QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CỦA GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở PHƯỜNG GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

22/04/2026 - 19:52

Nguyễn Thanh Thủy

HV. Phan Thị Thanh Tiến (Cao học QLGD)

 Hồ Thị Hồng Cúc

Trường Đại học Đồng Tháp

Tóm tắt:

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học có vai trò quan trọng trong giao tiếp ngôn ngữ về nhiều phương diện, nhờ sự giao thoa của kiến thức nội dung sư phạm công nghệ (TPACK) góp phần nâng cao hiệu quả dạy học. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát thực trạng quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học tại các trường tiểu học trên địa bàn phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tập trung vào bốn chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra – đánh giá, qua đó làm rõ những điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học tại phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

Từ khóa: Dạy học môn Tiếng Việt, học sinh tiểu học, TPACK, ứng dụng công nghệ thông tin

Abstract:

The application of information technology in teaching Vietnamese to primary school students plays an important role in language communication across multiple dimensions. Through the integration of technological pedagogical content knowledge (TPACK), it contributes to improving teaching effectiveness. This study was conducted to investigate the current situation of managing IT application in teaching activities at primary schools in Go Dau ward, Tay Ninh province, focused on four management functions: planning, organizing implementation, directing, and inspection–evaluation, thereby clarifying strengths, limitations, and underlying causes in management practices. The findings provide an important basis for proposing measures to enhance management effectiveness, contributing to improving the quality of Vietnamese language teaching for primary school students in Go Dau ward, Tay Ninh province, in the context of current educational reform.

Keywords: Vietnamese language teaching, primary school students, technological pedagogical content knowledge, information technology application

1. Đặt vấn đề

Việc nghiên cứu quản lí hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học xuất phát từ yêu cầu của chính sách đổi mới giáo dục, nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.  Đồng thời Luật Giáo dục năm 2019 xác định nội dung quản lí Nhà nước về giáo dục bao gồm cả “tổ chức, quản lí công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục”. Đối với tỉnh Tây Ninh, ngành GD đã có những bước tiến trong chuyển đổi số, cổng thông tin điện tử tỉnh cho biết GD Tây Ninh đang “chuyển mình mạnh mẽ”, trong khi đó, địa bàn phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là nơi đang nằm trong tiến trình chuyển đổi số GD chung của tỉnh, nên việc khảo sát và đề xuất biện pháp QL tại đây rất có ý nghĩa thực tiễn. Xuất phát từ những lý do trên bài viết tập trung vào quản lí hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt của GV các trường tiểu học ở phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, nhằm bổ sung luận cứ khoa học cho quản lí nhà trường Tiểu học trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

2. Nội dung

2.1. Khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu

2.1.1. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học: Ứng dụng CNTT trong DH là việc sử dụng có mục đích các thiết bị, phần mềm và môi trường số, dữ liệu số vào dạy học nhằm hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quá trình dạy học.

2.1.2. Khái niệm hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn tiếng Việt: Hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học là hệ thống các hoạt động sư phạm có chủ đích, được tổ chức và quản lý một cách có kế hoạch, trong đó GV sử dụng các phương tiện, công cụ DH, học liệu số và môi trường công nghệ số, để đổi mới phương pháp tổ chức DH và nâng cao hiệu quả DH môn Tiếng Việt, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh theo Chương trình GDPT 2018.

2.1.3. Khái niệm quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học: Là quá trình tác động có hệ thống, có mục đích của chủ thể quản lý đến toàn bộ hoạt động sử dụng CNTT của GV vào DH môn Tiếng Việt nhằm đảm bảo việc ứng dụng công nghệ diễn ra đúng mục tiêu GD, phù hợp với nội dung môn học và đặc điểm tâm lý của HS Tiểu học, từ đó nâng cao chất lượng dạy học.

2.2. Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Nghiên cứu về năng lực công nghệ của GV theo khung TPACK, và nghiên cứu về vai trò của lãnh đạo, quản lí nhà trường trong thúc đẩy chuyển đổi số,  các kết quả thống nhất rằng công nghệ nâng cao tính tương tác, cá thể hóa học tập và tăng cường cơ hội tiếp cận tri thức, nhưng hiệu quả không tự xuất hiện nếu thiếu chiến lược quản lí phù hợp, thiếu bồi dưỡng GV và thiếu điều kiện hạ tầng [7][6][2]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu gần đây đã bước đầu quan tâm đến năng lực công nghệ, năng lực số và TPACK của GV [1], khảo sát 208 GV tiểu học ở miền Nam Việt Nam, cho thấy năng lực TPACK của GV có sự phân hóa thành các nhóm mức độ khác nhau. Những kết quả này có giá trị gợi ý quan trọng cho việc xây dựng chính sách bồi dưỡng và hỗ trợ GV Tiểu học trong ứng dụng công nghệ vào DH [1][5].

Theo hướng nghiên cứu QLGD các học giả nước ngoài như Ottestad Geir[4] cho thấy các điều kiện do nhà trường và người lãnh đạo tạo ra có liên hệ với việc GV sử dụng công cụ số trong lớp học. Nghiên cứu của Tulowitzki, Gerick và Eickelmann (2022) khẳng định CNTT ngày càng tác động mạnh đến hoạt động lãnh đạo và QL trường học. Như vậy trong nghiên cứu quốc tế, ứng dụng công nghệ trong DH không còn được xem là nỗ lực cá nhân của GV, mà được đặt trong tổng thể quản trị nhà trường, nơi hiệu trưởng, tổ chuyên môn, cơ chế bồi dưỡng, kiểm tra và hỗ trợ kỹ thuật giữ vai trò quyết định.

                 Hiện nay còn tồn tại những khoảng trống nghiên cứu sau chưa có nhiều nghiên cứu phân tích một cách hệ thống QL hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước, nghiên cứu quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt của GV các trường Tiểu học ở phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, nhằm làm rõ thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả DH trong bối cảnh chuyển đổi số GD hiện nay.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn, thu thập dữ liệu định lượng và định tính về thực trạng QL hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt tại các trường Tiểu học, theo bốn chức năng: (1) Xây dựng kế hoạch hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt; (2) Tổ chức hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt ; (3) Chỉ đạo thực hiện hoạt động ứng dụng CNTT ; (4) Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động ứng dụng CNTT sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh hoạt động.

Khảo sát được tiến hành với tổng số 160 đối tượng, bao gồm CBQL và GV đang công tác tại 8 trường Tiểu học trên địa bàn phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, sử dụng các chỉ số thống kê mô tả gồm điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC) và thứ hạng (TH) theo từng nội dung khảo sát. Thang đo được chia thành 5 mức theo khoảng cách đều [(5 – 1)/5 = 0,8], cụ thể như sau: Kém: 1,00 ≤ ĐTB ≤ 1,80; Yếu: 1,80 < ĐTB ≤ 2,60; Trung bình: 2,60 < ĐTB ≤ 3,40; Khá: 3,40 < ĐTB ≤ 4,20; Tốt: 4,20 < ĐTB ≤ 5,00. Căn cứ vào giá trị ĐTB và ĐLC, nghiên cứu đánh giá mức độ thực hiện của từng chức năng quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong DH Tiếng Việt của GV Tiểu học.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên các trường tiểu học phường Gò Dầu, Tỉnh Tây Ninh

Bảng 1. Đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt

STT

Nội dung khảo sát

Mức độ

ĐTB

ĐLC

XH

1

2

3

4

5

 

 

 

1

Nhà trường xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt ngay từ đầu năm học

1

3

8

19

15

3,96

0,92

2

2

Kế hoạch ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt được cụ thể hóa theo tổ chuyên môn, khối lớp

2

4

10

18

12

3,74

1,01

5

3

Kế hoạch xác định rõ mục tiêu, nội dung, tiến độ thực hiện

1

2

9

20

14

3,96

0,88

2

4

Kế hoạch gắn với điều kiện thực tế về thiết bị, phần mềm và NLGV

1

4

9

19

13

3,85

0,96

4

5

Kế hoạch có dự kiến nguồn lực, kinh phí và bộ phận hỗ trợ thực hiện

2

5

11

17

11

3,65

1,07

6

6

Kế hoạch có tiêu chí theo dõi, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện

1

3

8

18

16

3,98

0,93

1

Điểm TBC:

 

 

 

 

 

3,86

 

 

Kết quả ở bảng1 cho thấy công tác xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học thuộc phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh được đánh giá ở mức khá, ĐTB chung đạt 3,86/5,00, cho thấy nhà trường đã quan tâm, xây dựng kế hoạch bảo đảm định hướng cho hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt. Tuy nhiên một số nội dung cần tiếp tục hoàn thiện, nội dung 6 ĐTB = 3,98 cao nhất là “Kế hoạch có tiêu chí theo dõi, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện”, ĐLC = 0,93, xếp thứ 1, cho thấy CBQL đánh giá tương đối tích cực, chú ý đến khâu xác lập căn cứ kiểm soát quá trình triển khai kế hoạch; Nội dung 1,3 khảo sát “Nhà trường xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt ngay từ đầu năm học” và “Kế hoạch xác định rõ mục tiêu, nội dung, tiến độ thực hiện” cùng đạt ĐTB = 3,96 phản ánh việc lập kế hoạch đã được thực hiện có định hướng khá rõ ràng. Nội dung 5 có ĐTB = 3,65 thấp nhất là “Kế hoạch có dự kiến nguồn lực, kinh phí và bộ phận hỗ trợ thực hiện”, ĐLC = 1,07, xếp thứ 6. Kết quả này cho thấy việc dự kiến các điều kiện bảo đảm thực hiện kế hoạch vẫn còn là mặt hạn chế, một số nhà trường đã xây dựng kế hoạch nhưng xác định cụ thể nguồn lực, và bộ phận hỗ trợ chưa thật sự đầy đủ, dẫn đến tính khả thi của kế hoạch ở một số nội dung chưa cao.

Kết quả phỏng vấn cũng làm rõ thêm thực trạng này, CBQL 03 cho biết: “Nhà trường đều xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT từ đầu năm học và lồng ghép vào kế hoạch chuyên môn để GV có cơ sở thực hiện.” CBQL 04 chia sẻ: “Khó khăn hiện nay là việc bố trí nguồn lực, kinh phí và hỗ trợ kĩ thuật chưa thật sự đồng đều, nên có nội dung trong kế hoạch triển khai còn chậm hoặc chưa sâu.” Từ đó kết luận công tác xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học phường Gò Dầu đã được triển khai ở mức khá, xác định mục tiêu, nội dung và tiêu chí kiểm tra tương đối rõ. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa theo tổ chuyên môn, gắn với điều kiện thực tế và nhất là dự kiến nguồn lực, kinh phí, bộ phận hỗ trợ vẫn còn hạn chế.

3.2. Thực trạng công tác tổ chức hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên các trường Tiểu học tại phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh

Bảng 2. Đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý về thực trạng tổ chức hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt

TT

Nội dung khảo sát

Mức độ

ĐTB

ĐLC

XH

1

2

3

4

5

 

 

 

1

Nhà trường phân công rõ trách nhiệm cho các bộ phận trong triển khai ứng dụng CNTT

1

3

8

19

15

3,96

0,92

2

2

Nhà trường tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho GV về  UDCNTT trong DH môn Tiếng Việt

2

4

10

18

12

3,74

1,01

5

3

Nhà trường xây dựng hoặc phát triển kho học liệu số phục vụ dạy học môn Tiếng Việt

3

5

11

17

10

3,57

1,08

6

4

Nhà trường tạo điều kiện cho GV chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong sinh hoạt chuyên môn

1

2

9

19

15

3,98

0,89

1

5

Nhà trường bảo đảm thiết bị và đường truyền phục vụ dạy học môn Tiếng Việt có UDCNTT

2

4

9

18

13

3,78

1,00

4

6

Nhà trường phối hợp hiệu quả giữa CBQL, tổ chuyên môn và GV trong quá trình thực hiện

1

3

10

18

14

3,89

0,95

3

Điểm TBC:

 

 

 

 

 

3,82

 

 

Kết quả khảo sát ở bảng 2 cho thấy công tác tổ chức hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học được đánh giá ở ĐTB chung đạt 3,82/5,00, cho thấy các nhà trường đã quan tâm triển khai tổ chức thực hiện hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt, song mức độ thực hiện giữa các nội dung vẫn chưa thật sự đồng đều: Nội dung 4 có ĐTB = 3,98 cao nhất là “Nhà trường tạo điều kiện cho GV chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong sinh hoạt chuyên môn”, cho thấy việc lồng ghép nội dung ứng dụng CNTT trong sinh hoạt chuyên môn đã được chú trọng, tạo môi trường để GV học hỏi, trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện; Nội dung1 “Nhà trường phân công rõ trách nhiệm cho các bộ phận trong triển khai ứng dụng CNTT” với ĐTB = 3,96, phản ánh công tác phân công nhiệm vụ bước đầu khá rõ ràng. Nội dung 3 có ĐTB =3,57 thấp nhất là “Nhà trường xây dựng hoặc phát triển kho học liệu số phục vụ DH môn Tiếng Việt”,  cho thấy việc đầu tư, xây dựng và cập nhật kho học liệu số vẫn còn là hạn chế trong công tác tổ chức, là nội dung có ĐLC = 1,08 cao nhất, phản ánh mức độ đánh giá còn phân tán hơn giữa các CBQL. Kết quả phỏng vấn cho biết “Nhà trường đã phân công khá rõ thường lồng ghép ND ứng dụng CNTT trong sinh hoạt chuyên môn;  khó khăn nhất xây dựng kho học liệu số và tổ chức bồi dưỡng chuyên sâu cho GV vì điều kiện nhân lực, thời gian và kinh phí của nhà trường.” Kết luận công tác tổ chức hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt của GV ở các trường tiểu học thuộc phường Gò Dầu được thực hiện ở mức khá. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng chuyên môn, xây dựng kho học liệu số vẫn còn hạn chế, cần tiếp tục được quan tâm để nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động này.

3.3. Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên các trường Tiểu học phường Gò Dầu tỉnh Tây Ninh

Bảng 3. Đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt

STT

Nội dung khảo sát

Mức độ

ĐTB

ĐLC

XH

1

2

3

4

5

1

Ban giám hiệu chỉ đạo cụ thể việc ứng dụng CNTT trong các phân môn của môn Tiếng Việt

1

3

9

18

15

3,93

0,93

2

2

Việc chỉ đạo chú trọng yêu cầu công nghệ phải phục vụ mục tiêu bài học

1

2

8

19

16

4,02

0,88

1

3

CBQL kịp thời hướng dẫn, hỗ trợ GV khi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện

2

4

10

18

12

3,74

1,01

4

4

Nhà trường có biện pháp động viên, khuyến khích GV tích cực ứng dụng CNTT

2

5

9

17

13

3,74

1,05

4

5

Việc chỉ đạo bảo đảm phù hợp với đặc điểm HS tiểu học và đặc trưng môn Tiếng Việt

1

3

10

18

14

3,89

0,95

3

Điểm TBC:

 

 

 

 

 

3,86

 

 

Nội dung 2 có ĐTB = 4,02 cao nhất “Việc chỉ đạo chú trọng yêu cầu công nghệ phải phục vụ mục tiêu bài học”. Cho thấy CBQL đã nhận thức khá rõ nguyên tắc sử dụng CNTT như một công cụ hỗ trợ DH, bảo đảm công nghệ gắn với mục tiêu, nội dung bài học thay vì sử dụng mang tính hình thức. Đây cũng là tiêu chí có ĐLC = 0,88 thấp nhất, phản ánh sự thống nhất cao trong đánh giá; Nội dung 3,4 có ĐTB = 3,74 thấp nhất là “CBQL kịp thời hướng dẫn, GV khi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện” và “Nhà trường có biện pháp động viên, khuyến khích GV tích cực ứng dụng CNTT”, lần lượt có ĐLC = 1,01 và 1,05, xếp đồng hạng 4, cho thấy mặc dù nhà trường đã có sự chỉ đạo, song việc hỗ trợ trực tiếp, kịp thời và tạo động lực cho GV trong quá trình thực hiện vẫn còn là mặt hạn chế.

Kết quả phỏng vấn sâu cho biết: “ nhà trường chỉ đạo GV ứng dụng CNTT phải bám sát mục tiêu bài học, tránh lạm dụng hình thức.” Có thể kết luận rằng, công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học thuộc phường Gò Dầu được thực hiện ở mức khá. Việc chỉ đạo phù hợp, có định hướng đối với các phân môn của môn Tiếng Việt. Tuy nhiên hỗ trợ kịp thời và động viên GV trong quá trình thực hiện vẫn còn hạn chế, cần tiếp tục được tăng cường để nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động này.

3.4. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên ở trường tiểu học

Bảng 4 Đánh giá của cán bộ quản lý về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

TT

Nội dung khảo sát

Mức độ

ĐTB

ĐLC

XH

1

2

3

4

5

1

Nhà trường có kế hoạch kiểm tra việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt

1

3

9

19

14

3,91

0,92

2

2

Việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện thường xuyên, định kỳ

2

4

11

18

11

3,70

1,00

3

3

Nội dung kiểm tra chú trọng chất lượng ứng dụng CNTT, không chỉ số lượng bài giảng điện tử

1

2

8

20

15

4,00

0,88

1

4

Kết quả kiểm tra, đánh giá được sử dụng để điều chỉnh hoạt động quản lí và hỗ trợ GV

2

5

10

18

11

3,67

1,03

4

5

Nhà trường có hình thức ghi nhận, nhân rộng các cách làm hiệu quả trong ứng dụng CNTT

3

5

12

16

10

3,54

1,10

5

Điểm TBC:

 

 

 

 

 

3,76

 

 

                       

Nội dung 3 khảo sát có ĐTB = 4,00 cao nhất là “Nội dung kiểm tra chú trọng chất lượng ứng dụng CNTT, không chỉ số lượng bài giảng điện tử” cho thấy CBQL đã bước đầu quan tâm đến chiều sâu và chất lượng thực chất của việc ứng dụng CNTT trong DH, thay vì chỉ dừng ở hình thức hay số lượng sản phẩm, cũng là nội dung có ĐLC = 0,88 thấp nhất, phản ánh sự thống nhất khá cao trong đánh giá. Nội dung 5 có ĐTB = 3,54 thấp nhất là “Nhà trường có hình thức ghi nhận, nhân rộng các cách làm hiệu quả trong ứng dụng CNTT”, cho thấy việc phát hiện, biểu dương và lan tỏa các mô hình, kinh nghiệm tốt trong ứng dụng CNTT vẫn còn hạn chế. Đây là tiêu chí có ĐLC = 1,10 cao nhất, phản ánh giữa các trường còn có sự khác biệt nhất định trong cách thức tổ chức và mức độ quan tâm đến hoạt động này. Kết quả phỏng vấn sâu cho biết “Nhà trường đã xây dựng kế hoạch đánh giá luôn chú ý đến hiệu quả thực chất, Việc rút kinh nghiệm sau ĐG có thực hiện, nhưng để nhân rộng những cách làm hay hoặc kịp thời hỗ trợ GV thì chưa phải lúc nào cũng làm được.”

Từ đó kết luận rằng công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt của GV ở các trường Tiểu học thuộc phường Gò Dầu được thực hiện ở mức khá. Tuy nhiên, việc duy trì kiểm tra thường xuyên sử dụng kết quả kiểm tra để điều chỉnh quản lí, hỗ trợ GV vẫn còn hạn chế,  cần tiếp tục được tăng cường để nâng cao hiệu quả QL hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt.

4. Biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Tiếng Việt đât hiệu quả

4.1. Biện pháp 1: Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch quản lí hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt

 Mục tiêu là hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch quản lí hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt theo hướng khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn của các trường Tiểu học ở phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, và xây dựng kế hoạch cụ thể để tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá hiệu quả hoạt động ứng dụng CNTT trong DH môn Tiếng Việt một cách thống nhất. Phải xác định rõ mục tiêu QL phù hợp với yêu cầu đổi mới PPDH môn Tiếng Việt; Quy định cụ thể tiêu chí đánh giá và cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường, lồng ghép nội dung bồi dưỡng năng lực ứng dụng CNTT cho GV, đầu tư và khai thác hiệu quả thiết bị dạy học, học liệu số phục vụ dạy học môn Tiếng Việt.

4.2. Biện pháp 2: Tổ chức bồi dưỡng giáo viên năng lực ứng dụng công nghệ thông tin theo hướng thực hành, phù hợp với đặc thù môn Tiếng Việt

Mục tiêu là nâng cao năng lực ứng dụng CNTT của GV trong DH môn Tiếng Việt theo hướng thiết thực, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu đổi mới GD Tiểu học; Rèn luyện khả năng vận dụng trực tiếp CNTT vào thiết kế kế hoạch bài dạy, tổ chức hoạt động học tập môn Tiếng Việt của GV Tiểu học Thường xuyên tổ chức các hoạt động bồi dưỡng năng lực sử dụng các thiết bị CNTT, kỹ năng DH như soạn bài trình chiếu, dùng học liệu số, thiết kế trò chơi học tập, tạo bài tập tương tác, sử dụng video, âm thanh, hình ảnh phù hợp với nội dung bài học Tiếng Việt.

4.3 Biện pháp 3: Tăng cường đầu tư, khai thác và sử dụng hiệu quả các điều kiện bảo đảm cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt

Mục tiêu bảo đảm các điều kiện thiết yếu về cơ sở vật chất, thiết bị công nghệ, phần mềm, học liệu số và nguồn lực hỗ trợ để GV triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt một cách thuận lợi, thường xuyên và hiệu quả; Quản lí và sử dụng hợp lý các điều kiện, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức dạy học, phát huy tính tích cực, hứng thú học tập của HS, từng bước đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Tập trung quản lí đồng bộ các điều kiện phục vụ hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt; Đầu tư, nâng cấp hệ thống mạng internet, máy tính, máy chiếu, bảng tương tác, tivi, loa, thiết bị hỗ trợ trình chiếu; xây dựng, khai thác và cập nhật kho học liệu số dùng chung

4.4. Biện pháp 4: Đổi mới công tác chỉ đạo, đánh giá hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt theo hướng thực chất

Mục tiêu đổi mới công tác chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt theo hướng thực chất, khách quan và hiệu quả; Giúp CBQL kịp thời phát hiện những hạn chế, khó khăn để có biện pháp hỗ trợ phù hợp; Tạo động lực để GV sử dụng CNTT đúng mục đích, phù hợp nội dung bài học và góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt.

Đổi mới nội dung và phương thức chỉ đạo, đánh giá hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt theo hướng coi trọng hiệu quả thực tế thay vì chỉ chú ý đến hình thức thể hiện; Xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá cụ thể, rõ ràng, bám sát yêu cầu đổi mới dạy học và đặc trưng môn Tiếng Việt ở tiểu học; Đánh giá GV có sử dụng thiết bị, phần mềm hay bài giảng điện tử; xem xét mức độ phù hợp của CNTT với mục tiêu bài học; Công tác chỉ đạo cần hướng vào việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên, đa dạng, kết hợp dự giờ, xem xét sản phẩm dạy học, lấy ý kiến phản hồi và đối chiếu với kết quả học tập của HS.

5. Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác quản lý hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh ở các trường Tiểu học tại phường Gò Dầu, tỉnh tây Ninh đạt mức khá về cả bốn nội dung: Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Các nhà trường đã có định hướng rõ ràng về mục tiêu, nội dung quản lý hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học; Bộ máy tổ chức tương đối đầy đủ, hoạt động chỉ đạo được triển khai thường xuyên, chế độ báo cáo và tổng kết được duy trì khá nghiêm túc. Tuy nhiên, một số hạn chế vẫn còn tồn tại, như tập trung ở việc dự trù và điều phối nguồn lực, huy động sự tham gia của cộng đồng, cần được hỗ trợ từ các cơ quan quản lý cấp trên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 [1]. Lê Duy Hùng. (2025). kiến thức nội dung sư phạm công nghệ của giáo viên tiểu học ở miền nam việt nam: một nghiên cứu phân tích lớp tiềm ẩn. Tạp chí khoa học trường Đại học sư phạm TP. Ho Chi Minh, tập 22(9), 1653–1661. https://doi.org/10.54607/hcmue.js.22.9.5110(2025)

 [2]. Liu, S., Reynolds, B. L., Thomas, N., & Soyoof, A. (2024). The use of digital technologies to develop young children’s language and literacy skills: A systematic review. SAGE Open. https://doi.org/10.1177/21582440241230850

[3]. Nguyen, L. B. (2023). Application of Information and Communication Technology (ICT) in educational administration: International experiences and Vietnamese policies. Journal of Contemporary Educational Policies and Practices, 7(3), 187–194.  https://doi.org/10.52296/vje.2023.327

[4]. Ottestad, G. (2013). School leadership for ICT and teachers’ use of digital tools. Nordic Journal of Digital Literacy, 8(1–2), 107–125.

https://doi.org/10.18261/ISSN1891-943X-2013-01-02-07

[5]. Phan, T. C., Tran, H. V., Truong, T. D., Le, H. T., & Phan, D. M. (2024). Developing Information Technology competence in online education with the TPACK approach. Journal of Contemporary Educational Policies and Practices, 8(2), 166–176. https://doi.org/10.52296/vje.2024.361

[6]. Tulowitzki, P., Gerick, J., & Eickelmann, B. (2022). The role of ICT for school leadership and management activities: An international comparison. International Journal of Educational Management, 36(2), 133–151. https://doi.org/10.1108/IJEM-06-2021-0251

[7]. Vinh, L. A., Luong, M. P., Do Duc, L., Tran, M. N., & Bui, D. (2023). Technology in education: A case study on Viet Nam. UNESCO. https://doi.org/10.54676/GPDF6007.

 


Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba khẳng định vai trò gần dân, sát cơ sở, vì sức khỏe thế hệ trẻ

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba tổ chức chương trình khám sức khỏe định kỳ cho gần 500 sinh viên tại Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông lâm Phú Thọ. Hoạt động không chỉ mang ý nghĩa thiết thực trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe thế hệ trẻ mà còn cho thấy sự quan tâm ngày càng sâu sát của ngành Y tế đối với công tác chăm sóc sức khỏe học sinh, sinh viên; qua đó góp phần khẳng định vai trò, vị thế của Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba trong hệ thống y tế cơ sở.

Lan tỏa yêu thương, tiếp sức học sinh Trường THCS Văn Lang

Trường THCS Văn Lang, tỉnh Phú Thọ tổ chức trao 10 phần quà, mỗi phần trị giá 500.000 đồng, do Ngân hàng BIDV - Chi nhánh Hùng Vương dành tặng học sinh nhà trường. Những món quà ý nghĩa là sự sẻ chia thiết thực, tiếp thêm động lực để các em nỗ lực học tập, rèn luyện trong năm học mới.

Phú Thọ: Các cơ sở giáo dục không được đặt ra các khoản thu ngoài danh mục được quy định

Nhằm bảo đảm việc thu, quản lý, sử dụng các khoản thu thống nhất, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ vừa có hướng dẫn thực hiện công tác quản lý thu, chi năm học 2026 - 2027 trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Theo đó, các cơ sở giáo dục công lập chỉ được tổ chức các khoản thu thuộc danh mục quy định tại Quyết định số 44/2026/QĐ-UBND, Quyết định số 2638/QĐ-UBND và văn bản hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo; không thỏa thuận hoặc đặt ra các khoản thu ngoài danh mục.

Thanh Hoá: Ông Nguyễn Trọng Sơn được bổ nhiệm Phó Chánh án TAND tỉnh

Chiều 15/9, TAND tối cao tổ chức Lễ công bố quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Trọng Sơn, Chánh tòa Dân sự, TAND tỉnh Thanh Hóa, giữ chức vụ Phó Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa. Thời hạn bổ nhiệm là 5 năm, kể từ ngày 15/9/2026

Lào Cai: Trường THCS Ngô Văn Sở lan tỏa từ những điều Bác dạy

Trường THCS Ngô Văn Sở, phường Lào Cai tổ chức sinh hoạt chính trị, tư tưởng với chủ đề “Thực hành và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh – hành động thiết thực từ những việc làm cụ thể”. Qua đó, những lời căn dặn của Người được chuyển hóa thành những việc làm gần gũi trong học tập, công tác và sinh hoạt hằng ngày.

Thanh Hóa: Nhiều hoạt động đặc sắc tại Lễ hội Lam Kinh năm 2026

Lễ hội Lam Kinh năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 1-3/10 tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh (xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa), với nhiều nghi lễ truyền thống, hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Trong khuôn khổ sự kiện, Liên hoan Văn nghệ dân gian - Phiên chợ vùng cao cũng được tổ chức, góp phần quảng bá những giá trị văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc trong tỉnh.

Phú Thọ tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục

UBND tỉnh Phú Thọ yêu cầu tăng cường kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm, công khai thông tin bữa ăn học đường và xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là hành vi “cắt xén” khẩu phần của học sinh.

Phú Thọ rà soát chế độ tập sự của viên chức ngành Giáo dục

Viên chức đang tập sự được rà soát, xếp lương theo vị trí việc làm tuyển dụng và thực hiện quy định chuyển tiếp từ ngày 1/7/2026.

TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Phó Tổng Biên tập phụ trách trang điện tử: Vũ Đình Thơm

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Banbientap@giaoducvaxahoi.vn

Liên hệ quảng cáo: 024.629 46516