QUAN NIỆM CÔNG CHÍNH CỦA PLATO TRONG TÁC PHẨM CỘNG HÓA DƯỚI MỘT HỌC THUYẾT VỀ CÔNG LÝ CỦA JONH RAWL

24/02/2026 - 14:35      21 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

PHẠM THỊ QUỲNH NHƯ

Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt:

Tư tưởng công chính là một trong những chủ đề trung tâm trong tiền đề triết học nói chung và văn học nói riêng. Nền tảng triết học về công chính không chỉ đặt nền móng cho nhận thức đạo đức và chính trị của con người, mà còn trở thành một mạch tư tưởng xuyên suốt trong lịch sử tư duy nhân loại. Ở mỗi thời đại khác nhau, khái niệm công chính theo đó cũng được định nghĩa, lý giải và nhìn nhận, chiệm nghiệm dưới nhiều góc độ khác nhau, phản ánh sự vận động và biến chuyển không ngừng của dòng chảy xã hội - lịch sử, văn hóa. Platon đã nhìn nhận tư tưởng công chính được nhìn nhận như một đức tính về đạo đức bắt nguồn từ việc vui sướng thực sự trong tâm hồn hơn là lớp vỏ bọc hào nhoáng, hoặc bị cưỡng chế mang tính ép buộc như một nghi lễ hình thức xáo rỗng, một công cụ điều khiển con người buộc phải thực hành liên tục.

Từ khóa: công chính; bản chất của công chính, cấu trúc ba bậc của linh hồn; lý trí.

Abstract: Justice is one of the central themes in philosophical thought in general and in literary studies in particular. The philosophical foundations of justice not only lay the groundwork for human moral and political consciousness, but also constitute a continuous intellectual current throughout the history of human thought. In different historical periods, the concept of justice has been variously defined, interpreted, and contemplated from multiple perspectives, reflecting the constant movement and transformation of social, historical, and cultural contexts. Plato conceives justice as a moral virtue that originates in genuine inner fulfillment of the soul, rather than in outward splendor or coercive imposition through compulsory practices, hollow formal rituals, or mechanisms designed to control human behavior by forcing continual compliance.

Keywords: Justice; nature of justice; the tripartite soul; logos.

1. Đặt vấn đề

Trong tiếng Latinh Justice thường được hiểu hoặc dịch giải là công lý hoặc công chính. Thuật ngữ này bắt nguồn từ hình tượng nữ thần Justitia trong thần thoại La Mã. Theo Nguyễn Thế Anh trong phần Tổng quan về công lý đã sơ lược rằng:

Khi người La Mã chinh phục Hy Lạp vào thế kỷ II trước công nguyên, họ tiếp thu và cải biến hình tượng hai nữ thần Hy Lạp là Themis – biểu tượng của trật tự vũ trụ, và Dike – hiện thân của công bằng trong phán xét. (Nguyễn Thế Anh, 2019, p. 9)

Từ đó, nữ thần Justitia ra đời như biểu tượng của công lý trong thế giới La Mã cổ đại. Tinh thần này còn được khắc họa trong câu châm ngôn Latin nổi tiếng “Fiat justitia, et pereat mundus” (Hãy để công lý được thực thi, dù cho thế giới có bị hủy diệt). Qua đó, nhấn mạnh nguyên tắc tuyệt đối của lẽ phải, coi việc thực thi công lý là mục tiêu tối thượng, bất chấp hậu quả. Từ nhiều thế kỉ, trước thời kì Hy Lạp cổ đại theo Hoàng Thị Bích Ngọc nhận định:

Công lý trong giai đoạn đầu tiên của xã hội thời cổ đại được thể hiện khá rõ nét bằng sự trả thù cá nhân, luật báo thù được áp dụng một cách triệt để và tàn khốc. Trong bộ luật Hammurabi của nhà nước Lưỡng Hà cổ đại được ban hành từ năm 1792 đến năm 1750 trước công nguyên (TCN), một mặt công nhận quyền tự do của con người, coi công lý và chính nghĩa là cơ sở của nền cai trị nhân từ, công bằng nhằm đem lại sự thái bình và hạnh phúc chân chính cho người dân. Nhưng bên cạnh đó, công lý được được hiểu là áp dụng hình phạt ngang bằng với thiệt hại mà kẻ phạm tội gây ra, công nhận sự trả thù tương ứng. Nguyên tắc báo thù Talion (mắt đền mắt, răng đền răng) được áp dụng một cách triệt để, cứng nhắc và tàn khốc nhất. (Hoàng Thị Bích Ngọc, 2019, p. 69).

Giai đoạn thứ hai của sự phát triển nhận thức về công lý “thay sự báo thù bằng bồi thường, hình phạt nhằm giữ hòa hảo trong nội bộ cá thị tộc, bộ lạc” (Hoàng Thị Bích Ngọc, 2019, p. 62), đến đây tòa án ra đời nhằm ngăn chặncá cuộc xung đột, báo thù cá nhân và thẩm định, đánh giá hài hào giữa cá nhân trong xét xử.

Từ thời Hy Lạp cổ đại, công lý là sản phẩm của một xã hội trật tự, nơi mà “một xã hội ổn định, có trật tự sẽ thúc đẩy sự phát triển của công lý và ngược lại, một nền công lý mạnh mẽ sẽ thúc đẩy một xã hội trật tự, ổn định” (Hoàng Thị Bích Ngọc, 2019, p. 62). Đến Plato, ông cho rằng công lý là kết quả của sự đồng tâm hợp tác giữa những cá nhân có đức hạnh tham gia giải quyết các vấn đề của cộng đồng và quốc gia. Công lý là một vấn đề giản dị nếu con người rời xa lòng tham lam và sự xa hoa, sống theo đúng chức phận của mình. Đến Aristotle phân chia công lý thành “công lý sửa chửa/ công lý hiệu chỉnh” (có thể hiệu chỉnh do thỏa thuận) và “công lý phân phối” (cách thức phân chia thành quả sao cho công bằng với mỗi người dựa trên những gì họ xứng đáng được hưởng). Vì thế, công lý được xem là mục tiêu, giá trị quan trọng nhất để đảm bảo sự phân phối công bằng cho tất cả những ai xứng đáng với đóng góp của họ.

Đến thời hậu kỳ Trung Cổ, quan niệm về công lý tiếp tục được phát triển qua những góc nhìn sâu sắc của các triết gia Kitô giáo tiêu biểu như Thánh Augustino (354 – 430 TCN), Thomas Aquinas (1225 – 1274).  Aquinas cho rằng giá trị của công lý là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu lực của các đạo luật được thực thi, qua đó đề cao công lý tự nhiên trong việc đề những đòi hỏi chính đáng của con người hay cộng đồng nhằm được hưởng điều họ xứng đáng, đồng thời coi đó là chuẩn mực cao hơn pháp luật do con người đặt ra.

Tuy nhiên, dù đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn luận về quan niệm công chính từ các góc độ triết học, chính trị và đạo đức, song không ít nghiên cứu vẫn dừng lại ở việc mô tả khái niệm hoặc tách rời công chính khỏi cấu trúc linh hồn con người – yếu tố cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của Plato. Do đó, việc tiếp tục khảo sát sâu hơn quan niệm tư tưởng công chính trong Cộng hòa là cần thiết nhằm làm rõ logic nội tại của khái niệm này cũng như ý nghĩa nhân văn và giá trị bền vững của nó đối với việc nhận thức mối quan hệ giữa đạo đức cá nhân và trật tự xã hội.

Theo Một Học Thuyết Về Công Lý, John Rawls chỉ ra rằng:

Công lý là phẩm hạnh tiên quyết của các thiết chế xã hội, tương tự như vị trí của chân lý đối với các hệ thống tư tưởng. Trong một xã hội hợp công lý, các quyền tự do của công dân bình đẳng được xem là bất khả xâm phạm; những quyền được công lý bảo vệ không bao giờ chịu chi phối bởi vấn đề mặc cả chính trị (polictical bargaining) hoặc các tính toán lợi ích xã hội. (John Rawls, 1971, pp. 40-41).

Một số nguyên tắc chung về công lý trong xã hội được Rawls nhìn nhận trong Một lý thuyết về công lý như sau: Thứ nhất, mọi người đều chấp nhận và biết rằng người khác cững chấp nhận các nguyên tắc công lý giống mình; Thứ hai, các thiết chế nền tảng xã hội, trên phương diện tổng thể, có khả năng thỏa mãn được các nguyên tắc công lý và nhìn chung mọi người thừa nhận như vậy.

Như vậy, có thể hiểu rằng công lý là một phẩm hạnh, đồng thời cũng có thể được hiểu là sự cân bằng, công bằng giữa các bên liên quan dựa trên một số quy tắc, chuẩn mực xã hội, hoặc quy ước nhất định của một tập thể, cộng đồng nào đó thừa nhận và thực thi thông qua cơ chế của các thể chế hoặc luật lệ, pháp luật cụ thể. Công lý vì thế vừa là một khái niệm động có nội hàm rộng (được hiểu và diễn giải theo nhiều cách khác nhau), vừa phản ánh những đặc trưng về văn hóa, xã hội và nhận thức của con người trong từng lát cắt của thời đại.

2. Công lí trong cấu trúc ba bậc của linh hồn

Trong Cộng Hòa, Plato từng bước khám phá cấu trúc nội tại của linh hồn thông qua những phân tích tinh tế về các yếu tố tâm lý. Ở phần bàn về hai yếu tố của tâm trí, ông chỉ ra rằng mọi hành động của con người đều được điều khiển bởi hai lực cơ bản gồm lý trí và dục vọng, và một phần trung gian gian gọi là phẫn nộ.

Yếu tố thứ nhất, “khả năng của tâm trí thúc đẩy suy nghĩ một cách hợp lý” (Platon, 2025, p. 326), gọi là lý trí (logimos). The Luận lý học Đệ nhất A,B,C,D nhận định rằng lý trí tùy theo nghĩa rộng hẹp mà có nhiều định nghĩa khác nhau. Lý trí có thể được nhìn nhận như:

Là khả năng suy luận, dựa trên hệ thống các nguyên lý (nghĩa rất hẹp), có thể phân ra hai khía cạnh của lý trí: lý trí cấu tạo (rasion constiuante) bẩm sinh và lý trí được cấu tạo (rasion constiue) luyện tập thành, hoặc lý trí có thể được hiểu như là “khả năng nhận thức bằng tinh thần (trí khôn) ở nghĩa rộng, vừa bằng suy luận, vừa bằng trực giác, hoặc lý trí “là khả năng tìm mối tương quan giữa cá vật do giác quan nhận thức trong tri giác (nghĩa rất rộng). (Trần Văn Hiến Minh và Trần Đức Huynh, 1966, p. 16)

Lý trí theo nhận định trên có một số đặc tính hay nhu yếu như: hiển nhiên, xác thực, khả niệm (tìm hiểu được), phổ quát, tất yếu. Yếu tố này hướng con người đến sự suy nghĩ hợp lý, đúng đắn đóng vai trò như một yếu tố trở lực giúp phân biệt điều nên và điều không nên, có khả năng ngăn cản hành động. Plato gọi đây là “yếu tố ngăn cản”, bởi khi lý trí hoạt động, nó có “khả năng tính toán, quyết định” (Platon, 2025, p. 316), kiềm chế những xung đột bản năng. Đây là phần cao nhất của tâm trí có nhiệm vụ hướng linh hồn đến chân lý và điều thiện. Lý trí vì thế là nơi cư ngụ của tri thức, của sự phán đoán sáng suốt, là người cai trị trong linh hồn. 

Yếu tố thứ hai gọi là dục vọng (epithymia), là “ước muốn của thể xác và tâm linh” (Platon, 2025, p. 316), là “đồng minh của thỏa mãn vui thú, là do khả năng của tâm trí kích thích cảm thấy thèm muốn, đói khát và thường do ước muốn giục giã, khuấy động” (Platon, 2025, p. 326). Theo Plato nhìn nhận, đây là yếu tố bản năng tự nhiên và xảy ra khi “yếu tố lôi kéo, thôi thúc khi xuất hiện lo do cảm giác và thèm muốn không lành mạnh” (Platon, 2025, p. 326). Yếu tố này làm khơi dậy nguồn gốc của mọi ham muốn vật chất và khoái lạc, chẳng hạn như ăn, uống, hưởng thụ, đồng thời lôi kéo, thôi thúc, kích thích con người hành động theo cảm giác và ước muốn. Đây là phần thấp nhất gắn với bản năng và nhu cầu vật chất, cần được điều tiết, nếu không sẽ khiến linh hồn trở nên mất trật tự, hỗn loạn bởi khoái lạc và tham vọng. 

Tại giao điểm này, Plato mới chỉ xác định hai phần đối lập trong tâm trí: một phần kiềm chế (lý trí) và một phần thúc đẩy (dục vọng). Tuy nhiên, khi ông quan sát sâu hơn, Plato nhận ra rằng giữa hai lực ấy còn có một phần chuyển tiếp trung gian gọi là là phẫn nộ/ ý chí (thùmos). Plato nhận thấy rằng phẫn nộ (thùmos) không thể đồng nhất với dục vọng, bởi nó không hướng đến khoái lạc hay thỏa mãn bản năng. Như vậy, phẫn nộ không phải là mặt đối lập chống lại lý trí. Ngược lại, phẫn nộ xuất hiện khi lý trí bị xúc phạm, khi con người cảm thấy bất công, sai trái hoặc tổn thương danh dự. “Khi xảy ra mâu thuẫn trong tâm trí cái đó (phẫn nộ) bao giờ cũng cầm vũ khí đứng về phe với lý trí chiến đấu” (Tr.329). Đây là phần trung gian, mang sức mạnh của tinh thần và danh dự. Nó “đứng thẳng hiên ngang, cương quyết”, là nguồn năng lượng giúp con người đấu tranh, bảo vệ lý trí, chống lại những xung đột sai trái “phấn đấu đến hơi thở cuối cùng hoặc thắng lợi, tới lúc lý trí bên trong vẫy gọi, như mục phu réo gọi chó săn cừu, bảo bình tĩnh mới thôi” (Platon, 2025, p. 328).

Ba phần trên không tồn tại đứng yên mà luôn nằm trong quá trình vận động. Chúng không tách rời riêng lẻ, hoạt động độc lập mà có sự va chạm, tương tác liên tục. Khi lý trí lãnh đạo, phẫn nộ tuân phục lý trí, và dục vọng được điều chỉnh trong giới hạn cho phép. Khi đó, con người đạt đến sự cân đối, hài hòa nội tâm, đó chính là công chính (justice). Ngược lại, nếu dục vọng lấn át hoặc phẫn nộ không còn phục tùng lý trí, linh hồn sẽ rơi vào trạng thái hỗn loạn, con người mất đi khả năng tự chủ, đánh mất sự nhận thức, dẫn tới rối loạn hành vi. Với Plato, đời sống đạo đức là đời sống có trật tự, nơi mỗi phần của linh hồn làm đúng “chức năng” tự nhiên của nó, cũng như trong xã hội lý tưởng, mỗi giai tầng phải thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm và bổn phận của mình.  

Qua việc xác lập phẫn nộ như yếu tố thứ ba, Plato không chỉ phân tích cấu trúc tâm lý con người mà còn thể hiện một cái nhìn rất tinh tế về bản chất đạo đức của cảm xúc. Phẫn nộ/ ý chí (thùmos) không bị đánh đồng như là một cảm xúc tiêu cực, ngược lại, nó là năng lượng sở đắc của công lý, là “ngọn lửa” của tinh thần giúp lý trí duy trì quyền lãnh đạo. Đây là bước ngoặt trong triết học đạo đức của Plato, bởi ông cho rằng con người không chỉ cần biết điều thiện (lý trí), mà còn cần cảm nhận và bảo vệ điều thiện (phẫn nộ, ý chí). Chính phẫn nộ khiến lý trí trở nên sống động, giúp tri thức biến thành hành động đạo đức.

Như vậy, công lý theo Plato là nguyên tắc giữ cho ba yếu tố cấu thành bản ngã có thể hợp điệu, dung hòa. Cá nhân nào có năng lực dung hòa lẫn nhau giữa ba yếu tố được đặt dưới vòng kiểm soát an toàn của lý trí đã nói như trên thì cá nhân đó được gọi là tiết độ. Qua đó, chính cấu trúc ba tầng ấy đã phản ánh ngược trở lại niềm tin sâu sắc của ông rằng: con người chỉ thực sự trở nên công chính khi và chỉ khi có lý trí dẫn đường, có sự nâng đỡ của ý chí phò trợ, và cuối cùng, dục vọng được đặt dưới sự điều hòa của tri thức, đạo đức sáng suốt.

3. Công lý thể nghiệm qua quan niệm con người chức năng

Theo Plato, chức năng hoặc cũng có thể hiểu là phần việc, “chức năng của bất kể cái gì, là những gì có thể làm hoặc có thể làm tuyệt hảo chỉ với cái đó” hoặc “cái riêng nó có thể làm, hoặc là cái nó có thể làm tuyệt hảo hơn cái khác”. Plato đưa ra một số ví dụ gồm: “mắt” có chức năng để nhìn, “tai” có chứ năng để nghe, dụng cụ dao để “cắt cành nho” thay thế cho “dao khắc gỗ, dao gọt da hoặc dụng cụ khác” thì không bén, không cắt ngọt bằng dao tỉa cây (Platon, 2025, p. 131). Bất kỳ vật gì mang trong mình chức năng cũng có trạng thái tuyệt hảo, tức là tính chất đặc biệt, chỉ riêng sự vật hiện tượng đó mới có được. Trái lại, nếu vật không đạt trạng thái tuyệt hảo hoặc đặc biệt mà ở trạng thái khuyết tật, khiếm khuyết thì vật đó không thể thực hiện chức năng đúng cách. Từ những tính chất của sự vật, sự việc như vậy, con người lại càng vậy, Paton bắt đầu ứng chiếu trở lại mỗi cá nhân. Cá nhân sẽ công bình chính trực nếu thực sự mỗi phần trong cá nhân hoàn thành đúng đắn chức năng, nghĩa vụ của mình, và đồng thời “không can thiệp vào việc của người khác” (Platon, 2025, p. 321),khả năng của mỗi người lo việc của mình sẽ cạnh tranh quyết liệt với sáng suốt, tiết độ và can đảm” (Platon, 2025, p. 113).      

Mở rộng hơn, trong quan niệm con người chức năng, Plato có luận bàn rõ ràng hơn mối quan hệ giữa phẩm chất và hiểu biết ở “con người chức năng” có sự khác biệt với những hiểu biết thông thường. “Con người chức năng” theo Plato phải là những người có năng lực chuyên môn cao, có khả năng vươn xa, thao tác trong công việc phải trở nên tuyệt hảo, lành nghề. Điều đó theo Plato bắt nguồn từ hiểu biết đặc biệt, nó được coi như là một phẩm chất đặc biệt chỉ hiện diện ở người lành nghề. Theo Plato nhận định, chính hiểu biết đặc biệt này sẽ dẫn đến sự việc đặc biệt. Plato đang phân biệt hai cấp độ của nhận thức: 

Có hai loại sự việc có bản chất tương liên: có sự việc chỉ là chính nó và liên quan tới sự vật chỉ là chính nó; có sự việc sở đắc phẩm chất đặc biệt và liên quan tới sự vật phẩm chất đặc biệt. (Platon, 2025, p. 324)

Như vậy, đối tượng của hiểu biết là đối tượng thuộc loại “đối tượng đặc biệt”. Nhận thức thông thường, chỉ dừng lại ở mức cảm tính, phản ứng trực tiếp với sự vật, ông ví như “khát thì uống”. “Người khát” chỉ hành động theo bản năng, nhu cầu tự nhiên. Plato đã chỉ ra rằng không phải mọi hiểu biết đều giống nhau, có loại hiểu biết chỉ nắm bắt hiện tượng và có loại hiểu biết hướng đến bản chất – tức là hiểu biết đặc biệt. Nhận thức đặc biệt, đối lập với nhận thức thông thường, nó vượt lên trên những phản ứng bản năng hướng đến hiểu biết nội tại, bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng, nắm bắt cái phổ quát. Chẳng hạn “sức khỏe và bệnh tật” là đối tượng đặc biệt thì “hiểu biết y khoa” là hiểu biết đặc biệt. Để minh chứng cho lập luận ấy, Plato nêu ví dụ về “khát” và “cưỡng lại khát”. Khi một người cảm thấy khát và muốn uống, đó là phản ứng tự nhiên của bản năng và dục vọng, thế nhưng khi người ấy có thể “cưỡng lại khát”, tiết chế và kiềm chế cơn khát, thì rõ ràng trong họ tồn tại một năng lực khác – năng lực kiểm soát của lý trí. Từ hiện tượng tưởng chừng giản dị đó, Plato rút ra kết luận rằng linh hồn con người không phải là một thể thống nhất thuần túy, đứng yên mà gồm nhiều phần khác nhau đang xen và vận động không ngừng, đôi khi chúng đối lập lẫn nhau. Chính sự đối lập này khiến Plato khẳng định rằng linh hồn không thể chỉ là một thực thể đồng nhất, bởi “một vật không thể cùng một lúc tác động theo hai chiều đối nghịch lên cùng một phần của chính nó” (Platon, 2025, p. 325).

Như vậy, công chính không phải là hành động đơn lẻ mà là trật tự hài hòa, cả trong nội tâm và trong cơ cấu xã hội. Ở trung tâm của trật tự ấy là tri thức, là hiểu biết đặc biệt, thứ tri thức chân chính có khả năng soi sáng và định hướng hành động con người. Hiểu biết đặc biệt suy đến cùng chính là năng lực của lý trí hướng tới chân lý, soi sáng cho toàn bộ đời sống đạo đức và chính trị. Người có tri thức đúng đắn sẽ biết tiết chế, điều hòa các khuynh hướng đối nghịch trong nội tâm, từ đó sống công chính. Ngược lại, kẻ thiếu hiểu biết chỉ hành động sẽ dễ dàng bị dục vọng dẫn dắt, đánh mất trật tự tinh thần nội tâm.

Người hiểu biết chân thật mới có thể sống công chính, và chỉ trong tâm hồn công chính, tri thức mới được soi sáng bởi cái thiện. Người công chính luôn là người biết, và người biết chính là người đang sống trong ánh sáng của chân lý. Ở đó, tri thức không đơn thuần là phương tiện nhận thức thế giới mà còn là năng lực đạo đức giúp con người trở về với bản thể sáng suốt của mình. Khi con người đạt tới trật tự nội tâm và khi lý trí được soi sáng bởi tri thức chân thật, con người đạt tới đời sống công chính, sống trong ánh sáng của cái thiện. Plato khẳng định rằng tri thức và đạo đức là hai mặt không thể tách rời:

Đạo đức của con người là trạng thái tâm lý giúp con người trở thành người tốt, đồng thời giúp con người làm việc tốt. Phẩm chất đó sẽ giúp con người sống tốt vì sống là chức năng của tâm hồn, và sống tốt là sung sướng.  (Platon, 2025, p. 130)

4. Mối quan hệ giữa công lý, lý trí và con người chức năng

Khi lý trí nắm quyền kiểm soát và dẫn lối hành hộng của con người, đồng thời nếu cá nhân biết đảm nhận chức năng, chức phận đúng với vị trí thực hành của mình trong trạng thái năng lực chuyên môn cao nhất (tuyệt hảo, vươn xa), thì khi đó công lý được duy trì và bảo toàn. Trật tự xã hội cũng vì thế mà đạt tới sự ổn định nội tại. Đây cũng là điểm cho thấy sự gắn kết, giao thoa giữa công lý, lý trí và con người chức năng. Lý trí không chỉ đóng vai trò bảo đảm cá nhân sở đắc khả năng tự kiểm soát như một sự điều hòa tự thân giữa các phần trong tâm trí” qua đó giúp đưa ra những quyết định minh mẫn, lựa chọn đúng đắn mà còn là điều kiện ấn định chức năng của chính mình ở các nhóm trong xã hội. Bởi lẽ, khi cá nhân hành động đúng vị trí chuyên môn (con người chức năng), nghĩa là phát huy tối đa năng lực tự thân mà không xâm phạm chức phận của người khác thì sự hài hòa giữa các vai trò xã hội được cân bằng, xã hội tiếp tục tồn tại tự thân nó. Nói cách khác, công lý khởi phát khi và chỉ khi lý trí cầm quyền, lý trí hiện diện và ngự trị ở tầng cao nhất trong tâm trí, đồng thời mỗi cá nhân phải hành động phù hợp, tương ứng với vị trí mà cấu trúc xã hội công bằng đòi hỏi ở họ. Có thể nói rằng, công lý do đó không xuất hiện một cách tự phát, ngẫu hứng mà được tạo lập nhờ sự điều phối, cộng gộp, hỗ trợ tương hỗ giữa các năng lực cá nhân trong một cấu trúc xã hội đạt đến trạng thái hài hòa.

Nếu như Rawls cho rằng trật tự công bằng được duy trì khi các cá nhân tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc công lý đã được lựa chọn gay lúc ban đầu trong Vị thế khởi nguyên. Khi mỗi người hành động theo các nguyên tắc trên, dường như tương tự như việc cá nhân thực hành theo đúng chức năng, chức phận vốn có ở quan điểm của Plato. Như vậy, trong cả hai hệ thống, nếu theo quan điểm của Rawls có nguyên tắc, có hành động, khi có hành động thì có thể truy xuất nguồn đích, nhìn về cơ sở tham chiếu để so sánh với những quy ước chung, những nguyên tắc đã xác lập. Kết quả là, nguyên tắc trở thành động lực chi phối, can thiệp ngược trở lại hành động. Ở Plato, sự tự tri, hiệu chỉnh tự thân của lý trí và chức năng kéo theo sự chi phối, tác động trong nhóm xã hội. Song, suy tới cùng, vai trò thực thi đúng năng lực ở cả hai dường như đều trở thành điều kiện trung gian để công lý được giữ gìn. Vì công lý chỉ được duy trì khi trật tự lý tính được giữ vững, mà trật tự ấy lại phụ thuộc vào việc từng cá nhân lựa chọn hành động chuẩn xác theo chức năng của chính mình, do đó việc thực thi đúng năng lực trở thành mắc xích chuyển tác giữa lý trí và công lý, nhằm ngăn ngừa sự xen lấn vai trò, tập trung quyền lực, trả lại vị thế cân bằng trong xã hội.

5. Kết Luận

Từ cách tiếp cận mang tính cấu trúc, có thể thấy rằng, quan niệm công chính của Plato không đặt con người trong tư cách một bản thể thống nhất mà là một thực thể phức hợp, nơi các bộ phận của linh hồn vừa phối hợp vừa xung đột, đan xen và khắc chế lẫn nhau. Chính trong cấu trúc nội tại đó, công chính được hiểu như trạng thái hài hòa khi và chỉ khi mỗi phần của linh hồn thực hiện đúng vai trò, chức năng của riêng mình. Do đó, việc khảo sát quan niệm công chính của Plato vì thế mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nó cho phép vén mở những giá trị tiềm ẩn, kín đáo trong bản chất con người, đồng thời đem lại khả năng nhìn nhận con người từ nhiều chiều kích khác nhau. Con người chỉ thực sự đạt tới trạng thái đúng đắn và tỉnh táo khi lý trí giữ vai trò dẫn dắt, dục vọng được tiết chế, còn phẫn nộ trở thành lực lượng trung gian như một tiếng chuông cảnh tỉnh lương tri mỗi khi dục vọng trỗi dậy và có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát. Trong Cộng hòa, công chính vì thế không chỉ dừng lại ở một phạm trù chính trị – xã hội mà còn là nguyên tắc đạo đức nền tảng chi phối sự hoàn thiện nhân cách con người.

Tài liệu tham khảo

Hoàng Thị Bích Ngọc. (2019). Lịch Sử Tư Tưởng về công lý và Quan Điểm Về Công Lý Của Nhà Triết Học John Rawls. Khoa học Kiểm Sát, 61.

Nguyễn Thế Anh. (2019). Quyền Tiếp Cận Công Lý Ở Việt Nam Hiện Nay. https://luanvanthamkhao.com/luan-van-quyen-tiep-can-cong-ly-o-viet-nam-hien-nay-1493/

Platon. (2025). Cộng Hòa (Đỗ Khánh Hoan dịch, Trans.). NXB Thế Giới.

John Rawls. (1971). Một Lý Thuyết Về Công Lý. NXB Tri Thức.

Trần Văn Hiến Minh và Trần Đức Huynh. (1966). Luận Lý Học Đệ Nhất A,B,C,D. NXB Ra Khơi.

 

 

Tiêu điểm
Tiêu điểm
18/03/2026 58

Đồng chí Trần Đăng Quỳnh giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình

Chiều 16/3, Tỉnh ủy Ninh Bình tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ, chỉ định đồng chí Trần Đăng Quỳnh giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình nhiệm kỳ 2025–2030. Dự hội nghị có các đồng chí lãnh đạo Trung ương: Hoàng Trung Dũng, Nguyễn Thị Thu Hà, Đặng Hồng Đức; cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trần Huy Tuấn và các Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, đại diện các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị.
10/03/2026 80

Samsung Galaxy S26 phù hợp với ai? Những nhóm người dùng nên cân nhắc

Samsung Galaxy S26 là thế hệ smartphone cao cấp tiếp theo trong dòng Galaxy S của Samsung. Với những cải tiến về hiệu năng, camera, màn hình và các tính năng thông minh, thiết bị hướng đến việc mang lại trải nghiệm toàn diện cho người dùng hiện đại.
Xem tất cả
18/03/2026 58
Chiều 16/3, Tỉnh ủy Ninh Bình tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác cán bộ, chỉ định đồng chí Trần Đăng Quỳnh giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình nhiệm kỳ 2025–2030. Dự hội nghị có các đồng chí lãnh đạo Trung ương: Hoàng Trung Dũng, Nguyễn Thị Thu Hà, Đặng Hồng Đức; cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trần Huy Tuấn và các Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, đại diện các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị.
Xem chi tiết
10/03/2026 80
Samsung Galaxy S26 là thế hệ smartphone cao cấp tiếp theo trong dòng Galaxy S của Samsung. Với những cải tiến về hiệu năng, camera, màn hình và các tính năng thông minh, thiết bị hướng đến việc mang lại trải nghiệm toàn diện cho người dùng hiện đại.
Xem chi tiết
26/02/2026 115
Từ ngày 26/2/2026, du khách tham quan và hành hương tại 4 di tích lớn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa sẽ được miễn phí hoàn toàn dịch vụ trông giữ phương tiện, theo thông báo chính thức của Ban Quản lý di sản Thành nhà Hồ và các di tích trọng điểm tỉnh.
Xem chi tiết
26/02/2026 246
Từ 0h ngày mùng 9 tháng Giêng năm 2026, hàng nghìn người dân và du khách thập phương đã có mặt tại Đền Nưa – Am Tiên để dự nghi thức “mở cổng trời” – một trong những hoạt động tâm linh đặc sắc đầu năm tại Thanh Hóa. Không khí linh thiêng, trầm mặc giữa đỉnh ngàn Nưa hòa cùng sắc xuân tạo nên bức tranh du xuân đầy ấn tượng.
Xem chi tiết
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả