Bàn về chế định thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý hiện nay ở nước ta (Phần 2)

07/04/2026 - 20:28      54 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Hồ Xuân Thắng

Trường Đại học Công Thương thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Huỳnh Quốc Cường

Trường Đại học Tài chính – Marketting thành phố Hồ Chí Minh.

Abstract

This article continues the analysis of current legal regulations related to the provision of legal services under legal service contracts to clarify the close relationship between lawyers and clients in exercising their rights and obligations through legal service contracts as discussed in Part 1 of the previous article. It clearly analyzes the content of regulations on labor contracts in the legal profession and legal service contracts of lawyers, as well as regulations on fees and remuneration for legal services by agreement in the globalized market economy of Vietnam. Based on this, several recommendations for improvement are proposed for further discussion.

Keywords: Legal service provision; Legal service contract; Agreed fee; Case law regarding legal service contracts.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý ngày càng gia tăng, đa dạng và phức tạp. Hợp đồng dịch vụ pháp lý trở thành công cụ pháp lý quan trọng để điều chỉnh quan hệ giữa tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật với khách hàng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy còn tồn tại nhiều vấn đề về cơ sở pháp lý, phạm vi điều chỉnh, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như cơ chế bảo đảm thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý. Đặc biệt nhất là thực hiện đúng các quyền được hưởng thù lao của bên dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng thông qua hợp đồng diễn ra trong thực tiễn chưa thật sự tuân theo quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến môi trường thực tiễn cũng như pháp lý. Việc nghiên cứu chế định thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý dưới góc nhìn khoa học pháp lý có ý nghĩa thiết thực hơn bao giờ hết. Bởi vì nó làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hệ thống pháp luật dân sự và pháp luật chuyên ngành như Luật Luật sư hiện hành. Tiếp theo là phân tích những bất cập trong quy định hiện hành và thực tiễn thực hiện, từ đó chỉ ra nguyên nhân và hệ quả. Cuối cùng là sẽ đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh, bảo đảm quyền lợi của các bên và góp phần phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp.

Trong bối cảnh cải cách tư pháp bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động dịch vụ pháp lý và hội nhập quốc tế, việc bàn luận về chế định này không chỉ mang giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần khẳng định vai trò của khoa học pháp lý trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

2. Nội dung chế định thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý trong khoa học pháp lý

2.1. Quy định về hợp đồng lao động trong hành nghề Luật sư và hợp đồng dịch vụ pháp lý của Luật sư

Thứ nhất: Xác định hợp đồng lao động trong hành nghề Luật sư

Tại tiêu đề chương 4 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012 có xác định tiền lương trong hợp đồng lao động được hiểu là quy định này điều chỉnh nội dung quy phạm Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư[1]. Tuy nhiên, điểm bất cập ở đây là tại điều 49 văn bản hợp nhất Luật Luật sư hiện hành không quy định chi tiết hợp đồng lao động này sẽ áp dụng như thế nào trong thực tiễn nhất là liên quan đến tiền lương. Xét theo việc tiền lương trong hợp đồng lao động hành nghề với tư cách cá nhân, tại khoản 3 điều 49 đưa ra quy phạm pháp luật cấm đoán Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên. Như vậy nếu là người Luật sư hành nghề với tư cách là cá nhân thì bị điều chỉnh cấm đoán bởi quy định này và xác định tiền lương theo hợp đồng lao động. Đối với người công dân không phải là người Luật sư thì được thực hiện theo quy định tại điều 513 – 521 Bộ Luật dân sự 2015 về hợp đồng dịch vụ cho phép cá nhân, pháp nhân cung cấp dịch vụ cho nhau, miễn là không trái pháp luật “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”[2]. Như vậy, việc một công dân ký hợp đồng dịch vụ hỗ trợ pháp lý như soạn thảo đơn, hướng dẫn thủ tục, đại diện theo ủy quyền theo yêu cầu của khách hàng là hoàn toàn hợp pháp. Ở góc độ dân sự cũng có thể xác định đây là tiền lương, thù lao trong hợp đồng lao động theo chế định hợp đồng lao động điều chỉnh. Nhưng ở góc độ hành nghề với tư cách là cá nhân thì người Luật sư chỉ được hưởng tiền lương còn thù lao dịch vụ thì họ bị chính pháp luật Luật sư hiện hành hạn chế triệt tiêu. Tức là khách hàng là người sử dụng lao động theo vụ việc và người đại diện hợp pháp theo ủy quyền lại người lao động trong tình huống này bị triệt tiêu bởi phải thông qua một tổ chức trung gian đó là cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động. Để khắc phục những bất cập trong việc nhầm lẫn cách hiểu tại khoản 3 điều 49, cần phải bổ sung quy định hướng dẫn dưới Luật để quy định rõ tiền lương trong hợp đồng lao động phải đặt trong mối tương quan pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý với hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động là khách hàng có yêu cầu với người lao động là người thực hiện dịch vụ pháp lý phải được hưởng thù lao theo quy định tại điều 54 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012.

Thứ hai: thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý

Nghiên cứu sâu theo khoa học pháp lý, tại điều 26 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012 có quy định: Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, trừ trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức. Đây là quy phạm pháp luật cho phép khi Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý, mặc dù không có khái niệm về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Thực tiễn cho thấy để hiểu về định nghĩa này pháp luật sử dụng khái niệm ghép về hợp đồng dịch vụ theo quy định tại điều 513 Bộ Luật dân sự năm 2015 và dịch vụ pháp lý tại điều 22 văn bản hợp nhất của Luật Luật sư năm 2012: Dịch vụ pháp lý là hoạt động của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư nhằm cung cấp cho khách hàng các dịch vụ liên quan đến pháp luật, bao gồm: Tư vấn pháp luật; Đại diện ngoài tố tụng; Tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng; Các dịch vụ pháp lý khác theo quy định của pháp luật. Hợp đồng dịch vụ pháp lý là một loại hợp đồng dịch vụ đặc thù, được quy định tại Khoản 2 Điều 26 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi 2012). Đây là công cụ pháp lý nhằm xác lập quan hệ hợp tác giữa bên cung ứng dịch vụ  như luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và bên sử dụng dịch vụ là cá nhân, tổ chức có nhu cầu (gọi là khách hàng). Đối tượng của hợp đồng là các hoạt động pháp lý như tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, hoặc các dịch vụ pháp lý khác. Như vậy, quy định này đồng nhất với dịch vụ pháp lý dân sự theo Bộ Luật dân sự điều chỉnh và Luật chuyên ngành là Luật Luật sư hiện hành điều chỉnh trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang đậm tính dân chủ xã hội chủ nghĩa mà ở đó nguyên tắc thượng tôn pháp luật đặt lên hàng đầu và phải xuất phát từ ý thức thực hiện nghiêm pháp luật của mọi công dân, cơ quan, tổ chức.

Tại khoản 2 điều 26 văn bản hợp nhất Luật Luật sư xác định Hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được làm thành văn bản và có những nội dung chính sau đây: i) Tên, địa chỉ của khách hàng hoặc người đại diện của khách hàng, đại diện của tổ chức hành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; ii) Nội dung dịch vụ; thời hạn thực hiện hợp đồng; iii) Quyền, nghĩa vụ của các bên; iv) Phương thức tính và mức thù lao cụ thể; các khoản chi phí (nếu có); v) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; vi) Phương thức giải quyết tranh chấp.

Như vậy, hợp đồng dịch vụ pháp lý sẽ do các bên cùng nhau thỏa thuận, thống nhất với các phương án phí và giai đoạn thanh toán phù hợp với lợi ích của các bên. Và được in thành nhiều bản, mỗi bên có thể giữ ít nhất 1 bản để làm cơ sở giải quyết cho những vấn đề phát sinh trong suốt quá tình thực hiện hợp đồng. Quy định này phù hợp với yêu cầu đòi hỏi thực tiễn của dịch vụ pháp lý cũng như quy định về hành nghề dịch vụ pháp lý ở nước ta hiện nay. Câu hỏi đặt ra là một công dân không phải Luật sư hành nghề Luật sư có quyền được ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng khi họ yêu cầu không? Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta phải áp dụng căn cứ theo Bộ Luật dân sự năm 2015 mà cụ thể là tại điều 75 và 76 quy định đương sự có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có thể là luật sư hoặc người khác mà đương sự mời, nếu được Tòa án chấp nhận. Người đại diện theo ủy quyền cũng có thể là bất kỳ công dân đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc trường hợp bị cấm. Trong tình huống này hai bên sẽ áp dụng quy định về hợp đồng dịch vụ tại điều 513 Bộ Luật dân sự hiện hành chứ không áp dụng theo quy định tại điều 26 Luật Luật sư đã phân tích trên đây. Rõ ràng áp dụng hợp đồng và thực hiện dịch vụ pháp lý đối với hành nghề Luật sư bắt buộc phải theo hợp đồng của Luật chuyên ngành là Luật Luật sư năm 2012.

2.2. Quy định về chi phí, thu lao dịch vụ pháp lý theo thỏa thuận

Xét theo góc độ nguyên tắc chung chi phí, thù lao dịch vụ pháp lý của người Luật sư theo yêu cầu của khách hàng được xác định trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện giữa luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư và khách hàng. Việc thỏa thuận phải bằng hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Điều 26 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012. Nội dung thỏa thuận không được trái pháp luật, đạo đức xã hội, phải minh bạch và rõ ràng. Không được thỏa thuận mức phí trái quy định, ví dụ như phí mang tính chất “hoa hồng” bất hợp pháp, có thể yêu cầu đặt cọc hoặc trả trước một phần thù lao để đảm bảo thực hiện hợp đồng. Đặc biệt, quy định hiện hành cho phép luật sư và khách hàng tự thỏa thuận mức thù lao và chi phí dịch vụ pháp lý, nhưng phải lập thành hợp đồng rõ ràng, minh bạch và tuân thủ pháp luật. Khách hàng nên cân nhắc kỹ các hình thức tính phí và yêu cầu chi tiết chi phí phát sinh để bảo vệ quyền lợi của mình. Nghĩa là căn cứ cơ sở pháp lý quy định tại điều 54 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012 Luật sư được nhận thù lao khi cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng. Việc nhận thù lao phải theo thỏa thuận và tuân thủ quy định pháp luật.

Trong thực tiễn hiện nay, các hình thức thù lao phổ biến được các Luật sư và khách hàng áp dụng theo điều 55, bao gồm: Phí theo giờ là người Luật sư tính phí dựa trên số giờ làm việc thực tế; Phí trọn gói/vụ việc là mức phí cố định cho toàn bộ vụ việc hoặc dịch vụ; Phí theo tỷ lệ giá trị vụ việc là tính theo phần trăm giá trị tài sản, hợp đồng hoặc lợi ích mà khách hàng đạt được. Phí dự phòng là Khách hàng trả trước một khoản để luật sư sử dụng khi phát sinh công việc. Đối với chi phí ngoài thù lao, khách hàng và người Luật sư làm dịch vụ pháp lý thường áp dụng như chi phí hành chính là một loại lệ phí tòa án, phí công chứng, phí dịch thuật; Chi phí đi lại, lưu trú áp dụng khi luật sư phải làm việc ngoài địa bàn; Chi phí khác: gửi hồ sơ, tài liệu, liên lạc với cơ quan nhà nước hoặc bên liên quan.

Xét theo góc độ khoa học pháp lý, thù lao và chi phí dịch vụ pháp lý là một phần của hợp đồng dịch vụ pháp lý ký kết giữa luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư và khách hàng. Tuy nhiên, tính bất cập ở đây là trong pháp luật về Luật sư không có quy định bản hợp đồng mẫu về hợp đồng dịch vụ pháp lý để thống nhất áp dụng chung trong thực tiễn. Từ đó dẫn đến việc xẩy ra những bất đồng, tranh chấp pháp lý và thực tiễn làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động quản lý của nhà nước trong lĩnh vực hành nghề của Luật sư cũng như trực tiếp hoạt động hành nghề luật sư của tổ chức, cá nhân hành nghề Luật sư ở nước ta. Cụ thể là việc đề xuất phát triển án lệ từ vụ giám đốc thẩm về hợp đồng hứa thưởng giữa luật sư và khách hàng không chỉ đặt ra tranh chấp về thù lao nghề nghiệp, mà còn chạm tới một vấn đề nền tảng hơn: ranh giới giữa “vi phạm điều cấm của luật” và các quy định quản lý hành nghề đang bị hiểu và áp dụng lệch chuẩn[3]. Hợp đồng hứa thưởng theo Bộ luật Dân sự 2015 thực chất là một giao dịch dân sự đơn phương, trong đó một bên với vai trò là người hứa thưởng công khai cam kết sẽ trả thưởng cho bất kỳ ai thực hiện công việc nhất định theo yêu cầu. Bản chất của nó không phải là sự thỏa thuận song phương như hợp đồng thông thường, mà là sự ràng buộc pháp lý phát sinh từ hành vi pháp lý đơn phương. Tuy nhiên, việc ràng buộc này gắn với nghĩa vụ của bên thực hiện dịch vụ pháp lý diễn ra trong tương lai chứ không phải một thỏa thuận trái quy định hiện hành của dịch vụ pháp lý. Tại điểm d khoản 2 điều 26 văn bản hợp nhất Luật Luật sưu năm 2012 có quy định về Hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được làm thành văn bản và có những nội dung chính như “Phương thức tính và mức thù lao cụ thể; các khoản chi phí (nếu có)”. Mặt khác phương thức tính thù lao theo “Vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án”[4] khách hàng và Người Luật sư hành nghề dịch vụ pháp lý áp dụng loại hợp đồng hứa thưởng trong trường hợp này không vi phạm với quy định hiện hành. Bởi vì, Luật Luật sư hiện hành không quy định hợp đồng mẫu về dịch vụ pháp lý của người hành nghề Luật sư. xét về việc áp dụng tương tự pháp luật thì nếu một tình huống chưa được quy định, có thể áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh tình huống tương tự. Thực tế chưa một loại hợp đồng mẫu dịch vụ pháp lý thống nhất chung, do đó người hành nghề Luật sư có thể dựa vào quy định của hợp đồng dân sự tương tự để xử lý. Từ đó dẫn đến trường hợp hai bên thống nhất căn cứ những thỏa thuận hình thức thù lao bằng cách sử dụng hợp đồng hứa thưởng. Mặt khác, như đã phân tích trên đây, hợp đồng hứa thưởng mang bản chất là một giao dịch dân sự đặc biệt, thường mang tính hành vi pháp lý đơn phương. Người hứa thưởng công khai cam kết sẽ trả thưởng cho bất kỳ ai thực hiện công việc theo yêu cầu, và khi công việc được hoàn thành thì nghĩa vụ trả thưởng phát sinh thuộc về khách hàng đã sử dụng dịch vụ (còn gọi là dịch vụ pháp lý). Do vậy, không thể đồng nghĩa với việc Người thực hiện hành vi dịch vụ pháp lý vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Luật sư. Xét ở khía cạnh khách thể của hành vi thì cả khách hàng và người hành nghề dịch vụ pháp lý đều mong muốn đạt được công việc như đã thỏa thuận nhưng nếu khách thể này đạt được thì nghĩa vụ trả thưởng của người hứa thưởng mới phát sinh và bắt buộc phải thực hiện theo hợp đồng hứa thưởng đã công khai cam kết trước đó. Từ vụ việc áp dụng án lệ mới gần đây, khi kết quả đạt được, khách hàng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của luật sư, xác định hợp đồng có hiệu lực. Tuy nhiên, tại giám đốc thẩm, Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh đã tuyên hợp đồng vô hiệu, cho rằng thỏa thuận thù lao luật sư theo tỷ lệ phần trăm là “vi phạm điều cấm của luật”, từ đó hủy toàn bộ các bản án trước là hoàn toàn không thuyết phục.

Tôi hoàn toàn đồng quan điểm với Tác giả bài báo “Án lệ hợp đồng hứa thưởng giữa luật sư và khách hàng: Ranh giới điều cấm của luật” đăng trên tạp chí Luật sư ngày 16/12/2025  “ … Hiện nay, vụ việc này đang được đề xuất phát triển thành án lệ hợp đồng hứa thưởng giữa luật sư và khách hàng, một án lệ có thể tạo ra tác động rộng lớn đối với các giao dịch dân sự có thù lao gắn với kết quả trong nền kinh tế thị trường... Nếu mọi chuẩn mực quản lý nghề đều có thể được diễn giải thành điều cấm của luật dân sự, thì pháp luật sẽ không còn bảo vệ cam kết, mà vô tình hợp thức hóa sự bội tín…. Trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng hứa thưởng phát sinh nghĩa vụ khi công việc hoàn thành nghĩa vụ trả thưởng chỉ phát sinh khi có người thực hiện đúng yêu cầu mà trước đó hợp đồng này chưa tạo ra nghĩa vụ cụ thể. Pháp luật phải bảo đảm thực hiện cam kết của các bên trong giao dịch dân sự thì mới đẩy lùi được sự bội tín trong quan hệ xã hội nhất là quan hệ giữa người hành nghề luật sư với khách hàng.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý nâng cao hiệu quả thực hiện dịch vụ pháp lý của Luật sự hiện nay ở nước ta.

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng hoạt động hành nghề luật sư và dịch vụ pháp lý ở Việt Nam cần hoàn thiện quy định pháp luật về thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý theo các hướng kiến nghị như sau:

Thứ nhất: Quốc hội cần bổ sung một điều riêng biệt trong Luật Luật sư hiện hành liên quan đến việc Áp dụng Luật Luật sư và pháp luật có liên quan để mở rộng quyền điều chỉnh của pháp luật liên quan đến hành nghề dịch vụ pháp lý của Luật sư, cụ thể như sau:

1. Hành nghề dịch vụ pháp lý của Luật sư phải tuân theo Luật Luật sư và pháp luật có liên quan.

2. Hành nghề dịch vụ pháp lý đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.

3. Hành nghề dịch vụ pháp lý của Luật sư được quy định trong Luật Luật sư và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.

Thứ hai: Kiến nghị Quốc hội bổ sung khoản 3 vào điềm 26 Thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý và khoản 3 vào Điều 55 Căn cứ và phương thức tính thù lao “Giao cho Chính phủ quy định chi tiết điều này” để làm cơ sở cho Chính phủ hướng dẫn áp dụng hợp đồng mẫu về dịch vụ pháp lý bảo đảm chặt chẽ của pháp luật liên quan đến phương thức tính thù lao nhằm đáp ứng theo yêu cầu đòi hỏi của thị trường ở nước ta hiện nay.

Thứ ba: Kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét hủy bản án lệ liên quan đến hứa thưởng của khách hàng với dịch vụ pháp lý của Luật sư là vô hiệu do vi phạm pháp luật. Bởi vì, Điều cấm của luật dân sự là những quy phạm mang tính cấm đoán rõ ràng, áp dụng chung cho mọi chủ thể trong xã hội được quy định khá chi tiết trong Bộ Luật dân sự hiện hành. Bên cạnh đó, quy định quản lý hành nghề và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong Luật Luật sư chủ yếu điều chỉnh hành vi của luật sư và là cơ sở xử lý kỷ luật nội bộ, không phải là tiêu chí trực tiếp để xác định hiệu lực hay vô hiệu của giao dịch dân sự. Hơn nữa, Theo kinh nghiệm của các nước áp dụng án lệ trên thế giới thì án lệ chỉ mang tính bổ trợ, chỉ có thể áp dụng án lệ khi mà pháp luật còn thiếu vắng chưa đủ cơ sở để áp dụng. Tức là theo nguyên tắc chung, nếu văn bản pháp luật đã có quy định rõ ràng, đầy đủ và có thể áp dụng trực tiếp thì không cần thiết phải viện dẫn án lệ. Án lệ không thay thế luật, mà chỉ được dùng để hướng dẫn cách hiểu và áp dụng luật trong những trường hợp chưa có quy định cụ thể hoặc quy định chưa rõ ràng. Như vậy, việc tính thù lao trong thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý được quy định chặt chẽ logic khoa học trong Bộ Luật dân sự năm 2015 cũng như Luật Luật sư hiện hành thì việc áp dụng án lệ của Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh hủy bỏ hợp đồng hứa thưởng của Khách hàng đối với dịch vụ pháp lý của Luật sư đang tiếp tay cho bội tín ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của thị trường dịch vụ pháp lý ở nước ta.

Thứ tư: Kiến nghị Chính phủ sửa đổi bổ sung Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư theo hướng làm rõ mẫu hợp đồng dịch vụ pháp lý để thống nhất áp dụng chung trong phạm vi toàn quốc nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào hoạt động dịch vụ pháp lý nâng cao hiệu quả bảo vệ công lý của người Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác trong giai đoạn hội nhập và chuyển đổi số hiện nay ở nước ta.

Thứ năm, Kiến nghị Tổ chức xã hội nghề nghiệp toàn Quốc của Luật sư đứng đầu là Liên đoàn luật sư Việt Nam cần phát huy vai trò chức năng của mình nhanh chóng gửi kiến nghị chính thức đến Hội đồng Thẩm phán TANDTC, kèm theo phân tích pháp lý chứng minh án lệ đó vi phạm luật hiện hành hoặc gây hệ quả bất lợi cho nghề luật sư và khách hàng để bảo vệ quyền lợi của Luật sư. Cụ thể là:

Một, Phối hợp với các Đoàn Luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (địa phương) nghiên cứu và phân tích tình huống có tranh chấp và án lệ như đã phân tích trên đây liên quan đến hứa thưởng giữa khách hàng và luật sư, xác định cơ sở pháp lý đã trái với quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Luật sư cũng như các văn bản hướng dẫn dưới luật một cách trầm trọng.

Hai, Thu thập ý kiến chuyên môn  tổ chức hội thảo, lấy ý kiến từ các Đoàn Luật sư địa phương, chuyên gia pháp lý, học giả để củng cố lập luận.

Ba, Soạn thảo văn bản kiến nghị  hủy bỏ Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT của TAND Cấp cao tại TP.HCM (nay là Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM), tuyên vô hiệu hợp đồng hứa thưởng giữa Luật sư (LS) và thân chủ làm nguồn án lệ án lệ kèm theo cơ sở pháp lý chứng minh án lệ trái quy định. Hệ quả tiêu cực nếu tiếp tục áp dụng án lệ mà chính xác là làm sai lệch bản chất hợp đồng dịch vụ pháp lý, ảnh hưởng quyền lợi khách hàng và luật sư. Văn bản kiến nghị được gửi trực tiếp đến Hội đồng Thẩm phán TANDTC – cơ quan duy nhất có thẩm quyền hủy hoặc sửa đổi án lệ. Đồng thời, theo dõi và tham gia quá trình xem xét theo hướng LĐLSVN có thể đề nghị được tham gia phiên họp hoặc cung cấp thêm tài liệu, lập luận bổ sung khi Hội đồng Thẩm phán xem xét.

4. Kết luận

Tập trung phân tích rõ nội dung quy định về hợp đồng lao động trong hành nghề Luật sư và hợp đồng dịch vụ pháp lý của Luật sư cũng như quy định về chi phí, thu lao dịch vụ pháp lý theo thỏa thuận dưới góc nhìn khoa học pháp lý cho thấy đây là một lĩnh vực có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng hoạt động hành nghề luật sư và dịch vụ pháp lý ở Việt Nam.

Thực tiễn hiện nay đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành để điều chỉnh tốt hơn hoạt động dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý vốn vẫn tồn tại nhiều bất cập như: khung pháp lý chưa đồng bộ, phạm vi điều chỉnh còn hạn chế, quyền và nghĩa vụ của các bên chưa cụ thể, cơ chế bảo đảm thực hiện hợp đồng còn yếu, thiếu minh bạch trong thù lao và chi phí, cũng như chưa theo kịp yêu cầu hội nhập quốc tế. Định hướng hoàn thiện pháp luật về thực hiện dịch vụ pháp lý cần tập trung vào việc xây dựng khung pháp lý thống nhất, cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của các bên, minh bạch hóa thù lao và chi phí, tăng cường cơ chế bảo đảm thực hiện hợp đồng, nhất là việc thống nhất chung một hợp đồng mẫu liên quan đến thù lao, hứa thưởng, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Để khắc phục được những hạn chế này yêu cầu cấp thiết đặt ra cho mọi giai tầng trong xã hội ngày nay là phải nghiên cứu, đánh giá và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật. Điều này khẳng định vai trò góp phần xây dựng thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao uy tín nghề luật sư và thúc đẩy cải cách tư pháp ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới ở nước ta.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Luật dân sự năm 2015

2. Văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012

3. Nghị định số 123/2013/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư

4. Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT của TAND Cấp cao tại TP.HCM (nay là Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM), tuyên vô hiệu hợp đồng hứa thưởng giữa Luật sư (LS) và thân chủ làm nguồn án lệ

5. Luật sư. Bùi Anh Tú: Án lệ hợp đồng hứa thưởng giữa luật sư và khách hàng: Ranh giới điều cấm của luật – Tạp chí Luật sư Việt Nam – ngày 16/12/2025

 

[1] Khoản 1 điều 49 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012

[2] Điều 513 Bộ Luật Dân sự năm 2015

[3] Theo Tạp chí Luật sư Việt Nam – ngày 16/12/2025

[4] Theo điểm c khoản 2 điều 55 văn bản hợp nhất Luật Luật sư năm 2012.

TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả