CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG KHU VỰC CÔNG Ở VIỆT NAM: THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP

28/01/2026 - 15:04

PHẠM THỊ MAI[1]

Trường Đại học Sao Đỏ

Nhận bài ngày 20/12/2025. Sửa chữa xong 25/01/2026. Duyệt đăng 28/01/2025.

Tóm tắt

 Chuyển đổi số là xu thế tất yếu trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với khu vực công trong xây dựng chính phủ số và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Ở Việt Nam, quá trình này được thúc đẩy bởi nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 52-NQ/TW và Chương trình chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn gặp không ít khó khăn về nhận thức, thể chế, hạ tầng, nhân lực và phối hợp liên ngành. Bài viết tập trung làm rõ các thách thức chủ yếu trong chuyển đổi số khu vực công hiện nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình này theo hướng hiệu quả và bền vững.

Từ khóa: Chuyển đổi số, dịch vụ công, chuyển đổi số ở Việt Nam, thách thức, giải pháp.

Abstract

                Digital transformation is an inevitable trend in the context of the Fourth Industrial Revolution, and is particularly important for the public sector in building a digital government and improving the quality of services for citizens and businesses. In Vietnam, this process is promoted by many major policies and guidelines of the Party and State, such as Resolution No. 52-NQ/TW and the National Digital Transformation Program. However, practical implementation still faces many difficulties in terms of awareness, institutions, infrastructure, human resources, and inter-sectoral coordination. This article focuses on clarifying the main challenges in digital transformation in the public sector today, while proposing some solutions to promote this process in an effective and sustainable manner.

                Keywords: Digital transformation, public administration, digital transformation in Vietnam, challenge, solution.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, chuyển đổi số đã trở thành xu thế tất yếu và yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước xác định chuyển đổi số là định hướng chiến lược quan trọng nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Quan điểm này được thể hiện rõ trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, quyết định quan trọng như Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Chuyển đổi số không chỉ tác động sâu rộng đến lĩnh vực kinh tế mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với khu vực công - lĩnh vực giữ vai trò trung tâm trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Thông qua chuyển đổi số, hoạt động quản lý, điều hành từng bước được hiện đại hóa, nâng cao tính minh bạch và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được một số kết quả bước đầu trong xây dựng Chính phủ điện tử và phát triển dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số trong khu vực công vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình này trong giai đoạn hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Tầm quan trọng của chuyển đổi số trong khu vực công ở Việt Nam hiện nay

Chuyển đổi số là quá trình ứng dụng công nghệ số vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thay đổi cách thức vận hành truyền thống, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo ra giá trị mới và cải thiện trải nghiệm của người sử dụng. Không chỉ dừng lại ở việc số hóa tài liệu hay tự động hóa quy trình, chuyển đổi số còn bao gồm việc thay đổi tư duy, mô hình quản trị, cấu trúc tổ chức và văn hóa làm việc để thích ứng với môi trường số.

Trong bối cảnh toàn cầu bước vào kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số đã trở thành xu thế tất yếu và là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện chất lượng sống của người dân. Ở Việt Nam, khu vực công giữ vai trò then chốt trong tiến trình chuyển đổi số, vừa là chủ thể trực tiếp triển khai, vừa là lực lượng dẫn dắt, lan tỏa chuyển đổi số trong toàn xã hội. Việc đẩy mạnh chuyển đổi số khu vực công có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đổi mới thể chế, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công cũng như củng cố niềm tin và sự hài lòng của người dân. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị đã xác định chuyển đổi số quốc gia là nội dung trọng tâm, gắn với phát triển kinh tế số, xây dựng chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số [4, tr. 3]. Tiếp đó, Quyết định số 749/QĐ-TTg năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, xác định mục tiêu phổ cập dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, đẩy mạnh số hóa quản lý nhà nước và nâng cao thứ hạng Chính phủ điện tử của Việt Nam trên thế giới [6, tr. 3].

Trước hết, chuyển đổi số trong khu vực công giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa quy trình công vụ, các cơ quan hành chính có thể giảm thiểu thời gian xử lý công việc, tự động hóa các nghiệp vụ hành chính, loại bỏ các khâu trung gian không cần thiết, từ đó giảm tải áp lực cho cán bộ công chức và tiết kiệm chi phí vận hành. Đặc biệt, khi các hệ thống quản lý điều hành điện tử được tích hợp đồng bộ, việc quản lý, kiểm soát và phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, tạo ra một nền hành chính thông minh và minh bạch.

Thứ hai, chuyển đổi số góp phần mạnh mẽ vào cải cách hành chính và cung cấp dịch vụ công chất lượng cao. Việc triển khai các cổng dịch vụ công trực tuyến giúp người dân và doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục hành chính ở mọi lúc, mọi nơi, không còn phụ thuộc vào thời gian hành chính truyền thống. Điều này không chỉ tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại cho người dân mà còn góp phần giảm thiểu cơ hội xảy ra tiêu cực, nhũng nhiễu trong quá trình thực hiện thủ tục. Việc chuyển đổi từ “hành chính phục vụ” sang “hành chính chủ động - số hóa” giúp người dân được đặt ở vị trí trung tâm, trở thành đối tượng phục vụ thay vì phải “xin - cho” như mô hình hành chính cũ.

Thứ ba, chuyển đổi số trong khu vực công có vai trò đặc biệt trong minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước và phòng, chống tham nhũng. Khi các quy trình công vụ, dữ liệu tài chính, kết quả thực hiện nhiệm vụ được lưu trữ và xử lý trên môi trường số, các cơ quan kiểm toán, thanh tra, giám sát có thể dễ dàng truy xuất, đối chiếu, phát hiện những sai phạm một cách kịp thời. Đây chính là cơ sở để tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền, đồng thời cũng là công cụ hữu hiệu để người dân và báo chí tham gia vào giám sát hoạt động của Nhà nước, từ đó thúc đẩy xây dựng một chính quyền liêm chính, hiện đại.

Thứ tư, chuyển đổi số là điều kiện không thể thiếu để xây dựng chính quyền số, đô thị thông minh và nền hành chính công khai, minh bạch. Với nền tảng là dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), chính quyền có thể đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu. Các lĩnh vực như quy hoạch đô thị, giao thông, y tế, giáo dục… sẽ được quản lý theo thời gian thực, giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao chất lượng sống cho người dân. Điều này đã và đang được nhiều địa phương trong cả nước triển khai hiệu quả.

Thứ năm, chuyển đổi số giúp nâng cao khả năng phản ứng và thích ứng của chính quyền trước các tình huống khẩn cấp, điển hình như trong đại dịch Covid-19. Việc sử dụng các ứng dụng truy vết, bản đồ dịch tễ, khai báo y tế điện tử, chứng nhận tiêm chủng số… đã cho thấy tiềm năng và hiệu quả to lớn của công nghệ số trong công tác điều hành, kiểm soát và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Thứ sáu, chuyển đổi số tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế số, xã hội số, góp phần thúc đẩy sáng tạo và khởi nghiệp. Khi các dịch vụ công như đăng ký kinh doanh, khai thuế, hải quan điện tử được triển khai hiệu quả, người dân và doanh nghiệp được tiếp cận các cơ hội kinh doanh dễ dàng hơn, giảm thiểu rào cản hành chính và chi phí tuân thủ. Bên cạnh đó, việc công khai dữ liệu mở từ các cơ quan nhà nước cũng thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển các dịch vụ gia tăng, mở ra không gian sáng tạo cho cộng đồng công nghệ và các doanh nghiệp khởi nghiệp.

Thứ bảy, chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao niềm tin của người dân vào bộ máy hành chính công. Khi người dân thấy được sự thay đổi tích cực, thuận tiện và hiệu quả trong quá trình tương tác với cơ quan nhà nước, niềm tin xã hội sẽ được củng cố, góp phần xây dựng mối quan hệ đồng hành giữa Nhà nước và Nhân dân.

Thứ tám, chuyển đổi số trong khu vực công có vai trò chiến lược trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam đã cam kết với cộng đồng quốc tế. Các lĩnh vực như giáo dục, y tế, môi trường, quản lý tài nguyên, an sinh xã hội… đều cần đến sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ để đạt hiệu quả cao hơn, tối ưu hóa nguồn lực và bảo đảm sự tiếp cận công bằng cho mọi người dân.

Từ những phân tích trên cho thấy, chuyển đổi số trong khu vực công ở Việt Nam không chỉ đơn thuần là số hóa các dịch vụ mà còn là quá trình đổi mới căn bản phương thức điều hành, quản trị và phục vụ nhân dân, vừa mang tính kỹ thuật, vừa là cải cách thể chế và văn hóa hành chính. Trong hành trình đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt; người dân và doanh nghiệp là trung tâm; còn công nghệ là công cụ - chất xúc tác để hiện thực hóa một nền hành chính hiện đại, minh bạch và phát triển vì con người. Đánh giá đúng tầm quan trọng của chuyển đổi số quốc gia, năm 2024, Bộ Chính trị tiếp tục đưa ra Nghị quyết số 57-NQ/TW và nêu rõ quan điểm chỉ đạo: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới” [2, tr. 2].

2.2. Thách thức trong chuyển đổi số khu vực công ở Việt Nam hiện nay

Trải qua một thời gian thực hiện, cho thấy, quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Theo số liệu báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về tình hình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về tình hình chuyển đổi số quốc gia tính đến quý III/2025 như sau: xét trong tổng quan toàn quốc: Tổng số thủ tục hành chính (TTHC) khối Chính phủ và Đảng là 5.542 thủ tục. Tổng số hồ sơ tiếp nhận đạt 12,7 triệu, trong đó tỷ lệ hồ sơ trực tuyến chiếm 73,5%. Tại cấp Bộ, ngành Trung ương: Có 3.195 TTHC (gồm 929 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 2.266 dịch vụ công trực tuyến  một phần; bao gồm cả dịch vụ của khối Đảng và Tòa án nhân dân tối cao). Số lượng hồ sơ: 2,4 triệu, tỷ lệ trực tuyến đạt 53%. Tại cấp Địa phương: Cấp tỉnh: Có 2.347 TTHC (1.080 toàn trình, 1.267 một phần). Cấp xã: Có 510 TTHC (200 toàn trình, 310 một phần). Số lượng hồ sơ: Hơn 10,3 triệu (cấp xã chiếm đa số với 7,4 triệu hồ sơ). Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt mức cao 75,7% [1, tr. 3]. Điều đó cho thấy, việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến đã dần đi vào ổn định, phát huy hiệu quả tích cực về kinh tế, xã hội và niềm tin của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc chuyển đổi số trong khu vực công hiện còn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trên cả bình diện chủ quan và khách quan. Những rào cản này không chỉ làm chậm tiến trình triển khai mà còn ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của các dịch vụ công, qua đó tác động đến sự tin tưởng, hài lòng của người dân vào Đảng, Nhà nước.

Thứ nhất, nhận thức chưa đầy đủ và đồng bộ về chuyển đổi số. Mặc dù chính phủ đã có nhiều chỉ đạo quyết liệt nhưng tại nhiều địa phương và đơn vị hành chính, lãnh đạo các cấp vẫn chưa thực sự coi trọng vai trò của chuyển đổi số trong quản lý điều hành. Việc xem chuyển đổi số như một nhiệm vụ kỹ thuật thay vì một chiến lược phát triển tổng thể khiến cho nhiều cơ quan còn lúng túng, triển khai manh mún, thiếu định hướng rõ ràng. Điều này dẫn đến thực trạng “làm để có”, chạy theo hình thức hoặc thực hiện một cách đối phó.

Thứ hai, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ và chưa đủ mạnh. Ở nhiều địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin còn rất hạn chế: mạng lưới Internet không ổn định, hệ thống máy chủ yếu, thiếu phần mềm dùng chung, thiếu hệ thống bảo mật. Sự thiếu kết nối và liên thông giữa các cơ sở dữ liệu, các nền tảng số giữa các bộ, ngành và địa phương gây ra tình trạng cát cứ thông tin, lãng phí tài nguyên dữ liệu và không tạo được hiệu quả tổng thể. Một số hệ thống vẫn hoạt động rời rạc, không có khả năng chia sẻ thông tin theo thời gian thực. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông (2024), mặc dù 82,4% hộ gia đình đã được phủ sóng cáp quang nhưng tỷ lệ này vẫn chưa đồng đều giữa các vùng; một số xã biên giới vẫn chưa có trạm thu phát sóng di động đủ mạnh. Điều này cản trở nghiêm trọng khả năng tiếp cận dịch vụ số, đặc biệt là dịch vụ công trực tuyến, giáo dục từ xa và y tế số ở khu vực nông thôn [5].

Thứ ba, nguồn nhân lực số thiếu hụt cả về số lượng lẫn chất lượng. Nhiều cán bộ, công chức, viên chức chưa được đào tạo bài bản về công nghệ thông tin, thiếu kỹ năng sử dụng các phần mềm chuyên ngành, chưa quen với quy trình làm việc trên môi trường số. Đặc biệt tại cấp xã, phường - nơi tiếp xúc trực tiếp với người dân, tình trạng cán bộ công nghệ thông tin kiêm nhiệm, không chuyên sâu khá phổ biến. Việc chưa có chính sách thu hút và đãi ngộ nhân tài công nghệ trong khu vực công cũng khiến nguồn lực này chảy sang khu vực tư nhân.

Thứ tư, thể chế và hành lang pháp lý chưa hoàn thiện cũng là một thách thức lớn. Mặc dù Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về chính phủ điện tử, chuyển đổi số, dữ liệu cá nhân nhưng nhiều quy định vẫn còn chồng chéo, thiếu tính khả thi hoặc chưa theo kịp sự phát triển nhanh của công nghệ. Mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như Quyết định số 749/QĐ-TTg về Chương trình chuyển đổi số quốc gia hay Chiến lược quốc gia về phát triển dữ liệu số nhưng các quy định pháp lý liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng, định danh điện tử, chia sẻ và kết nối dữ liệu giữa các hệ thống thông tin vẫn chưa đầy đủ và thống nhất. Nhiều cơ quan, tổ chức còn lúng túng trong việc áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật, khiến việc liên thông, tích hợp dữ liệu giữa các nền tảng gặp khó khăn [5]. Các quy định về bảo mật, an ninh mạng, chia sẻ dữ liệu, giao dịch điện tử… còn chưa đồng bộ, khiến các địa phương và đơn vị e ngại khi triển khai thực tế.

Thứ năm, thói quen và văn hóa hành chính truyền thống vẫn còn ăn sâu trong tư duy và hành vi của không ít cán bộ, công chức. Nhiều người có tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm khi ứng dụng công nghệ, từ đó không chủ động học hỏi, ngại thay đổi và làm chậm tiến trình số hóa bộ máy.

Thứ sáu, mức độ sẵn sàng tham gia của người dân và doanh nghiệp vào môi trường số còn thấp. Một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt là người cao tuổi, người dân nông thôn hoặc người lao động phổ thông còn hạn chế trong tiếp cận và sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Điều này xuất phát từ thói quen truyền thống, hạn chế về kỹ năng công nghệ cũng như thiếu niềm tin vào tính bảo mật và hiệu quả của các dịch vụ số. Tâm lý lo ngại về rò rỉ thông tin cá nhân, thiếu tin tưởng vào hệ thống khiến người dân vẫn ưu tiên các hình thức giao dịch trực tiếp hơn là trực tuyến.

Thứ bảy, thiếu cơ chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, ban ngành. Mỗi đơn vị thường xây dựng một hệ thống riêng, sử dụng phần mềm riêng, dẫn đến tình trạng “mạnh ai nấy làm”, khó tạo ra sự đồng bộ. Việc chia sẻ dữ liệu chưa thành hệ sinh thái liên thông, không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý hồ sơ mà còn làm mất cơ hội để sử dụng dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách, cảnh báo rủi ro, nâng cao năng lực dự báo của Nhà nước.

Những khó khăn, thách thức này cũng đã được nhấn mạnh qua sự theo dõi của Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Văn phòng Chính phủ và Báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: giai đoạn từ ngày 01 tháng 7 đến ngày 15 tháng 7 năm 2025 vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực hiện thủ tục hành chính, chuyển đổi số, ảnh hưởng đến quá trình vận hành của toàn bộ hệ thống mới, trong đó tập trung vào 04 nhóm vấn đề chính: 1) Hạ tầng kỹ thuật còn thiếu, yếu, chất lượng chưa đảm bảo; 2) Hệ thống thông tin còn chưa ổn định, có trường hợp thường xuyên gặp lỗi, chậm, treo và dữ liệu thiếu kết nối, chia sẻ, đồng bộ, liên thông; 3) Thể chế, quy trình và nguồn nhân lực còn thiếu hoặc chậm được sửa đổi, hoàn thiện; 4) Công tác hỗ trợ, hướng dẫn, tuyên truyền còn chưa hiệu quả, sát thực, có xuất hiện tình trạng "cò làm giấy tờ" ở một số địa phương và phát sinh thêm thủ tục hành chính không đúng quy định trong văn bản quy phạm pháp luật [6].

2.3. Một số giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực công ở Việt Nam hiện nay

Để chuyển đổi số trong khu vực công ở Việt Nam thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển quốc gia cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp ở cả cấp Trung ương và địa phương, từ chính sách pháp luật, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực đến nhận thức và sự đồng hành của toàn xã hội. Trong bài viết này, tác giả đề xuất một số nhóm giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực công ở Việt Nạm hiện nay:

2.3.1. Nâng cao nhận thức và tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong chuyển đổi số

 Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu kỹ thuật hay hành chính đơn thuần mà là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, gắn liền với công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo hướng hiện đại, hội nhập và bền vững. Vì vậy, cần xác định rõ vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác chuyển đổi số, coi đây là một trong những nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng, cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Các cấp ủy Đảng cần chỉ đạo quyết liệt, cụ thể hóa bằng nghị quyết, chương trình hành động, đồng thời phân công rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong việc triển khai. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cần được đẩy mạnh để nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân về tầm quan trọng, tính tất yếu của chuyển đổi số trong khu vực công.

2.3.2. Hoàn thiện thể chế, chính sách và hành lang pháp lý cho chuyển đổi số

 Việc xây dựng, rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến chuyển đổi số là điều kiện tiên quyết. Cần nhanh chóng ban hành Luật về chuyển đổi số, dữ liệu cá nhân, bảo mật thông tin, giao dịch điện tử, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và theo kịp xu thế công nghệ mới. Đồng thời, cần loại bỏ các quy định pháp lý cản trở việc ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước, giảm thiểu các thủ tục hành chính không cần thiết.

2.3.3. Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin đồng bộ và hiện đại

 Nhà nước cần ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng số quốc gia, đặc biệt là hạ tầng số ở cấp địa phương. Việc triển khai các trung tâm dữ liệu vùng, mạng viễn thông băng thông rộng, các nền tảng điện toán đám mây dùng chung, hệ thống bảo mật an toàn thông tin là yếu tố nền tảng để đảm bảo chuyển đổi số được triển khai hiệu quả. Bên cạnh đó cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bảo đảm tính liên thông, chia sẻ, khai thác dữ liệu giữa các cơ quan.

2.3.4. Tăng cường phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số

 Cần xây dựng chiến lược phát triển nhân lực số trong khu vực công, trong đó chú trọng đào tạo kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức. Việc tổ chức các chương trình đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng chuyên sâu về công nghệ thông tin, an toàn thông tin, quản trị dữ liệu… là cần thiết để từng bước thay đổi tư duy và hành vi của đội ngũ hành chính. Đồng thời, cần có chính sách thu hút và giữ chân nhân lực công nghệ cao làm việc trong khu vực công, thông qua cải thiện môi trường làm việc, chế độ đãi ngộ phù hợp.

2.3.5. Xây dựng mô hình quản trị số hiệu quả, linh hoạt và thích ứng

 Chuyển đổi số đòi hỏi một mô hình quản trị phù hợp với môi trường số, trong đó đề cao vai trò của dữ liệu trong ra quyết định, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn. Các cơ quan nhà nước cần chuyển từ mô hình quản trị dựa trên chức năng sang quản trị theo quy trình và kết quả, trong đó người dân là trung tâm. Đồng thời, cần thúc đẩy văn hóa đổi mới, dám nghĩ, dám làm trong khu vực công, khuyến khích các sáng kiến cải cách gắn với ứng dụng công nghệ.

2.3.6. Đảm bảo an toàn, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân

 Cần tăng cường đầu tư cho hệ thống phòng chống tấn công mạng, phát triển đội ngũ chuyên gia an ninh mạng trong khu vực công. Đồng thời, xây dựng cơ chế kiểm soát truy cập, giám sát hệ thống và có quy định rõ ràng về quyền và trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến dữ liệu cá nhân, đảm bảo quyền riêng tư của người dân.

2.3.7. Thiết lập hệ thống đánh giá, giám sát và kiểm tra quá trình chuyển đổi số

 Nhà nước cần xây dựng bộ tiêu chí đo lường hiệu quả chuyển đổi số một cách khoa học, minh bạch và thống nhất giữa các ngành, các địa phương.

Như vậy, chuyển đổi số trong khu vực công là một quá trình phức tạp, liên quan đến nhiều yếu tố và cấp độ khác nhau. Để quá trình này diễn ra hiệu quả cần có sự vào cuộc quyết liệt, kiên định và đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, từ chính quyền đến người dân và doanh nghiệp. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên, sự chia sẻ nguồn lực, dữ liệu và kinh nghiệm sẽ là chìa khóa để Việt Nam xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch, hướng tới phục vụ người dân và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.

3. Kết luận

Chuyển đổi số trong khu vực công không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt nhằm hiện đại hóa nền hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và chất lượng phục vụ người dân. Những kết quả bước đầu đã cho thấy quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước và sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số còn đối mặt với nhiều khó khăn về thể chế, hạ tầng, nhân lực, nhận thức và phương thức điều hành. Để vượt qua những thách thức này, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức, đầu tư đồng bộ hạ tầng số và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Chuyển đổi số khu vực công không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là một cuộc cách mạng trong quản lý và phục vụ, góp phần xây dựng một nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch, hướng tới người dân và doanh nghiệp. Với quyết tâm chính trị cao, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, chuyển đổi số trong khu vực công ở Việt Nam sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững và bao trùm của đất nước trong thời đại số.

___________

Tài liệu tham khảo

[1] Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (2025). Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị quý III/2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cuối năm 2025.

[2] Ban Chấp hành Trung ương (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị

về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[3] Báo điện tử Chính phủ (2025). Tập trung tháo gỡ khó khăn trong thực hiện thủ tục hành chính, chuyển đổi số giai đoạn đầu vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Nguồn:

https://baochinhphu.vn/tap-trung-thao-go-kho-khan-trong-thuc-hien-thu-tuc-hanh-chinh-chuyen-doi-so-giai-doan-dau-van-hanh-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-02-cap-102250717222608677.htm, ngày 17/7/2025.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

[5] Đinh Thu Hương (2025). Đẩy mạnh chuyển đổi số ở Việt Nam: Thực trạng, thách thức và định hướng phát triển. Nguồn: https://dx.moj.gov.vn/day-manh-chuyen-doi-so-o-viet-nam-thuc-trang-thach-thuc-va-dinh-huong-phat-trien-928.htm, ngày 20/5/2025.

[6] Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.


[1] Email: maipham@gmail.com

 

 


Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba khẳng định vai trò gần dân, sát cơ sở, vì sức khỏe thế hệ trẻ

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba tổ chức chương trình khám sức khỏe định kỳ cho gần 500 sinh viên tại Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông lâm Phú Thọ. Hoạt động không chỉ mang ý nghĩa thiết thực trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe thế hệ trẻ mà còn cho thấy sự quan tâm ngày càng sâu sát của ngành Y tế đối với công tác chăm sóc sức khỏe học sinh, sinh viên; qua đó góp phần khẳng định vai trò, vị thế của Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba trong hệ thống y tế cơ sở.

Lan tỏa yêu thương, tiếp sức học sinh Trường THCS Văn Lang

Trường THCS Văn Lang, tỉnh Phú Thọ tổ chức trao 10 phần quà, mỗi phần trị giá 500.000 đồng, do Ngân hàng BIDV - Chi nhánh Hùng Vương dành tặng học sinh nhà trường. Những món quà ý nghĩa là sự sẻ chia thiết thực, tiếp thêm động lực để các em nỗ lực học tập, rèn luyện trong năm học mới.

Phú Thọ: Các cơ sở giáo dục không được đặt ra các khoản thu ngoài danh mục được quy định

Nhằm bảo đảm việc thu, quản lý, sử dụng các khoản thu thống nhất, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ vừa có hướng dẫn thực hiện công tác quản lý thu, chi năm học 2026 - 2027 trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Theo đó, các cơ sở giáo dục công lập chỉ được tổ chức các khoản thu thuộc danh mục quy định tại Quyết định số 44/2026/QĐ-UBND, Quyết định số 2638/QĐ-UBND và văn bản hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo; không thỏa thuận hoặc đặt ra các khoản thu ngoài danh mục.

Thanh Hoá: Ông Nguyễn Trọng Sơn được bổ nhiệm Phó Chánh án TAND tỉnh

Chiều 15/9, TAND tối cao tổ chức Lễ công bố quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Trọng Sơn, Chánh tòa Dân sự, TAND tỉnh Thanh Hóa, giữ chức vụ Phó Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa. Thời hạn bổ nhiệm là 5 năm, kể từ ngày 15/9/2026

Lào Cai: Trường THCS Ngô Văn Sở lan tỏa từ những điều Bác dạy

Trường THCS Ngô Văn Sở, phường Lào Cai tổ chức sinh hoạt chính trị, tư tưởng với chủ đề “Thực hành và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh – hành động thiết thực từ những việc làm cụ thể”. Qua đó, những lời căn dặn của Người được chuyển hóa thành những việc làm gần gũi trong học tập, công tác và sinh hoạt hằng ngày.

Thanh Hóa: Nhiều hoạt động đặc sắc tại Lễ hội Lam Kinh năm 2026

Lễ hội Lam Kinh năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 1-3/10 tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh (xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa), với nhiều nghi lễ truyền thống, hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Trong khuôn khổ sự kiện, Liên hoan Văn nghệ dân gian - Phiên chợ vùng cao cũng được tổ chức, góp phần quảng bá những giá trị văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc trong tỉnh.

Phú Thọ tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục

UBND tỉnh Phú Thọ yêu cầu tăng cường kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm, công khai thông tin bữa ăn học đường và xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là hành vi “cắt xén” khẩu phần của học sinh.

Phú Thọ rà soát chế độ tập sự của viên chức ngành Giáo dục

Viên chức đang tập sự được rà soát, xếp lương theo vị trí việc làm tuyển dụng và thực hiện quy định chuyển tiếp từ ngày 1/7/2026.

TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Phó Tổng Biên tập phụ trách trang điện tử: Vũ Đình Thơm

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Banbientap@giaoducvaxahoi.vn

Liên hệ quảng cáo: 024.629 46516