/ chi tiết đó tượng trưng cho điều gì, từ đó rút ra được ý nghĩa triết lý mà yếu tố tượng trưng ấy gợi ra.

Chẳng hạn như đối với yếu tố tượng trưng trong bài thơ Con chào mào (Mai Văn Phấn), người đọc sẽ chú ý đến hình ảnh trung tâm là con chào mào, kết hợp với việc huy động kiến thức nền của mình về hình ảnh con chim trong thực tế, về nghệ thuật ẩn dụ, về thể loại văn bản, từ đó có thể suy luận được rằng: hình ảnh chim chào mào trong VB không đơn thuần chỉ một loài động vật, mà còn tượng trưng cho cái đẹp, vai trò của thiên nhiên và giá trị tự thân không thể chiếm hữu. Từ việc giải mã được ý nghĩa tượng trưng đó, người đọc nhận ra bài thơ đã mang đến một triết lý, từ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, bài thơ mở ra những tầng rất sâu, rất ấm về mối quan hệ của con người với chính mình.

2.2.2. Ví dụ minh họa với văn bản Nguyệt cầm (Xuân Diệu)

Từ 5 bước trên, khi áp dụng vào việc dạy đọc yếu tố tượng trưng, GV có thể rút gọn bước 1 (đọc VB) với bước 2 (xác định hình ảnh, chi tiết cần giải mã) thành 1 thao tác. Sau khi đọc VB (tiếp xúc với ngôn từ về mặt hiển ngôn) và xác định được chi tiết, hình ảnh cần giải mã, HS tiến hành huy động kiến thức nền từ đó lý giải được ý nghĩa tượng trưng, và cuối cùng là rút ra kết luận để trả lời cho câu hỏi ở đề bài/ hoặc nhận ra triết lý mà những ý nghĩa tượng trưng đó mang lại.

Các thao tác trên sẽ được cụ thể hóa khi trả lời các câu hỏi dưới đây:

Trong khi đọc

Câu hỏi thứ 3 ở giai đoạn Trong khi đọc (SGK/ tr.61) yêu cầu HS sử dụng kỹ năng đọc suy luận để trả lời:

Câu hỏi (SGK/ tr.61): Hình ảnh “biển” và “chiếc đảo” có mối quan hệ như thế nào?

Thao tác thực hiện

Kết quả của các bước thao tác

[1] Đọc VB và xác định hình ảnh cần giải mã ý nghĩa tượng trưng.

[2] Kích hoạt kiến thức nền của bản thân về hình ảnh biển và đảo trong thực tế:

- Trong thực tế, biển và đảo có mối quan hệ như thế nào?

[3] Đặt những câu hỏi suy luận để giải mã ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh, chi tiết đó:

- Khi tôi đọc những từ ngữ... nó gợi cho tôi nhớ đến.... vì vậy tôi nghĩ....

[4] Rút ra dự đoán hoặc kết luận dựa trên những điều đã suy luận được.

- Từ ý nghĩa tượng trưng đã được giải mã, hình ảnh “biển” và “đảo” trong khổ thơ này có mối quan hệ như thế nào?

[1] Hình ảnh cần lý giải ý nghĩa tượng trưng là “biển”“chiếc đảo” ở khổ thơ cuối.

[2] Trong thực tế, biển và đảo là hai hình ảnh gắn liền, song hành với nhau, hòn đảo nằm giữa, được biển bao bọc.

[3] Hình ảnh “biển pha lê” gợi cho tôi nhớ đến sự mênh mông của “biển” và ánh sáng của “pha lê”, vì vậy tôi nghĩ nó tượng trưng cho không gian mênh mông, huyền ảo, có sự tương giao giữa nhạc điệu - ánh sáng; Hình ảnh “chiếc đảo” gợi cho tôi nhớ đến một không gian hẹp, nó tượng trưng cho tâm hồn chủ thể trữ tình.

[4] Hình ảnh “biển”“chiếc đảo” có mối quan hệ tương hỗ, kết hợp với nhau thể hiện sự kì diệu, giao thoa của âm thanh - ánh sáng và cảm xúc của chủ thể trữ tình.

Câu trả lời: Hình ảnh “biển”“chiếc đảo” có mối quan hệ tương hỗ, kết hợp với nhau thể hiện sự kì diệu, giao thoa của âm thanh - ánh sáng và cảm xúc của chủ thể trữ tình. 

Sau khi đọc

Câu hỏi 5 (SGK/ tr.62): Xác định ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh người phụ nữ ở khổ thơ thứ hai, bến Tầm Dương ở khổ thơ thứ 3 và sao Khuê ở khổ thơ cuối. Chỉ ra mối liên hệ giữa những hình ảnh này.

Thao tác thực hiện

Kết quả của các bước thao tác

[1] Đọc VB và xác định hình ảnh cần giải mã ý nghĩa tượng trưng.

[2] Kích hoạt kiến thức nền của bản thân về 3 hình ảnh đó trong thực tế.

- Em biết gì về bến Tầm Dương và sao Khuê?

[3] Đặt những câu hỏi suy luận để giải mã ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh, chi tiết đó:

- Mỗi hình ảnh tượng trưng cho điều gì?

[4] Rút ra dự đoán hoặc kết luận dựa trên những điều đã suy luận được.

- Từ ý nghĩa tượng trưng đã được giải mã, 3 hình ảnh này có mối liên hệ gì?

[1] Hình ảnh cần lý giải ý nghĩa tượng trưng là người phụ nữ - “nương tử” (khổ 2), bến Tầm Dương (khổ 3), sao Khuê (khổ cuối).

[2] - Người phụ nữ trong bài thơ: tài hoa nhưng cuộc đời bất hạnh, đau khổ.

- Bến Tầm Dương: gợi nhắc người phụ nữ chơi đàn tì bà trên bến sông Tầm Dương trong Tì bà hành (Bạch Cư Dị), thời trẻ dập dìu kẻ đưa người đón nhưng sau đó bị quên bỏ, sống cô độc bên bên sông.

- Sao Khuê: biểu tượng của tài hoa văn chương nghệ thuật, ngôi sao nắm giữ vận mệnh của các bậc văn nhân.

[3] - Người phụ nữ trong văn bản: tượng trưng cho số phận tài hoa bạc mệnh.

- Bến Tầm Dương: tượng trưng cho số phận con người tài hoa nhưng bị lãng quên.

- Sao Khuê: tượng trưng cho tài hoa văn chương nghệ thuật.

[4] Cả ba hình ảnh đều mang một ý nghĩa tượng trưng là gợi trăn trở về sức sống của cái đẹp và số phận đau khổ, cô đơn của những kiếp tài hoa.

Câu trả lời: Cả ba hình ảnh đều mang một ý nghĩa tượng trưng là gợi trăn trở về sức sống của cái đẹp và số phận đau khổ, cô đơn của những kiếp tài hoa. 

3. Kết luận

Nghiên cứu đã phân tích cơ sở lí luận của một trong các kỹ năng đọc cần thiết trong việc giải mã ngôn từ văn học, cụ thể là đọc suy luận, từ đó khái quát thành các bước thực hiện trong việc dạy học một văn bản cụ thể. Việc vận dụng kỹ năng đọc suy luận sẽ giúp học sinh kết hợp giữa kiến thức nền và ngôn từ trong văn bản để có thể lý giải lớp nghĩa hàm ẩn. Việc sử dụng nhuần nhuyễn kỹ năng đọc suy luận không chỉ giúp học sinh vượt qua rào cản về ý nghĩa bề mặt mà còn cho phép các em thâm nhập sâu hơn vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm, từ đó nhận ra ý niệm trừu tượng và triết lý mà tác giả gửi gắm qua các hình ảnh tưởng chừng như đơn giản và gần gũi.

Việc chú trọng và rèn luyện kỹ năng đọc suy luận là một định hướng quan trọng trong dạy học Ngữ văn, đặc biệt là trong bối cảnh chương trình giáo dục phổ thông mới đang đặt ra yêu cầu cao về phát triển năng lực cho học sinh. Áp dụng hiệu quả kỹ năng này không chỉ giúp học sinh phân tích thấu đáo yếu tố tượng trưng mà còn góp phần hình thành năng lực cảm thụ văn học bền vững, từ đó khơi dậy niềm yêu thích và trân trọng giá trị của văn chương trong mỗi cá nhân.

Hướng nghiên cứu trong tương lai có thể áp dụng các bước thực hiện kỹ năng đọc này vào các văn bản khác, hoặc có thể mở rộng sang các lớp trên và áp dụng các kỹ năng đọc khác bên cạnh đọc suy luận. Ngoài ra, có thể triển khai quy trình đọc suy luận trên các nhóm học sinh có năng lực khác nhau (học sinh trung bình, khá, giỏi) để điều chỉnh các câu hỏi gợi mở và mức độ hỗ trợ của giáo viên cho phù hợp với từng trình độ.

4. Tài liệu tham khảo

[1] Ánh Dương. (2024, 04 12). Giáo viên mong giảm tải một số phạm vi kiến thức chương trình môn Ngữ Văn 11. Retrieved from Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam: https://giaoduc.net.vn/giao-vien-mong-giam-tai-mot-so-pham-vi-kien-thuc-chuong-trinh-mon-ngu-van-11-post242078.gd

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn. Hà Nội.

[3] Nguyễn Thị Ngọc Thúy. (2021, 08 27). Đề xuất một số kiểu bài tập để phát triển kĩ năng tưởng tượng cho học sinh Trung học phổ thông trong việc dạy đọc hiểu văn bản tự sự. Retrieved from Tạp chí khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh: https://vjol.info.vn/index.php/sphcm/article/view/67330

[4] Nguyễn Thành Thi (Chủ biên). (2022). Ngữ văn 11 Tập 2. Bộ Chân trời sáng tạo. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

[5] Nguyễn Thị Hồng Nam (Chủ biên). (2023). Giáo trình Phương pháp dạy đọc văn bản. Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ.

[6] Phạm Thị Thu Hương. (2020, 10 19). Sử dụng chiến thuật “Đọc suy luận” vào dạy học đọc hiểu văn bản ở nhà trường phổ thông. Retrieved from Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm Hà Nội:                                                          https://nguvan.hnue.edu.vn/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u/Ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p/p/su-dung-chien-thuat-doc-suy-luan-vao-day-hoc-doc-hieu-van-ban-o-nha-truong-pho-thong-1449

 

Tiêu điểm
Tiêu điểm
24/06/2026 135

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba ( tỉnh Phú Thọ): Khoa học nâng tầm chuyên môn vì người bệnh

Trong bối cảnh y học hiện đại phát triển với tốc độ nhanh chóng, tri thức y khoa không ngừng được cập nhật và thay đổi, việc học tập liên tục không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ, nhân viên y tế.
23/06/2026 153

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ): Không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, hướng tới xây dựng mô hình y tế thông minh trong chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho nhân dân

Trong tiến trình đổi mới toàn diện ngành y tế, việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ dừng lại ở mục tiêu điều trị hiệu quả mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống y tế hiện đại, chủ động và nhân văn. Tại tuyến cơ sở – nơi gần dân nhất, sát thực tế nhất – yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.
23/06/2026 171

BỆNH VIỆN TÂM THẦN TỈNH PHÚ THỌ – NƠI TỪNG BỮA ĂN TRỞ THÀNH ĐIỂM TỰA HỒI SINH SỨC KHỎE

Trong hệ thống y tế hiện đại, chất lượng khám chữa bệnh không chỉ được đo bằng trình độ chuyên môn hay trang thiết bị kỹ thuật, mà còn được đánh giá thông qua những yếu tố tưởng chừng giản dị nhưng có tác động sâu sắc – trong đó, an toàn thực phẩm giữ vai trò như một “trụ cột thầm lặng”.
19/06/2026 619

Phú Thọ: Trường THCS Văn Lang – điểm đến của những học sinh chất lượng cao trong toàn tỉnh

Kỳ kiểm tra đánh giá năng lực vào Trường THCS Văn Lang (phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) năm học 2026–2027 không chỉ là một kỳ tuyển sinh thông thường, mà còn là “thước đo vàng” phản ánh rõ nét chất lượng giáo dục của các trường và vị thế dẫn đầu của một đơn vị giáo dục trọng điểm.
Xem tất cả
23/06/2026 153
Trong tiến trình đổi mới toàn diện ngành y tế, việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ dừng lại ở mục tiêu điều trị hiệu quả mà còn hướng tới xây dựng một hệ thống y tế hiện đại, chủ động và nhân văn. Tại tuyến cơ sở – nơi gần dân nhất, sát thực tế nhất – yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.
Xem chi tiết
19/06/2026 619
Kỳ kiểm tra đánh giá năng lực vào Trường THCS Văn Lang (phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) năm học 2026–2027 không chỉ là một kỳ tuyển sinh thông thường, mà còn là “thước đo vàng” phản ánh rõ nét chất lượng giáo dục của các trường và vị thế dẫn đầu của một đơn vị giáo dục trọng điểm.
Xem chi tiết
19/06/2026 667
Trong dòng chảy đổi mới mạnh mẽ của giáo dục đại học Việt Nam, khi yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở nên cấp thiết, việc lựa chọn một môi trường đào tạo vừa có chiều sâu học thuật, vừa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn sản xuất – kinh doanh trở thành mối quan tâm hàng đầu của thí sinh và phụ huynh.
Xem chi tiết
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả