ĐỀN THỜ PHÚC KHÊ TƯỚNG CÔNG NGUYỄN VĂN NGHI ĐÔNG SƠN - THANH HÓA QUA TƯ LIỆU KHẢO CỔ HỌC

30/03/2026 - 22:23

ThS. Lưu Văn Hùng

Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Tóm tắt:

Đền thờ Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi một danh nho, quan Thượng thư thế kỷ XVI–XVII — tọa lạc xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, được xây dựng năm 1617 theo bố cục "nội công ngoại quốc" với hệ thống kiến ​​trúc gỗ, hiện vật đá độc đáo với nhiều tượng đá, bia ký có giá trị nghệ thuật cao. Kết quả khai quật khảo cổ học đã hiển thị một kiến ​​trúc đơn nguyên gồm 19 móng cột, xác định đây là tòa nhà Trung đường 5 gian - mắt xích còn thiếu để hoàn thiện sơ đồ kiến ​​trúc chữ "Công" của khu Nội điện. Từ đó, cho thấy đây là công trình giáo dục tư nhân có thời đại sớm nhất còn lại của tầng lớp quan lại thời Lê–Trịnh, đồng thời là di sản kiến ​​trúc - nghệ thuật tiêu biểu của Thanh Hóa đầu thế kỷ XVII, xứng đáng được bảo tồn tồn tại và phát huy ở tầm quốc gia.

Từ khóa: Khảo cổ học; Đông Sơn Thanh Hóa; Nguyễn Văn Nghi; Lê Trung hưng

1. Đặt vấn đề

Đền thờ Nguyễn Văn Nghi hay còn gọi là Nghè Phúc, Miễu Phúc có tên chữ là “Phúc Khê tướng công từ” nằm ở phía Bắc thôn Phúc Triều (xưa là xã Phúc Thọ), xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Cách thành phố Thanh Hóa 12 km về phía Tây. Đền thờ được xây dựng vào năm 1617 niên hiệu Hoằng Định thời vua Lê Kính Tông (1600 - 1629) theo hướng Đông - Đông Nam (chếch 100 về hướng Nam) trên xứ đồng Mau thuộc thôn Phúc Triền, xã Đông Thanh với tổng diện tích khoảng 26,345m2. Khu vực xung quanh đền thờ Nguyễn Văn Nghi là đồng ruộng trải rộng nhìn về Núi Đọ (di tích khảo cổ học thời kì đá cũ) và dãy núi Hàm Rồng. Phía Đông Nam là thôn Phúc Triền, phía Tây - Nam giáp với xã Thiệu Trung - quê hương của nhà sử học Lê Văn Hưu và nghề đúc đồng nổi tiếng. Địa thế này có nhiều thuận lợi cho việc xây dựng các cụm thắng cảnh phục vụ công tác nghiên cứu và tham gia du lịch.

2. Khái quát về đền thờ Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi

Xưa người Ái Châu có câu "Đông Sơn tứ Bôn, Hoằng Hóa lưỡng Bột"[1] để chỉ những vùng đất hiếu học và đỗ đạt ở xứ Thanh. Nếu như Hoằng Hóa nổi tiếng là đất có "nghề học" với 12 vị đậu đại khoa trong đó có 7 tiến sĩ được ghi danh trên bia đá tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, thì Đông Sơn cũng không kém danh tiếng với nhiều người đỗ đạt cao, nắm những vị trí trọng yếu trong triều đình như Lê Nhữ Tốn (khai quốc công thần khởi nghĩa Lam Sơn), Tiến sĩ Lưu Ngạn Quang (thời Lê sơ), Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi, Thượng thư Nguyễn Khải, các Tiến sĩ Nguyễn Trừng, Cao Cử, Thiều Sỹ Lâm (thế kỷ XVII)...

Trong Tỉnh Thanh Hóa, Le Breton đã ghi lại truyền thuyết giải thích vì sao vùng đất Cổ Bôn lại có nhiều người đỗ đạt như vậy: Ngày xưa, vào triều nhà Trần, có một Thái hậu du chơi dưới sông Bôn, bà thấy nước sông Bôn trong vắt, lại có mùi thơm, bà cho là có một vị thần nào ở mặt sông, bèn cho lập đền thờ Đế Thích, đắp đê, làm giếng và nhờ long mạch của giếng mà làng Bôn có nhiều người đỗ đạt như vậy [3].

Vào thế kỷ XVI - XVII, dòng họ Nguyễn ở Đông Thanh, huyện Đông Sơn là một dòng tộc danh gia vọng tộc. Bia Phúc Khê tướng công từ dựng năm 1617 ở trong đền cho biết cụ cao tổ của Nguyễn Văn Nghi tên húy là Hồ, là bậc khai quốc công thần, chức Đại tướng quân, con cháu đời đời được tập ấm. Các cụ Tằng tổ, Hiển tổ đều là những nhân vật có công lớn, được giữ những chức vụ trọng yếu trong triều đình. Thân sinh Nguyễn Văn Nghi là Nguyễn Tứ, làm Tham nghị Thái Nguyên, phong Thái bảo. Các em của Nguyễn Văn Nghi cũng đều là những người có quyền cao chức trọng.

 Nguyễn Văn Nghi đỗ Chế khoa xuất thân năm 1554. Sử thần Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư đã nhận xét "Ông là bậc danh nho đỗ cao, được 3 vua tri ngộ, sự nghiệp và tiếng tăm hơn cả các Nho thần đầu thời trung hưng". Là người đoan chính, trọng khuôn phép, ông được Trịnh Kiểm tin cậy giao cho làm Hiệu lý Viện hàn lâm. Đồng thời, ông cũng là thầy dạy của vua Lê Anh Tông và Lê Thế Tông. Ông làm quan Thượng thư Bộ lại, nhập thị Kinh diên, kiêm Đông các học sĩ. Khi ông mất, nhà vua gia ân tặng Công bộ Thượng thư, gia thăng Thái bảo.

Đền thờ Nguyễn Văn Nghi là một quần thể kiến trúc, bao gồm nhiều thành phần kiển trúc với chức năng khác nhau được bố cục theo kiểu “nội công ngoại quốc”.

3. Hệ thống di tích, di vật trên mặt đất

Cụm di tích đền thờ Nguyễn Văn Nghi là một quần thể kiến trúc, bao gồm nhiều thành phần kiển trúc với chức năng khác nhau được bố cục theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Bao gồm hai tường thành khép kín, tường thành đất (thành ngoại) ở ngoài, tường thành đá (Thành nội) phía trong. Bên trong tường thành nội là các cụm kiến trúc gỗ được xây dựng theo hình chữ “Công”, chữ “Tam”, chữ “Nhị”, và chữ “Nhất”. Từ nghinh môn ngoại vào nhóm tượng chầu thờ bằng đá được bài trí đăng đối hai bên trục đường. Bố cục mặt bằng kéo dài theo hình chữ nhật, chỉ mở một trục đường duy nhất từ nghinh môn vào đền điện chính.

Có 4 cụm kiến trúc. Các cụm kiến trúc được bố cục đăng đối và có chức năng khác nhau. Các cụm kiến trúc hiện chỉ còn dấu tích nền móng, nền nhà được bó bằng những khối đá liền, gọt đẽo vuông thành sắc cạnh. Tại khu di tích hiện nay chỉ còn lại ngôi nhà dọc (nhà cầu), tuy đã sữa chữa một số cấu trúc bi hư hỏng, nhưng nhìn chung ngôi nhà vẫn còn dáng vẻ xưa của nó. Đó là loại kiến trúc 4 mái, lợp ngói mũi sen (dài 0,45m, rộng 0,30m, dày 0,03m, mũi sen cao 0,12m). Bốn góc đầu đao uốn cong lên, thoáng, nhẹ nhàng.

Các vì kèo có kích thước vừa phải, gồm Cột cái, cột quân, cột hiên và một số đường xà, con chồng… được kết cấu theo phong cách vì chồng rường giá chiêng trong nghệ thuật kiến trúc cổ Việt Nam. Điều dễ nhận thấy trong kết cấu của kiến trúc gỗ còn giữ được nhiều bức chạm gỗ thật đẹp. Một số mảng chạm trang trí đôi rồng uốn lượn đối diện nhau, thân rồng được thể hiện bằng kĩ thuật chạm bẹt đầu rồng được thể hiện thành hình khối nhô ra khỏi mặt phẳng rồi quay ngoặt sang một bên. Nhìn chung, kiến trúc gỗ ở đền thờ Nguyễn Văn Nghi còn lại không nhiều và không đầy đủ, nhưng cũng cho phép tìm hiểu thêm nghệ thuật kiến trúc gỗ Việt Nam thế kỉ XVII. Tại đền, còn có một số mẫu vật bằng đất nung như: đầu rồng, đuôi rồng, ngói hình chữ T… những hiện vật này chủ yếu để trang trí bờ nóc, bờ dải, đầu guột nhằm tạo dáng cho kiến trúc thêm vẻ đẹp hoàn mỹ. Đầu rồng: dài 0,32m - rộng 0,25m, dày 0,25m, phần bờm của rồng nhô cao 0,30m, miệng rồng há rộng, để lộ bộ nanh nhọn sắc [2].

Tường vây được xây dựng bằng các khối đá được đẻo gọt công phu dài 83m, rộng 66m, cao 1,50m mặt đáy rộng 1,36m mặt thành 1,20m và lớp mui luyện đã là nét độc đáo ở Thanh Hóa. Các khối đá hình khối hình chữ nhật xếp thành tường hình thang cân không có vữa kết dính, bốn góc thành có chốt giằng bằng đá theo hình thước thợ [4].

Tường đá chỉ mở một cổng duy nhất vào đền thờ. Kiến trúc cổng thành cũng khá công phu: Phần dưới gồm 6 lớp đá bằng chiều cao của tường, phần trên xây bằng gạch. Cổng cao 4m - dài 5m - rộng 4,20m đề ba chữ là “Tướng Công môn” khắc bằng chữ Hán trên phiến đá trắng (dài 1,10m - rộng 0,45m) [2]. Cấu trúc thành kiểu cuốn tò vò, bằng loại gạch múi cam. Phần nóc cổng thành đặt bệ đá hình rồng trong tư thế nằm cuộn tròn, đầu tựa vào thân mình to khỏe. Đầu rồng quay vào trong chính đền. Hình tượng rồng được thể hiện như trên gọi là rồng ổ. Đó là nét độc đáo trong nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc ở đền thờ Nguyễn Văn Nghi.

Hiện nay tường chỉ còn lại 3 lớp đá. Hai đoạn tường 2 bên cổng “Tướng Công môn” là còn giữ được nguyên vẹn.

Tượng đền Nguyễn Văn Nghi gồm tượng chó đá, voi, bia, ngựa, võ sĩ, giếng đá.

Tượng chó đá: (cao 0,70m - chu vi bụng 0,82m) được thể hiện trong tư thế ngồi, đầu hơi ngẩng lên mắt nhìn về phía trước. Hai chân trước to khỏe chống thẳng đứng, hai chân sau thu gọn sát bụng để lộ bắp vế căng tròn. Bộ ngực nở nang, đuôi dài tròn mềm mại và uốn nhẹ đặt trên tấm thân mập mạp. Phần cuối đuôi xòe rộng hình lá đề, dây đeo chuông nhạc quàng qua cổ, đầu dây thắt nút hình số 8 phía trên gáy.

Tượng voi đá: (gồm 2 tượng, dài 2,65m, cao 1,50m chu vi bụng 1,26m), được diễn tả trong tư thế nằm phủ phục. Thân hình voi đồ sộ, căng khỏe áp đặt trên bốn chân mập mạp. Đầu voi hơi ngẩng cao nhìn thẳng về phía trước (con bên phải đang cuộn chặt một khối gỗ hình trụ), ngà dài, nhọn, vòi cuốn tròn, vòng dây xích cuốn ngang bụng rồi vòng qua trước ngực tạo thành dây đeo chuỗi chuông nhạc (10 chuông nhạc).

 Tượng ngựa đá: (2 tượng, dài 2,35m, cao 1,78m, chu vi bụng 0,85m), được thể hiện trong tư thế đứng tự nhiên, đầu hơi ngẩng cao, ngực nở nang bốn vó to khỏe, bắp vế căng tròn.

Tượng võ sĩ: (2 tượng, cao 2,10m, vai rộng 0,70m, bệ 1,25m x 0,65m) đứng nghiêm trang, khuôn mặt đầy đặn, rắn chắc, ria mép cong đều, râu dài, tay cầm chùy ngang tầm ngực võ sĩ, đầu đội mũ trụ, chân đi hia, toàn thân vạm vỡ được khoác lên bộ giúp trụ phủ dài xuống quá gối.

Tấm bia “Phúc Khê tướng công từ” (cao 1,96m, rộng 1,26m, dày 0,33m) Bia dựng năm Hoằng Định thứ 18 (1617), tháng 2 ngày 2, dưới triều vua Lê Kính Tông. Nội dung văn bia ghi về gia đình, dòng họ, thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Văn Nghi. Trán bia trang trí theo mô típ: “Lưỡng long chầu nguyệt” [2], diềm bia trang trí hoa sen, cúc cách điệu, đáy bia trang trí 3 lớp hoa văn sóng nước. Diềm bia mặt sau trang trí hoa cúc dây giữa là hoa sen cách điệu.

Bia “Lệnh công thượng thư ký” (cao 2,15m, rộng 1,50m, dày 0,45m) Bia do Thái Phó, Đặng Quận công Nguyễn Khải dựng để ca ngợi công đức của cha mình, bia dựng ngày 8 tháng 3 năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 11 (1629), Tiến sĩ Lê Khả Trù soạn văn, Nguyễn Chí Chi khắc chữ. Bia hình chữ nhật, làm bằng đá trắng. Trán bia chạm khắc “lưỡng long chầu nguyệt” với những lớp hoa văn hình đao mác khỏe mạnh. Diềm bia trang trí hoa sen, cúc dây, chim, thú xen lẫn nhau. Đáy bia trang trí hoa văn hình nậm rượu kép ở giữa hình nậm rượu nhỏ là hoa văn hình số 8. Bia khắc chữ một mặt. Bia có nhà che cũng bằng đá trắng. Nóc nhà bia là một khối đá liền được gọt đẽo công phu thành hình mái nhà, đầu đao uốn cong. Hai vách bia là hai phiến đá mài nhẵn (mỗi phiến rộng 1,37m - dày 0,23m - cao 2,15m). Toàn bộ bia và nhà bia đặt trên phiến đá (dài 3m - rộng 2,33m - dày 0,23m) [2]. Bia ghi sự kiện tu bổ đền thờ của cháu ngoại Nguyễn Văn Nghi là Lê Khắc Tuy (tri phủ huyện Hà Trung) cùng nhân dân 14 xã huyện Đông Sơn xây dựng xong ngày 26/9/1631. bia gắn ở vách thành. Gồm 86 chữ Hán khắc trên phiến đá trắng dài 1,48m rộng 0,39m.

Giếng đá: Thành giếng làm bằng đá khối, đục rỗng có hình tròn được đặt trên bộ 7 cạnh chân quỳ là một tác phẩm điêu khắc đá hoàn chỉnh, giếng đá được tạo bởi hai khối đá liền, gồm hai phần: Phần thân hình bầu tròn, đục rỗng phía trong, cao 0,40m, đường kính miệng rộng 0,85m, phần gờ miệng dày 4cm. Thành giếng cao 0,65m.  Trang trí những hoa văn hình cánh sen lồng hoa cúc ở giữa.

Bức đại tự “Sơn Chi Thọ” Bức chạm khắc hình rồng, 2 đầu rồng bằng đất nung dài 0,32, rộng 0,25, dày 0,25. 2 bộ khang kiện bát cống Mũ thờ Long ngai bài vị 3 chén nạm ngọc (cốt bằng sọ dừa) Bát hương đá Có thể nói đây là những chứng tích quý giá về lịch sử ngôi đền.

4. Hệ thống di tích, di vật qua kết quả khai quật khảo cổ học

Tháng 9/2023 thực hiện Quyết định số 2609/QB-BVHTTDL, ngày 07 tháng 9 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc khai quật khảo cổ tại di tích Đền thờ Nguyễn Văn Nghi, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Sở Văn hóa Thể thao & Di lịch tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật khảo cổ học bổ sung tại di tích đền thờ Nguyễn Văn Nghi, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa với diện tích hố khai quật 100m2:

Đã xác định được một mặt bằng kiến trúc hình chữ nhật, ký hiệu: 23.NVN.LTH.KT001.

Di tích được nhận diện thông qua hệ thống 19 móng cột, tạo thành 6 vì theo chiều Bắc – Nam, và 4 theo chiều Đông - Tây.

Phạm vi di tích: các móng cột của di tích phân bố trong khoảng phạm vi diện tích khoảng: 86,45m2 (Chiều Bắc - Nam: 13,3m, chiều Đông - Tây: 6,5m).

Bảng kê khoảng cách giữa các móng cột theo chiều Bắc – Nam:

TT

Phân gian

Kí hiệu móng cột

Khoảng cách (m)

1

Gian hồi Bắc

MT.01 – M0.02

2,1

MT.06 – MT.07

2,1

KXĐ – MT.11

kxđ

KXĐ – MT.15

kxđ

2

Gian bên

MT.02 – MT.03

2,2

MT.07 – MT.08

2,2

MT.11 – MT.12

2,2

MT.15 – MT.16

2,2

3

Gian giữa

MT.03 – MT.04

2,5

MT.08 – MT.09

2,5

MT.12 – MT.13

2,5

MT.16 – MT.17

2,5

4

Gian bên

MT.04 – MT.05

2,2

MT.09 – MT.10

2,2

MT.13 – MT.14

2,2

MT.17 – MT.18

2,2

5

Gian hồi Nam

MT.05 – KXĐ

kxđ

MT.10 – KXĐ

kxđ

MT.14 - KXĐ

kxđ

MT.18 – MT.19

2,1

19 móng cột đã xuất lộ phân bố đăng đối xếp thành 4 hàng theo chiều Bắc – Nam tạo thành 5 khoảng cách (bước gian) với các số đo tương ứng: 2,1m - 2,2m - 2,5m - 2,2m - 2,1m. Các móng cột gần vuông có kích thước trung bình 90cm x 80cm, được gia cố bằng gạch vụn, ngói và đá lót ở dưới đáy móng.

Các móng cột chia thành 6 vì thẳng chạy song song theo hướng Đông - Tây, mỗi vì có 4 móng cột. Khoảng cách trung bình các gian được tính bằng khoảng cách giữa hai tâm móng cột.

Bảng kê khoảng cách giữa các hàng móng cột theo chiều Đông - Tây:

TT

Khoảng cách

Ký hiệu móng cột

Số đo (m)

1

Khoảng cách 1

(giữa cột cái và cột quân)

MT.01 – MT.06

1,2

MT.02 – MT.07

MT.03 – MT.08

MT.04 – MT.09

MT.05 – MT.10

Kxđ - Kxđ

2

Khoảng cách 2

(giữa 2 cột cái)

MT.06 - KXĐ

2,1

MT.07 – MT.11

MT.08 – MT.12

MT.09 – MT.13

MT.10 – MT.14

KXĐ – KXĐ

3

Khoảng cách 3

(giữa cột cái và cột quân)

KXĐ - KXĐ

1,2

MT.11 – MT.15

MT.12 – MT.16

MT.13 – MT.17

MT.14 – MT.18

KXĐ – MT.16

Các móng cột về cơ bản bị đào phá phần bề mặt chỉ còn lại một phần đáy móng cột với các viên gạch đỏ vụn nằm trên nền đất sét vàng [1].

Về cơ bản vật liệu đầm móng cột là sử dụng các mảnh gạch hình chữ nhật đỏ thời Lê và mảnh ngói đỏ thời Trần – Hồ. Đa số gạch và nói không trang trí hoa văn. Ngoài ra móng cột được đầm lèn bởi một số mảnh đá dăm xen lẵn, một vài móng cột còn có chân tảng nằm ở trên.

5. Giá trị lịch sử vă hóa – nghệ thuật

Nghiên cứu di tích đền thờ Nguyễn Văn Nghi chẳng những giúp chúng ta tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của ông, qua đó còn là nhận thức về nghệ thuật kiến trúc ở Thanh Hoá đầu thế kỷ XVII. Có thể nói, nghệ thuật kiến trúc (gỗ, đá, đất nung) ở đây là một hình mẫu hết sức độc đáo, thể hiện tài năng sáng tạo, trình độ tay nghề và tính thẩm mỹ tiêu biểu cho cả nước trên lĩnh vực nghệ thuật của một thời kỳ lịch sử, thời kỳ nghệ thuật dân gian đang trên đà phát triển rất mạnh.

Các hệ thống kiến trúc và phù điêu phản ánh công trình được xây dựng trên vật liệu tại chỗ và kỹ nghệ điêu khắc đá đạt tới trình độ điêu luyện. Việc sử dụng vật liệu không chỉ thể hiện tính hiệu quả, sẵn có ở địa phương.

Hệ thống móng đá và đặc biệt là hệ thống di vật đá điêu khắc tại đây phản ánh một nền mỹ thuật của giai đoạn đầu thế kỷ XVII. Với những điêu khắc trên chất liệu đá bền vững chắc sẵn có tại dịa phương, những người thợ xây dựng đền thờ Nguyễn Văn Nghi đã để lại cho ngày nay những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc đá đặc sắc trên loại hình kiến trúc tưởng niệm này.

Các sản phẩm ở đây đều được làm từ đá nguyên khối, sản phẩm làm ra không bị vỡ gãy mà có độ bền vững cao, người thợ dễ dàng tạo nên các sản phẩm đầy tính biểu cảm. ở các hàng tượng, tượng người với toàn thân liền khối cùng các đường nét chạm khuôn mặt, trang phục thể hiện được đã toát lên vẻ nghiêm trang, kính cẩn; các tượng linh vật tạo nét mập mạp, khoẻ khoắn với nhiều nét biểu cảm khác nhau.

Trong kỹ thuật xây dựng, việc sử dụng đá lớn nguyên khối làm nền móng và tường vây là một kỹ thuật giúp cho công trình ổn định, bền vững và phong cách bề thế của công trình. Các điêu khắc này đều là những kiệt tác qua những bàn tay, khối óc tài hoa, là những tác phẩm nghệ thuật trên một chất liệu và làng nghề truyền thống của Thanh Hoá.

Các tác phẩm điêu khắc đá tại đền thờ Nguyễn Văn Nghi đã thể hiện một cách rõ nét nhất cho một nền điêu khắc mộc mạc, đạm phong cách dân gian, đã thổi hồn vào tượng đá đã làm nhân chứng cho sức sống mới của một dân tộc được phát triển mạnh mẽ. Đây là một trong những cơ sở thúc đẩy hình thành sự phát triển phong cách độc lập, tách rời với những quy phạm “điển chương”, từ đó làm nên tính phong phú trong nền văn hoá Đại Việt. Đặc biệt tác phẩm “Rồng ổ” trên cổng thành Nội là một tác phẩm hoàn mỹ, “độc nhất vô nhị”.

Với những nội dung trên, di tích đền thờ Nguyễn Văn Nghi có giá trị to lớn về nghiên cứu và giáo dục trên nhiều mặt, đặc biệt là lĩnh vực lịch sử - văn hoá, kiến trúc và nghệ thuật. Ngoài mang tính chất tín ngưỡng, nơi gửi gắm tâm linh của nhiều thế hệ dòng họ Nguyễn và nhân dân địa phương, đây còn là di tích quan trọng cần được giữ gìn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích, phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế mới và đô thị hoá của Tỉnh. Qua đó cho thấy sự kết nối từ những nhân vật lịch sử xây đắp và giữ gìn vùng đất xứ Thanh nói riêng và cả lịch sử thăng trầm thời trung - cận đại nói chung qua nhiều thế hệ.

6. Kết luận

Đền thờ Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi có thể tạm coi là công trình thờ tự tư nhân có niên đại sớm nhất nước của tầng lớp quan lại, quận công thời Lê - Trịnh. Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của di tích này gợi mở hoặc minh chứng cho nhiều vấn đề lịch sử - văn hóa đương thời, mặt khác góp phần khẳng định thêm những giá trị quý báu của một di tích vượt ra khỏi phạm vi của dòng họ để trở thành di sản quốc gia.

Với diện tích khai quật 100m2, đoàn khai quật đã phát hiện, dấu tích của một đơn nguyên kiến trúc được xây dựng bằng đá, gạch và ngói.

Trước khi khai quật, tại vị trí này có hai luồng ý kiến tranh luận rằng tại đây có hay không một kiến trúc tương ứng với Tiền đường và Hậu điện? Và nếu có thì kiến trúc này có diện mạo như thế nào? Bên cạnh đó, cuộc tranh luận về sơ đồ kiến trúc ở ngôi đền thờ này là “Tiền Nhất Hậu Công” hay “Tiền Nhất Hậu Đinh”.

Qua kết quả khai quật, chúng ta đã hình dung được tại khu vực này, ngôi đền trước đây có một mặt bằng kiến trúc quy mô; lối kiến trúc xây dựng theo dạng toà nhà 5 gian cùng hai dãy hiên, bó móng và bó hồi được làm bằng đá khối có kích thước lớn, phía trong đục lõm để tạo lòng kiến trúc; trước và sau có rãnh thoát nước. Bên cạnh đó là sự kiên cố của móng đền với với các khối đá to lớn kể trên, bề mặt được đục và mài nhẵn, vuông thành sắc cạnh; hơn nữa, đầu rãnh thoát nước được đục thủng từ tảng đá nguyên khối và có trang trí mặt ngoài cho thấy sự hoành tráng cũng như sự đầu tư công sức, tiền của vào công trình này. Như vậy, có thể sơ bộ kết luận rằng mặt bằng kiến trúc khu vực chính điện theo lối “Tiền Nhất Hậu Công”.

Với tổng diện tích 100m2, đoàn khai quật đã làm phát lộ toàn bộ mặt bằng của một đơn nguyên kiến trúc trong tổng thể kiến trúc đền thờ Nguyễn Văn Nghi vào đầu thế kỷ XVII với mặt bằng là kiến trúc nhà 5 gian vì 4 chân cột theo chiều Đông - Tây vì 6 vì theo chiều Bắc - Nam. Những móng cột gia cố chân tảng này kết hợp cùng hệ thống bó móng, bó nền, cống thoát nước… tạo nên một toà nhà có thể chính là toà Trung đường với kết cấu móng bằng đá, gạch vững chắc và mái lợp ngói.

Từ đây có thể thấy, với kiến trúc 23.NVN.LTH.KT001 kể trên kết hợp tòa kiến trúc hiện còn và đang được sử dụng làm nơi thờ tự và toà Hậu đường (khai quật năm 2019) tạo thành một kiến trúc thống nhất có dạng hình chữ “Công” trong tổng thể kiến trúc khu vực Nội điện của di tích đền thờ Nguyễn Văn Nghi. Như vậy, khu vực khai quật năm 2023 này chính là vị trí của toà Trung đường xưa trong tổng thể cụm kiến trúc I thuộc di tích đền thờ Tướng công Nguyễn Văn Nghi.

 

Tài liệu tham khảo

[1]. Báo cáo tổng hơp kết quả khai quật khảo cổ học bổ sung tại di tích đền thờ Nguyễn Văn Nghi, xã Đông Thanh. Tư liệu Viện Khảo cổ học

[2]. Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa (2002), Thanh Hóa di tích và thắng cảnh, tập 2, Nxb Thanh Hóa.

[3]. H.Le Breton (1918), Tỉnh Thanh Hoá, tài liệu lưu tại Thư viện Tổng hợp tỉnh Thanh Hóa.

[4]. Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Thanh Hóa (1990), Hồ sơ Khảo sát và lý lịch di tích đền thờ Nguyễn Văn Nghi xã Đông Thanh - Đông Sơn - Thanh Hóa.

 

 

 

 

 


[1] Đông Sơn có tứ xã Bôn (tức là bốn làng Bôn: Ngọc Tích, Kim Bôi, Quỳnh Bôi, Phúc Triền). Hoằng Hóa có hai làng Bột (Bột Thượng, Bột Hạ). Đây đều là những vùng đất có nhiều người đỗ đạt cao, giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình.


Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba khẳng định vai trò gần dân, sát cơ sở, vì sức khỏe thế hệ trẻ

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba tổ chức chương trình khám sức khỏe định kỳ cho gần 500 sinh viên tại Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông lâm Phú Thọ. Hoạt động không chỉ mang ý nghĩa thiết thực trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe thế hệ trẻ mà còn cho thấy sự quan tâm ngày càng sâu sát của ngành Y tế đối với công tác chăm sóc sức khỏe học sinh, sinh viên; qua đó góp phần khẳng định vai trò, vị thế của Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba trong hệ thống y tế cơ sở.

Lan tỏa yêu thương, tiếp sức học sinh Trường THCS Văn Lang

Trường THCS Văn Lang, tỉnh Phú Thọ tổ chức trao 10 phần quà, mỗi phần trị giá 500.000 đồng, do Ngân hàng BIDV - Chi nhánh Hùng Vương dành tặng học sinh nhà trường. Những món quà ý nghĩa là sự sẻ chia thiết thực, tiếp thêm động lực để các em nỗ lực học tập, rèn luyện trong năm học mới.

Phú Thọ: Các cơ sở giáo dục không được đặt ra các khoản thu ngoài danh mục được quy định

Nhằm bảo đảm việc thu, quản lý, sử dụng các khoản thu thống nhất, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ vừa có hướng dẫn thực hiện công tác quản lý thu, chi năm học 2026 - 2027 trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Theo đó, các cơ sở giáo dục công lập chỉ được tổ chức các khoản thu thuộc danh mục quy định tại Quyết định số 44/2026/QĐ-UBND, Quyết định số 2638/QĐ-UBND và văn bản hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo; không thỏa thuận hoặc đặt ra các khoản thu ngoài danh mục.

Thanh Hoá: Ông Nguyễn Trọng Sơn được bổ nhiệm Phó Chánh án TAND tỉnh

Chiều 15/9, TAND tối cao tổ chức Lễ công bố quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Trọng Sơn, Chánh tòa Dân sự, TAND tỉnh Thanh Hóa, giữ chức vụ Phó Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa. Thời hạn bổ nhiệm là 5 năm, kể từ ngày 15/9/2026

Lào Cai: Trường THCS Ngô Văn Sở lan tỏa từ những điều Bác dạy

Trường THCS Ngô Văn Sở, phường Lào Cai tổ chức sinh hoạt chính trị, tư tưởng với chủ đề “Thực hành và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh – hành động thiết thực từ những việc làm cụ thể”. Qua đó, những lời căn dặn của Người được chuyển hóa thành những việc làm gần gũi trong học tập, công tác và sinh hoạt hằng ngày.

Thanh Hóa: Nhiều hoạt động đặc sắc tại Lễ hội Lam Kinh năm 2026

Lễ hội Lam Kinh năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 1-3/10 tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh (xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa), với nhiều nghi lễ truyền thống, hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Trong khuôn khổ sự kiện, Liên hoan Văn nghệ dân gian - Phiên chợ vùng cao cũng được tổ chức, góp phần quảng bá những giá trị văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc trong tỉnh.

Phú Thọ tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục

UBND tỉnh Phú Thọ yêu cầu tăng cường kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm, công khai thông tin bữa ăn học đường và xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là hành vi “cắt xén” khẩu phần của học sinh.

Phú Thọ rà soát chế độ tập sự của viên chức ngành Giáo dục

Viên chức đang tập sự được rà soát, xếp lương theo vị trí việc làm tuyển dụng và thực hiện quy định chuyển tiếp từ ngày 1/7/2026.

TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Phó Tổng Biên tập phụ trách trang điện tử: Vũ Đình Thơm

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Banbientap@giaoducvaxahoi.vn

Liên hệ quảng cáo: 024.629 46516