PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

22/06/2026 - 23:24

ĐÀO TIẾN ĐẠT

Lớp: CH2024 K33-C5 Học Viện Tài Chính

Abstract

The economic innovation policy initiated by our Party has brought about particularly great and positive changes to the country in recent years. In the current context, many new issues appear, requiring the identification and clarification of core values and contents that need to continue to be supplemented and improved in the Party's economic development policy. This is a work of particular importance to the country's development in the coming years. The article offers some solutions that contribute to the development of economic theoretical thinking to meet the requirements of building and developing the country in the new situation.

Keywords: Development, theoretical thinking, economics, development, Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định tầm quan trọng đặc biệt của tư duy lý luận (TDLL). Ph.Ăngghen từng nhấn mạnh: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có TDLL”. Công cuộc đổi mới và sự phát triển của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng gắn liền với sự phát triển lý luận cách mạng và thể hiện sinh động ở sự đổi mới TDLL của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vấn đề phát triển bền vững, sáng tạo và bao trùm đang nổi lên với sức hấp dẫn, lôi cuốn và lan tỏa khắp thế giới. Điều này thật dễ hiểu bởi cho đến nay, chưa một quốc gia nào có thể khẳng định đã phát triển một cách bền vững, sáng tạo và bao trùm. Ngay ở các nước phát triển nhất, việc phát triển bền vững cũng chỉ là tương đối, phát triển sáng tạo cũng chỉ ở một vài lĩnh vực và phát triển bao trùm thì còn khó mà đạt được. Vì thế, phát triển bền vững, sáng tạo, bao trùm trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã trở thành một hướng đi mới thiết thực mà quốc gia nào cũng thấy cần thiết đáp ứng nhu cầu và mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài. Đối với mỗi quốc gia, để phát triển theo định hướng tốt đẹp đó nhất định phải biết kết hợp giữa nội lực trong nước và sức mạnh quốc tế, phát triển kinh tế thời kỳ mới ngày càng đòi hỏi phát triển đất nước toàn diện, đồng bộ hơn về mọi mặt, trong đó phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) là trung tâm. Để tạo bước đột phá mới cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy nhằm tạo ra không gian mới, động lực mới cho sự phát triển về KT-XH ở nước ta.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Sự cần thiết phải phát triển tư duy lý luận về kinh tế trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam

Tư duy mới hay đổi mới tư duy kinh tế là những thay đổi lớn trong quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách phát triển KT-XH, pháp luật, thể chế và chính sách quản lý. Tư duy mới sẽ hình thành chính sách mới, từ đó tạo ra phong trào mới và đem đến kết quả mới. Vì thế, đổi mới tư duy là khởi đầu cho quá trình phát triển mới. Tư duy kinh tế mới được hình thành tại Đại hội VI đã khẳng định “xu hướng mới”, “con đường đi mới” trong phát triển KT-XH ở nước ta. Đó là đổi mới nhận thức và tư duy về mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN; về vấn đề sở hữu và thành phần kinh tế; mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và thể chế kinh tế thị trường; nhận thức về sự lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tế; về công nghiệp hóa xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH; về hội nhập kinh tế quốc tế.

Đại hội lần thứ XII của Đảng (2016) đã chỉ rõ: “Kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu và thực tế nguồn lực được huy động. Trong 10 năm gần đây, kinh tế vĩ mô có lúc thiếu ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, phục hồi chậm. Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Phát triển thiếu bền vững cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết có hiệu quả; còn tiềm ẩn những nhân tố và nguy cơ mất ổn định xã hội” [1]. Nguyên nhân cốt lõi là do tư duy phát triển KT-XH trong hơn 30 năm qua đã không còn tạo nguồn lực và động lực cho sự phát triển, vai trò của tư duy mới về kinh tế - mở đường cho sự phát triển, nhiều chủ trương chính sách đã không còn phát huy được tác dụng mạnh mẽ như giai đoạn đầu đổi mới. Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhận định: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn bất cập, chưa làm rõ được một số vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới để định hướng trong thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH còn một số vấn đề cần phải qua tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để tiếp tục làm rõ” [2].

2.2. Một số nội dung phát triển tư duy lý luận về kinh tế - xã hội

2.2.1. Phát triển tư duy lý luận về nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế

Trong giai đoạn phát triển mới cần có tư duy, nhận thức mới về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Cụ thể, kinh tế thị trường có thể được xây dựng ở các nước có những thể chế chính trị khác nhau, với mô hình riêng, phù hợp với các điều kiện và mục tiêu cụ thể của từng nước, giúp tạo ra thị trường cạnh tranh và sôi động. Từ sau những năm 1990, nhờ biết ứng dụng nhanh và mạnh các thành tựu mới của khoa học và công nghệ vào nền kinh tế (cả về mặt kỹ thuật, công nghệ cũng như tổ chức và quản lý), kinh tế thị trường đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới - nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Vì vậy, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta cũng phải là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Đây là luận điểm đầu tiên được khẳng định trong Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng. Để đạt được điều này, mô hình kinh tế thị trường tại Việt Nam phải bao hàm các đặc trưng, nội dung của thể chế kinh tế thị trường hiện đại, đó là: Nền kinh tế hỗn hợp, trong đó hình thức sở hữu cổ phần, công ty cổ phần chiếm ưu thế; không còn các yếu tố phi thị trường; phát triển dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao; cơ cấu kinh tế hiện đại, tỷ trọng nông nghiệp và công nghiệp trong GDP giảm, tỷ trọng các ngành dịch vụ tăng; sự chi phối của thể chế kinh tế theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, tự do hóa và hình thành các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương nhằm tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở một quốc gia mà có sự điều chỉnh xuyên quốc gia. Thuộc tính mới này của nền kinh tế thị trường đòi hỏi thể chế phát triển cần tiếp tục hoàn thiện, mô hình tăng trưởng kinh tế được đổi mới, có sự tham gia vào chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu. Kinh tế tri thức cần được ưu tiên phát triển, đổi mới sáng tạo trên nền tảng khoa học và công nghệ hiện đại. Những chuẩn mực văn minh trong sản xuất tiêu dùng cần được thúc đẩy và hoàn thiện, đặc biệt là việc tuân thủ các cam kết quốc tế, các định chế kinh tế khu vực và toàn cầu mà Việt Nam đã ký kết.

Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam cũng có các yếu tố đặc thù. Định hướng XHCN và kinh tế thị trường là một thể thống nhất, không tách rời, định hướng XHCN là những yếu tố nội sinh bên trong kinh tế thị trường, thể hiện ở những điểm chủ yếu như: 1) Mục tiêu phát triển kinh tế thị trường là xây dựng thành công CNXH, phát triển xã hội và con người, thực hiện “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”; 2) Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; phát triển nền kinh tế đa sở hữu, đa thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo để góp phần khắc phục những khuyết tật, thất bại của cơ chế thị trường, đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu phát triển KT-XH; 3) Phương thức phân phối chủ yếu dựa trên hiệu quả kinh tế, đồng thời thông qua phúc lợi xã hội, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, tiến bộ, công bằng trong từng chính sách phát triển; 4) Thực hiện dân chủ hóa trong đời sống kinh tế, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển KT-XH, đảm bảo vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, kinh tế thị trường và định hướng XHCN không phải là hai mảnh ghép với nhau một cách cơ học mà là một thể thống nhất.

2.2.2. Đổi mới tư duy về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân ngày càng phù hợp hơn với quy luật phát triển và định hướng chính trị của Đảng 

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, kinh tế nhà nước luôn được đặt ở vị trí hàng đầu và giữ vai trò chủ đạo, là một trong các yếu tố quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng XHCN. Đó là quan điểm được xác định nhất quán trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp quy của Nhà nước, từ hiến pháp đến các đạo luật và văn bản dưới luật có liên quan. Tuy nhiên, tư duy và nhận thức về bản chất nội hàm và vai trò của kinh tế nhà nước chưa phù hợp với lý luận và thực tiễn, vì vậy cần có bước đột phá mới về tư duy, nhận diện đúng về thành phần kinh tế nhà nước, từ đó kiên trì quan điểm “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo’”.

Kinh tế nhà nước được hiểu là tập hợp sức mạnh kinh tế thể hiện trên các ngành, lĩnh vực trọng yếu, từ các định chế pháp luật, định chế tài chính, hiệu quả sản xuất - kinh doanh của “lực lượng nòng cốt” - khu vực doanh nghiệp nhà nước chứ không chỉ đóng khung trong khối tài sản đăng ký của doanh nghiệp nhà nước, ở quy mô sở hữu nhà nước và sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Như vậy, kinh tế nhà nước với các nguồn lực, công cụ, chính sách… giữ vai trò trọng yếu trong tiến trình phát triển KT-XH, là nền tảng cơ bản để phát triển các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp. Vì thế, kinh tế nhà nước phải được xây dựng và phát triển, giữ vai trò chủ đạo, định hướng và điều tiết nền kinh tế; đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, kiểm soát các nguồn tài nguyên chiến lược; phát triển kết cấu hạ tầng và dịch vụ công có vốn đầu tư lớn, luân chuyển chậm, lợi nhuận không cao nhưng cần thiết cho KT-XH mà khu vực tư nhân không sẵn sàng đảm nhận. Để thực hiện chức năng và vai trò đó, doanh nghiệp nhà nước phải được đầu tư phát triển ở những ngành nghề mới và sản xuất hàng hóa công cộng. Quá trình chuyển doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa tư nhân hiện nay sang hình thức doanh nghiệp cổ phần hóa cần được đẩy nhanh. Việc được cơ cấu, đổi mới nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp thực sự hoạt động theo cơ chế thị trường. Việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, nhất là doanh nghiệp nhà nước trong nông, lâm nghiệp cần được đẩy mạnh nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất rừng và các tài sản nhà nước đầu tư. Cơ chế thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước và giám sát doanh nghiệp nhà nước cần được đổi mới. Chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước cần tách ra khỏi chức năng quản lý nhà nước, không để tình trạng “3 trong 1” - các bộ vừa là chủ sở hữu, vừa ban hành chính sách, kiểm soát thị trường dẫn đến xung đột lợi ích khi điều hành hoạt động doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước [3].

Cụ thể, Chính phủ tiếp tục phát huy vai trò của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vừa là chủ thể kinh doanh, vừa là lực lượng kinh tế nòng cốt do Nhà nước sử dụng trong tác động tham gia các hoạt động kinh tế. Là chủ thể kinh doanh, các DNNN phải thực hiện hạch toán kinh tế, tự chủ về tài chính, hoạt động có hiệu quả để bảo đảm quá trình tái sản xuất mở rộng, bảo đảm gia tăng nguồn lực kinh tế mà Nhà nước đã đầu tư cho các doanh nghiệp này. DNNN là lực lượng tham gia các hoạt động kinh tế như một công cụ của Nhà nước, góp phần tạo ra sự ổn định KT-XH, giúp Nhà nước đạt được các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội. Theo kết quả chính thức Tổng điều tra kinh tế năm 2023 được Tổng cục Thống kê công bố ngày 19/12/2023, tỷ suất sinh lời trên doanh thu (tính bằng tổng lợi nhuận trước thuế/tổng doanh thu) của DNNN đạt 6,6%, trong khi tỷ suất này ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là 10,7% và khu vực DNNN chỉ đạt 5,9%; số lượng doanh nghiệp nhà nước ít nhưng thuế và các khoản đã nộp lại cao nhất với trung bình 104 tỷ đồng/doanh nghiệp. Mức này được Tổng cục Thống kê đánh giá cao hơn nhiều so với khu vực FDI với mức trung bình là 58 tỷ đồng/doanh nghiệp và ở các doanh nghiệp ngoài nhà nước là 1 tỷ đồng/doanh nghiệp [4].

Bên cạnh đó, Đảng đã khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát hơn về vai trò của kinh tế tư nhân - động lực quan trọng của nền kinh tế. Việc phát triển kinh tế tư nhân thể hiện sự tôn trọng quyền tự chủ của các chủ sở hữu tư nhân trong việc thực hiện các hoạt động sản xuất - kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật, gắn với việc đề cao tính tự chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất - kinh doanh. Do đó, người chủ sở hữu thường quan tâm đến hiệu quả sử dụng tài sản của họ, tạo động lực thúc đẩy hoạt động đầu tư và kinh doanh của các chủ sở hữu kinh tế tư nhân. Đây chính là cách thức quan trọng giải phóng sức sản xuất, góp phần giải quyết các vấn đề KT-XH của đất nước. Trên thực tế, khu vực kinh tế tư nhân phát triển rất năng động, góp phần quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, mạnh dạn đi đầu trong nhiều lĩnh vực sản xuất - kinh doanh mới; lực lượng doanh nhân Việt Nam có tiếng nói và vai trò ngày càng quan trọng trong các quyết sách phát triển đất nước.

2.2.3. Tư duy mới về mô hình tăng trưởng kinh tế vượt bẫy “thu nhập trung bình”

Qua hơn 30 năm chuyển đổi tư duy phát triển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, Việt Nam đã đạt được những thành quả phát triển KT-XH đáng tự hào. Năm 2010, Việt Nam được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình (từ 1.045 USD - 4.125 USD/người/năm). Tuy vậy, nhiều nhà nghiên cứu đang quan ngại về việc Việt Nam có nguy cơ rơi vào ‘”bẫy” các nước có mức thu nhập trung bình, tức là tình trạng một nước thoát nghèo đứng vào nhóm các nước có thu nhập trung bình (thu nhập trong khoảng 1.025 - 9.385 USD/người/năm) nhưng mất nhiều thập kỷ vẫn không thể trở thành quốc gia phát triển (thu nhập trên 9.385USD/người/ năm và đạt các tiêu chí khác về phát triển công nghệ, KT-XH). Do đó, tư duy đúng về mô hình tăng trưởng kinh tế cần hướng tới mô hình hiện đại, tức là mô hình đặt các mục tiêu chất lượng (cơ cấu, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, vị thế của nền kinh tế trong hệ thống phân công lao động quốc tế và khu vực…) lên vị trí ưu tiên hàng đầu so với mục tiêu tăng trưởng sản lượng (tốc độ tăng GDP, tiết kiệm, đầu tư, xuất - nhập khẩu…). Tư duy phát triển mới này đòi hỏi:

Tăng trưởng kinh tế phải được xây dựng trên những nền tảng vững chắc mang tính bền vững, với ba yêu lợi thế, tiềm năng, đồng thời cần phải tạo dựng, nuôi dưỡng và phát huy thế mạnh đó, xem như động lực chính để thực hiện mục tiêu tăng trưởng; 2) Các yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu như khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tố năng suất tổng hợp (TFP)… phải đóng vai trò tích cực và chiếm tỷ trọng lớn trong kết quả tăng trưởng kinh tế; 3) Các nguồn lực tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên của đất nước phải được khai thác, sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, bảo tồn và tái tạo phát triển.

Tăng trưởng cần được gắn với việc tạo tác động lan tỏa tích cực đến các đối tượng ảnh hưởng. Theo đó, vấn đề quan trọng không phải là bám đuổi mục tiêu tăng trưởng nhanh mà là duy trì mục tiêu tăng trưởng hợp lý trong mối quan hệ với những ràng buộc về tài nguyên môi trường và các vấn đề xã hội. Trong quá trình thực hiện tăng trưởng kinh tế cần quan tâm đến khía cạnh bền vững về môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng và tái sinh tài nguyên, chống ô nhiễm môi trường; đồng thời quan tâm đến giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập và mức sống, chất lượng cuộc sống của dân cư; quan tâm thường xuyên các chỉ tiêu liên quan đến sự phát triển toàn diện con người như giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật, giới và dân tộc… Việc đảm bảo các chỉ tiêu phát triển xã hội và bảo vệ môi trường sẽ là nhân tố tích cực củng cố và duy trì khả năng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn [5].

2.2.4. Phát triển tư duy lý luận về mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn mới

Những thành tựu phát triển KT-XH nói chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nói riêng đã đưa nước ta từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu ra khỏi tình trạng kém phát triển và trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp, uy tín của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế. Tuy vậy, quá trình CNH còn có nhiều hạn chế, yếu kém, diễn ra chậm. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt tới. Vì thế, Đại hội XII của Đảng (2016) đã phải điều chỉnh bước đi và mục tiêu của CNH, HĐH. Đại hội xác định trong giai đoạn tới cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình CNH, HĐH trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mô hình CNH, HĐH mới này nhằm hướng tới con người, coi nguồn lực con người là yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất.

Trong giai đoạn phát triển mới, thực hiện CNH, HĐH không chỉ dựa vào Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước như trước đây mà là sự nghiệp của toàn dân và toàn xã hội. Nhà nước huy động và phát huy các nguồn lực của nhân dân, các thành phần kinh tế và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thị trường có vai trò chủ yếu trong việc phân bổ nguồn lực tăng trưởng. Nhà nước thực hiện các chính sách khuyến khích và ưu đãi cho một số ngành, lĩnh vực, địa bàn, doanh nghiệp vừa và nhỏ và một số mục tiêu xã hội. Trong điều kiện phát triển mới, mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải gắn với mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu, trong đó, tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo. Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu trên cơ sở trình độ công nghệ hiện đại, thích hợp, đảm bảo chất lượng, hiệu quả, gắn với phát triển các yếu tố khác của nền kinh tế tri thức. Mô hình công nghiệp hóa mới còn phải thể hiện tăng trưởng kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm và nâng cao khả năng tái sinh tài nguyên, chống suy thoái và ô nhiễm môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức cần chú ý tới định hướng coi trọng kinh tế xanh, như: Kinh tế các bon thấp, tăng trưởng xanh, phát triển các dạng năng lượng sạch (gió, mặt trời...) năng lượng tái sinh và hoàn nguyên môi trường [6].

3. Kết luận

Tư duy lý luận là giai đoạn cao nhất của tư duy, là quá trình mà tư duy tiếp cận, nắm bắt, nhận thức và tái tạo hiện thực khách quan bằng lý luận và thường được thể hiện ra ở các giả thuyết, các lý thuyết có quan hệ tương hỗ với nhau. Thực tiễn cho thấy, việc đổi mới và phát triển TDLL là nhân tố mang tính quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo, nhất là trong những lúc cam go, bước ngoặt của lịch sử. Với tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội VI của Đảng đã phê phán những sai lầm chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động nóng vội,chủ quan, không tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Đại hội kiên quyết đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế, coi đổi mới tư duy là khâu “đột phá” cho toàn bộ quá trình đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN; chủ động khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới. Đảng ta khẳng định: “Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”. Nhờ chọn đúng khâu đột phá mà Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và “Đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Tài liệu tham khảo

[1] Chu Văn Cấp (2016), Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Việt Nam theo các tiêu chuẩn của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 9.

[2] Lương Xuân Quỳ (2015), Tư duy mới về phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

[3] Nguyễn Văn Nam (2011), Hướng tới nền kinh tế thị trường hiện đại ở Việt Nam - Lộ trình và các giải pháp hoàn thiện, Đề tài KX.01.11/06-11, Viện Nghiên cứu Thương mại.

[4] Tổng cục Thống kê (2023), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2023, nguồn: https://www.gso.gov.vn.

[5] Nguyễn Xuân Thắng (2016), Một số nhận thức mới về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị, tháng 8.

[6] Phạm Phan Dũng (2010), Định hướng phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

 


Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba khẳng định vai trò gần dân, sát cơ sở, vì sức khỏe thế hệ trẻ

Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba tổ chức chương trình khám sức khỏe định kỳ cho gần 500 sinh viên tại Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông lâm Phú Thọ. Hoạt động không chỉ mang ý nghĩa thiết thực trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe thế hệ trẻ mà còn cho thấy sự quan tâm ngày càng sâu sát của ngành Y tế đối với công tác chăm sóc sức khỏe học sinh, sinh viên; qua đó góp phần khẳng định vai trò, vị thế của Trung tâm Y tế khu vực Thanh Ba trong hệ thống y tế cơ sở.

Lan tỏa yêu thương, tiếp sức học sinh Trường THCS Văn Lang

Trường THCS Văn Lang, tỉnh Phú Thọ tổ chức trao 10 phần quà, mỗi phần trị giá 500.000 đồng, do Ngân hàng BIDV - Chi nhánh Hùng Vương dành tặng học sinh nhà trường. Những món quà ý nghĩa là sự sẻ chia thiết thực, tiếp thêm động lực để các em nỗ lực học tập, rèn luyện trong năm học mới.

Phú Thọ: Các cơ sở giáo dục không được đặt ra các khoản thu ngoài danh mục được quy định

Nhằm bảo đảm việc thu, quản lý, sử dụng các khoản thu thống nhất, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ vừa có hướng dẫn thực hiện công tác quản lý thu, chi năm học 2026 - 2027 trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Theo đó, các cơ sở giáo dục công lập chỉ được tổ chức các khoản thu thuộc danh mục quy định tại Quyết định số 44/2026/QĐ-UBND, Quyết định số 2638/QĐ-UBND và văn bản hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo; không thỏa thuận hoặc đặt ra các khoản thu ngoài danh mục.

Thanh Hoá: Ông Nguyễn Trọng Sơn được bổ nhiệm Phó Chánh án TAND tỉnh

Chiều 15/9, TAND tối cao tổ chức Lễ công bố quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Trọng Sơn, Chánh tòa Dân sự, TAND tỉnh Thanh Hóa, giữ chức vụ Phó Chánh án TAND tỉnh Thanh Hóa. Thời hạn bổ nhiệm là 5 năm, kể từ ngày 15/9/2026

Lào Cai: Trường THCS Ngô Văn Sở lan tỏa từ những điều Bác dạy

Trường THCS Ngô Văn Sở, phường Lào Cai tổ chức sinh hoạt chính trị, tư tưởng với chủ đề “Thực hành và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh – hành động thiết thực từ những việc làm cụ thể”. Qua đó, những lời căn dặn của Người được chuyển hóa thành những việc làm gần gũi trong học tập, công tác và sinh hoạt hằng ngày.

Thanh Hóa: Nhiều hoạt động đặc sắc tại Lễ hội Lam Kinh năm 2026

Lễ hội Lam Kinh năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 1-3/10 tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh (xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa), với nhiều nghi lễ truyền thống, hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Trong khuôn khổ sự kiện, Liên hoan Văn nghệ dân gian - Phiên chợ vùng cao cũng được tổ chức, góp phần quảng bá những giá trị văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc trong tỉnh.

Phú Thọ tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục

UBND tỉnh Phú Thọ yêu cầu tăng cường kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm, công khai thông tin bữa ăn học đường và xử lý nghiêm các vi phạm, nhất là hành vi “cắt xén” khẩu phần của học sinh.

Phú Thọ rà soát chế độ tập sự của viên chức ngành Giáo dục

Viên chức đang tập sự được rà soát, xếp lương theo vị trí việc làm tuyển dụng và thực hiện quy định chuyển tiếp từ ngày 1/7/2026.

TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Phó Tổng Biên tập phụ trách trang điện tử: Vũ Đình Thơm

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Banbientap@giaoducvaxahoi.vn

Liên hệ quảng cáo: 024.629 46516