Hoàng Thanh Hương
Giảng viên Khoa Khoa học xã hội và nhân văn,
Trường Sĩ quan Pháo binh
Tóm tắt
Bài viết phân tích vai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn trong các nhà trường Quân đội đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay. Trên cơ sở làm rõ những yêu cầu mới đặt ra, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân; đồng thời đề xuất một số mô hình, cách làm sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, đấu tranh tư tưởng của đội ngũ giảng viên, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Từ khóa: Giảng viên; khoa học xã hội và nhân văn; nhà trường Quân đội; nền tảng tư tưởng; đấu tranh phản bác
Abstract
The article analyzes the particularly important role of the faculty teaching social sciences and humanities in military schools regarding the task of protecting the ideological foundation of the Party in the current context. Based on clarifying the new requirements, the article assesses the current situation, points out limitations and causes; at the same time, it proposes some innovative models and approaches to improve the quality and effectiveness of teaching, research, and ideological struggle of the faculty, contributing to maintaining the ideological stronghold of the Party in the Army.
Keywords: Lecturer; Faculty of Social Sciences and Humanities; Military School; ideological foundation; struggle to oppose
1. Đặt vấn đề
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng, chế độ và con đường phát triển của đất nước. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là “nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân” [1, tr. 2]. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhiệm vụ này càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi Quân đội là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Trong hệ thống các chủ thể thực hiện nhiệm vụ này, đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường Quân đội giữ vị trí then chốt. Đây là lực lượng trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.
Thực tiễn cho thấy, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng xã hội, các thế lực thù địch gia tăng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta bằng nhiều phương thức tinh vi, phức tạp, nhất là trên không gian mạng. Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, mỗi năm có hàng chục nghìn tin, bài có nội dung sai trái, xuyên tạc bị phát hiện, xử lý; riêng năm 2023 đã phát hiện và ngăn chặn hơn 30.000 nội dung xấu độc trên không gian mạng [2, tr. 45]. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong các nhà trường Quân đội.
2. Vai trò của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
2.1. Chủ thể trực tiếp truyền bá, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng
Đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn là lực lượng trực tiếp giảng dạy các môn lý luận chính trị như Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối quốc phòng, an ninh… Qua đó, họ góp phần hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, bản lĩnh chính trị cho học viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [3, tr. 234]. Điều này khẳng định vai trò của lý luận trong định hướng nhận thức và hành động. Trong Quân đội, nếu cán bộ, học viên không được trang bị vững chắc nền tảng lý luận thì rất dễ dao động trước những thông tin sai trái, thù địch.
Do đó, giảng viên không chỉ là người truyền đạt tri thức mà còn là “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, góp phần bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ trong giảng đường.
2.2. Lực lượng nòng cốt trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong đấu tranh phản bác.
Với nền tảng tri thức lý luận sâu sắc, khả năng phân tích, lập luận chặt chẽ, giảng viên có điều kiện trực tiếp tham gia viết bài, nghiên cứu khoa học, tham gia các diễn đàn lý luận, qua đó góp phần vạch trần bản chất sai trái của các quan điểm thù địch.
Theo thống kê của Tổng cục Chính trị, trong giai đoạn 2018-2023, đội ngũ cán bộ, giảng viên lý luận chính trị trong Quân đội đã tham gia viết hơn 15.000 bài báo, chuyên đề đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng và tạp chí chuyên ngành [4, tr.78]. Đây là lực lượng chủ lực trong “mặt trận không tiếng súng” nhưng vô cùng quyết liệt.
2.3. Nhân tố quyết định xây dựng “thế trận lòng dân” trong Quân đội
Một trong những nội dung quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là xây dựng niềm tin, sự đồng thuận, thống nhất trong nhận thức và hành động. Điều này gắn liền với việc xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
Giảng viên khoa học xã hội và nhân văn thông qua giảng dạy, giáo dục chính trị tư tưởng, góp phần củng cố niềm tin của học viên đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Khi niềm tin được củng cố, các quan điểm sai trái, thù địch sẽ khó có điều kiện xâm nhập, tác động.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: phải “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” [5, tr.182]. Đội ngũ giảng viên chính là lực lượng trực tiếp hiện thực hóa yêu cầu này trong môi trường đào tạo quân sự.
2.4. Cầu nối giữa lý luận và thực tiễn trong công tác giáo dục, đào tạo
Một đặc trưng quan trọng của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội là gắn lý luận với thực tiễn quân sự. Họ không chỉ giảng dạy mà còn tham gia nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tham gia các hoạt động chính trị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.
Điều này giúp nội dung giảng dạy trở nên sinh động, thuyết phục, có tính thực tiễn cao, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng.
Thực tế tại một số học viện, nhà trường như Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Pháo binh cho thấy, những giảng viên có kinh nghiệm thực tiễn thường có chất lượng giảng dạy cao hơn, khả năng đấu tranh tư tưởng sắc bén hơn, được học viên tin tưởng, đánh giá cao [6, tr.112].
3. Thực trạng phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong các nhà trường Quân đội
3.1. Những kết quả đạt được
Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường Quân đội đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong các nhà trường Quân đội đã đáp ứng chuẩn chung về chuyên môn và yêu cầu cao hơn so với giảng viên các chuyên ngành khác. Theo đó, giảng viên khoa học xã hội và nhân văn thường xuyên nâng cao trình độ lý luận chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời không ngừng hoàn thiện trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm theo hướng hiện đại, linh hoạt. Bên cạnh đó, đã rèn luyện về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm và tính nêu gương ở mức cao, bảo đảm vừa “hồng” vừa “chuyên”, đáp ứng tốt nhiệm vụ giáo dục, đào tạo và đấu tranh tư tưởng trong tình hình mới.
Theo số liệu của Cục Nhà trường (Bộ Quốc phòng), đến năm 2024, toàn quân có trên 4.500 giảng viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn; trong đó, tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học đạt trên 85%, tiến sĩ chiếm khoảng 18% [7, tr.39]. Đây là nguồn lực quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và đấu tranh tư tưởng.
Công tác giảng dạy lý luận chính trị ngày càng được đổi mới theo hướng hiện đại, gắn với thực tiễn, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Nhiều nhà trường đã triển khai mô hình “lớp học số”, “bài giảng điện tử tương tác”, giúp nâng cao hiệu quả tiếp thu của học viên.
Đồng thời, hoạt động nghiên cứu khoa học, viết bài đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được đẩy mạnh. Nhiều giảng viên đã trở thành cộng tác viên tích cực của các báo, tạp chí như Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Tạp chí Cộng sản, Báo Quân đội nhân dân…
3.2. Một số hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn vẫn còn một số hạn chế:
Thứ nhất, một bộ phận giảng viên còn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết, thiếu tính thực tiễn, chưa gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ hai, năng lực đấu tranh trên không gian mạng của một số giảng viên còn hạn chế. Trong khi đó, đây là “mặt trận nóng” hiện nay.
Thứ ba, số lượng bài viết có chất lượng cao, có sức lan tỏa lớn trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn chưa tương xứng với tiềm năng.
Thứ tư, cơ chế, chính sách khuyến khích giảng viên tham gia đấu tranh tư tưởng chưa thật sự mạnh, chưa tạo được động lực lâu dài.
3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Về khách quan, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp; các thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, khó nhận diện.
Về chủ quan, một số giảng viên chưa thực sự chủ động tự học, tự nghiên cứu; chưa cập nhật kịp thời các vấn đề mới. Công tác bồi dưỡng, tập huấn về đấu tranh tư tưởng, kỹ năng truyền thông số còn hạn chế.
4. Giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, các thế lực thù địch gia tăng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, đặc biệt trên không gian mạng, việc phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường Quân đội đặt ra yêu cầu ngày càng cao, toàn diện và cấp thiết hơn. Thực tiễn cho thấy, nhiệm vụ này không thể thực hiện đơn lẻ mà cần được triển khai đồng bộ, có hệ thống, gắn kết chặt chẽ giữa các yếu tố con người, nội dung, phương pháp, cơ chế và môi trường. Đồng thời, phải kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ thường xuyên, trực tiếp và cấp bách.
4.1. Nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực toàn diện cho đội ngũ giảng viên
Đây là giải pháp mang tính nền tảng, quyết định trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong các nhà trường Quân đội. Trong điều kiện hiện nay, khi các quan điểm sai trái, thù địch không ngừng biến đổi cả về nội dung và phương thức biểu hiện, yêu cầu đối với giảng viên không chỉ dừng lại ở việc “nắm vững” mà còn phải “làm chủ” lý luận.
Trước hết, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị và các kết luận mới liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc quán triệt không chỉ dừng ở nhận thức mà phải chuyển hóa thành niềm tin, thành bản lĩnh chính trị vững vàng, giúp giảng viên kiên định trước mọi luận điệu xuyên tạc, sai trái.
Bên cạnh đó, cần chú trọng bồi dưỡng năng lực tư duy lý luận, năng lực phân tích và phản biện khoa học. Trong đấu tranh tư tưởng, lý luận chính là “vũ khí sắc bén”, giúp giảng viên không chỉ nhận diện đúng bản chất vấn đề mà còn có khả năng lý giải, phản bác một cách thuyết phục, có cơ sở khoa học. Điều này đòi hỏi giảng viên phải thường xuyên nghiên cứu, cập nhật tri thức mới, nhất là những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra.
Một yêu cầu mới nổi lên hiện nay là năng lực số. Trong bối cảnh không gian mạng trở thành “mặt trận nóng”, giảng viên cần được trang bị kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, kỹ năng truyền thông số, kỹ năng viết và lan tỏa thông tin trên các nền tảng trực tuyến. Nếu không làm chủ được môi trường số, việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ gặp nhiều hạn chế. Thực tế khảo sát cho thấy, chỉ khoảng 60% giảng viên thường xuyên tham gia các hoạt động trên nền tảng số [8, tr.67], điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực này trong thời gian tới.
4.2. Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, gắn lý luận với thực tiễn
Một trong những hạn chế phổ biến hiện nay là tình trạng giảng dạy lý luận còn nặng về truyền thụ kiến thức, thiếu tính thực tiễn và sức hấp dẫn. Điều này làm giảm hiệu quả giáo dục, đồng thời làm suy giảm “sức đề kháng” của học viên trước các quan điểm sai trái.
Do đó, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, lấy người học làm trung tâm. Giảng viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà phải tổ chức, định hướng cho học viên tham gia vào quá trình nhận thức, thông qua thảo luận, tranh luận, xử lý tình huống.
Đặc biệt, cần đưa các vấn đề thực tiễn, các luận điệu xuyên tạc phổ biến trên mạng xã hội vào bài giảng. Việc “đưa thực tiễn vào giảng đường” giúp học viên trực tiếp đối diện, phân tích và phản bác các quan điểm sai trái dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Qua đó, hình thành “miễn dịch tư tưởng”, giúp học viên có khả năng tự bảo vệ mình trước thông tin xấu độc.
Thực tế cho thấy, mô hình “giờ học phản biện” đã được triển khai hiệu quả ở một số nhà trường, giúp nâng cao rõ rệt sự hứng thú học tập và khả năng vận dụng kiến thức của học viên [6, tr.118]. Đây là hướng đi cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện và nhân rộng.
4.3. Xây dựng và nhân rộng các mô hình sáng tạo trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong điều kiện mới, việc phát huy vai trò của giảng viên không thể chỉ dựa vào các phương thức truyền thống mà cần có những mô hình sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn.
Trước hết, mô hình “Giảng viên 3 trong 1” cần được triển khai rộng rãi. Theo đó, mỗi giảng viên không chỉ thực hiện nhiệm vụ giảng dạy mà còn phải tích cực tham gia nghiên cứu khoa học và trực tiếp đấu tranh trên không gian mạng. Sự kết hợp này tạo nên sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa nhận thức và hành động, góp phần nâng cao hiệu quả tổng thể.
Tiếp đó, mô hình “Lớp học lý luận số hóa” là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số. Việc xây dựng hệ sinh thái học tập số với các bài giảng điện tử, diễn đàn trực tuyến và kho dữ liệu phản bác giúp mở rộng không gian học tập và đấu tranh tư tưởng, vượt ra khỏi giới hạn của giảng đường truyền thống.
Một mô hình quan trọng khác là “Tổ giảng viên nòng cốt đấu tranh tư tưởng”. Việc tổ chức các nhóm chuyên sâu theo lĩnh vực giúp nâng cao tính chuyên nghiệp, tính kịp thời và hiệu quả của hoạt động đấu tranh. Thực tiễn cho thấy, các tổ chuyên trách có thể nâng cao số lượng và chất lượng bài viết đấu tranh tư tưởng từ 1,5 đến 2 lần [4, tr.82].
Ngoài ra, mô hình “Kết nối giảng viên - học viên - thực tiễn đơn vị” cũng cần được chú trọng. Thông qua các hoạt động thực tế, tọa đàm, diễn đàn chính trị, giảng viên có điều kiện cập nhật thực tiễn, còn học viên được rèn luyện bản lĩnh chính trị trong môi trường thực tế. Đây là yếu tố quan trọng giúp nâng cao tính thuyết phục của công tác giáo dục lý luận.
4.4. Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn
Nghiên cứu khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển lý luận và cung cấp luận cứ khoa học cho đấu tranh tư tưởng. Trong điều kiện hiện nay, các quan điểm sai trái thường được ngụy trang dưới dạng “lý luận mới”, “quan điểm khoa học”, do đó việc phản bác đòi hỏi phải có cơ sở khoa học vững chắc.
Do đó, cần định hướng hoạt động nghiên cứu vào các vấn đề trọng tâm như: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số; nhận diện các thủ đoạn chống phá mới; xây dựng hệ thống luận cứ phản bác có tính hệ thống và thuyết phục.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn từ các đơn vị trong toàn quân. Thực tiễn là nguồn bổ sung quan trọng cho lý luận, đồng thời giúp lý luận trở nên sống động, có sức thuyết phục cao hơn. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn sẽ tạo nền tảng vững chắc cho công tác đấu tranh tư tưởng.
4.5. Hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho đội ngũ giảng viên
Một trong những yếu tố quan trọng để phát huy vai trò của giảng viên là cơ chế, chính sách. Nếu không có cơ chế phù hợp, việc tham gia đấu tranh tư tưởng sẽ khó duy trì bền vững.
Do đó, cần xây dựng các chính sách khuyến khích cụ thể đối với giảng viên tham gia viết bài chính luận, nghiên cứu khoa học, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Đồng thời, cần đưa tiêu chí này vào hệ thống đánh giá thi đua, khen thưởng, coi đây là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng giảng viên.
Ngoài ra, cần tạo điều kiện về thời gian, kinh phí, tài liệu để giảng viên có thể tham gia nghiên cứu một cách hiệu quả. Thực tế cho thấy, ở những đơn vị có cơ chế khuyến khích phù hợp, số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu, bài viết chính luận đều tăng lên rõ rệt [7, tr.42].
4.6. Xây dựng môi trường văn hóa học thuật lành mạnh trong các nhà trường Quân đội
Môi trường học thuật có vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy khoa học và bản lĩnh chính trị của giảng viên và học viên. Một môi trường học thuật lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, tranh luận, phát triển tư duy phản biện.
Do đó, cần xây dựng không khí học thuật dân chủ, cởi mở nhưng có định hướng rõ ràng. Khuyến khích các diễn đàn học thuật, các buổi tọa đàm, hội thảo khoa học để giảng viên và học viên có cơ hội trao đổi, chia sẻ và tranh luận.
Đặc biệt, cần hình thành văn hóa tranh luận khoa học, trong đó đề cao lý lẽ, bằng chứng, tôn trọng sự khác biệt nhưng kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái. Đây chính là môi trường rèn luyện hiệu quả để giảng viên và học viên nâng cao năng lực nhận diện và phản bác các quan điểm thù địch.
5. Kiến nghị
Để phát huy cao nhất vai trò của đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn trong các nhà trường Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần triển khai đồng bộ các giải pháp ở nhiều cấp độ, bảo đảm sự thống nhất giữa lãnh đạo, chỉ đạo với tổ chức thực hiện; giữa xây dựng đội ngũ với hoàn thiện cơ chế, chính sách; giữa đổi mới nội dung, phương pháp với tạo dựng môi trường học thuật lành mạnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị chủ yếu sau:
5.1. Đối với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội theo hướng đồng bộ, thống nhất, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Việc cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng phải gắn chặt với nhiệm vụ xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh yếu tố vững mạnh về chính trị, tư tưởng.
Cùng với đó, cần xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn một cách dài hạn, có tầm nhìn chiến lược. Chiến lược này phải hướng tới chuẩn hóa về trình độ, hiện đại hóa về phương pháp, đồng thời bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa các chuyên ngành, giữa các thế hệ, nhằm duy trì tính kế thừa và phát triển bền vững. Việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cần được thực hiện một cách khoa học, gắn với yêu cầu thực tiễn của từng loại hình nhà trường.
Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư nguồn lực cho các nhà trường Quân đội, nhất là hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ chuyển đổi số. Trong bối cảnh không gian mạng trở thành một “mặt trận” quan trọng, việc trang bị đầy đủ các điều kiện kỹ thuật sẽ tạo tiền đề để giảng viên phát huy hiệu quả vai trò của mình trong giảng dạy và đấu tranh tư tưởng.
Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ theo hướng tạo động lực mạnh mẽ cho đội ngũ giảng viên. Việc khuyến khích tham gia nghiên cứu khoa học, viết bài chính luận, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cần được thể chế hóa bằng các tiêu chí cụ thể trong đánh giá, xếp loại, thi đua, khen thưởng. Qua đó, tạo môi trường thuận lợi để giảng viên yên tâm công tác, cống hiến lâu dài.
5.2. Đối với Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng
Cần tăng cường vai trò chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra việc triển khai Nghị quyết số 35-NQ/TW trong các nhà trường Quân đội, bảo đảm việc thực hiện đi vào thực chất, tránh hình thức. Công tác kiểm tra, giám sát cần được tiến hành thường xuyên, kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập để có biện pháp điều chỉnh phù hợp.
Một nội dung quan trọng là tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu nhằm nâng cao kỹ năng đấu tranh tư tưởng cho đội ngũ giảng viên. Nội dung tập huấn không chỉ dừng ở lý luận mà cần chú trọng kỹ năng thực hành như phân tích thông tin, phản bác luận điệu sai trái, sử dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông số.
Đồng thời, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung về các quan điểm sai trái, thù địch và các luận cứ phản bác khoa học. Đây sẽ là công cụ hỗ trợ thiết thực giúp giảng viên tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả và tính thống nhất trong đấu tranh tư tưởng.
Ngoài ra, việc phát triển mạng lưới cộng tác viên là giảng viên lý luận chính trị trong toàn quân cũng cần được quan tâm. Mạng lưới này sẽ tạo thành lực lượng nòng cốt, có khả năng phối hợp, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp trên mặt trận tư tưởng.
5.3. Đối với các nhà trường Quân đội
Các nhà trường cần chủ động cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành chương trình, kế hoạch hành động sát với thực tiễn của đơn vị. Việc triển khai cần có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, bảo đảm hiệu quả thiết thực.
Đồng thời, cần đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn theo hướng hiện đại, gắn lý luận với thực tiễn. Việc đưa các vấn đề thực tiễn, các tình huống cụ thể vào bài giảng sẽ giúp nâng cao tính thuyết phục, đồng thời rèn luyện khả năng tư duy phản biện cho học viên.
Các nhà trường cũng cần chú trọng xây dựng và nhân rộng các mô hình sáng tạo như “Giảng viên 3 trong 1”, “Lớp học lý luận số hóa”, “Tổ giảng viên nòng cốt”. Đây là những mô hình có khả năng tạo ra sự chuyển biến rõ nét trong việc phát huy vai trò của giảng viên.
Bên cạnh đó, cần tạo dựng môi trường học thuật dân chủ, lành mạnh, khuyến khích giảng viên và học viên tham gia nghiên cứu khoa học, trao đổi, tranh luận. Môi trường này không chỉ giúp nâng cao chất lượng đào tạo mà còn góp phần hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng.
5.4. Đối với đội ngũ giảng viên
Mỗi giảng viên cần nhận thức sâu sắc vai trò, trách nhiệm của mình trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước hết, phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn. Đây là yếu tố cốt lõi bảo đảm cho giảng viên đứng vững trước mọi tác động tiêu cực.
Cùng với đó, cần chủ động cập nhật kiến thức mới, nắm bắt tình hình thực tiễn, đặc biệt là trên không gian mạng. Việc hiểu rõ các phương thức, thủ đoạn chống phá sẽ giúp giảng viên nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phản bác.
Giảng viên cũng cần tích cực tham gia viết bài, nghiên cứu khoa học, đóng góp vào việc xây dựng hệ thống luận cứ khoa học bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là cơ hội để khẳng định vai trò, vị thế của mình.
Cuối cùng, cần không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng truyền đạt, tạo sức hấp dẫn, thuyết phục đối với học viên. Khi bài giảng có sức lan tỏa, thấm sâu vào nhận thức, tình cảm của người học, thì đó chính là cách hiệu quả nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ “gốc”.
6. Kết luận
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhiệm vụ này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, gắn liền với việc giữ vững bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội ta.
Đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn ở các nhà trường Quân đội chính là lực lượng nòng cốt, trực tiếp góp phần thực hiện nhiệm vụ này. Với vai trò vừa là nhà giáo, vừa là nhà khoa học, vừa là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, đội ngũ này giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc truyền bá, bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong bối cảnh mới, trước những thách thức ngày càng phức tạp của các thế lực thù địch, việc phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên cần được thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ, sáng tạo. Đó không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhiệm vụ lâu dài, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân.
Như Tổng Bí thư đã khẳng định: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ “linh hồn”, “sự sống còn” của chế độ [9, tr.5]. Do đó, phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn chính là góp phần trực tiếp bảo vệ sự tồn vong và phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ mới.
Chú thích:
[1]. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Hà Nội.
[2]. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023), Báo cáo công tác quản lý thông tin trên không gian mạng, Hà Nội.
[3]. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[4]. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (2023), Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội giai đoạn 2018-2023, Hà Nội.
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[6]. Học viện Chính trị (2022), Kỷ yếu hội thảo khoa học về đổi mới giảng dạy lý luận chính trị trong Quân đội, Hà Nội.
[7]. Cục Nhà trường - Bộ Quốc phòng (2024), Báo cáo về đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội, Hà Nội.
[8]. Học viện Chính trị (2023), Báo cáo khảo sát năng lực giảng viên lý luận chính trị trong Quân đội, Hà Nội.
[9]. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[10]. Ban Tuyên giáo Trung ương (2023), Tài liệu bồi dưỡng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2023), Tài liệu bồi dưỡng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Hà Nội.
3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023), Báo cáo công tác quản lý thông tin trên không gian mạng, Hà Nội.
4. Cục Nhà trường - Bộ Quốc phòng (2024), Báo cáo về đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Quân đội, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
7. Học viện Chính trị (2022), Kỷ yếu hội thảo khoa học về đổi mới giảng dạy lý luận chính trị trong Quân đội, Hà Nội.
8. Học viện Chính trị (2023), Báo cáo khảo sát năng lực giảng viên lý luận chính trị trong Quân đội, Hà Nội.
9. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
10. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (2023), Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội giai đoạn 2018-2023, Hà Nội.