ThS. Đào Hoa Tươi
Khoa Chuyên môn kỹ thuật,
Trường Quân sự, Quân đoàn 34.
Email:daohongtuoi16@gmai.com
Tóm tắt
Đô thị hóa nhanh ở Việt Nam đang làm biến đổi sâu sắc cấu trúc sinh kế xã hội, trong đó phụ nữ là nhóm chịu nhiều tác động và dễ tổn thương. Bài viết tập trung phân tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong không gian đô thị, làm rõ các thách thức và cơ hội đối với sinh kế của họ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất những định hướng thúc đẩy sinh kế bền vững cho phụ nữ. Kết quả góp phần bổ sung luận cứ khoa học cho phát triển đô thị bao trùm và công bằng xã hội.
Từ khóa: Phụ nữ, sinh kế bền vững, đô thị hóa, bình đẳng giới, phát triển xã hội.
Abstract
Rapid urbanization in Vietnam is significantly transforming social livelihood structures, with women being a particularly affected and vulnerable group. This article examines the position and role of women in urban settings, highlighting the key challenges and opportunities that shape their livelihoods. Based on this, the study proposes policy directions to promote sustainable livelihoods for urban women. The findings provide scientific evidence supporting inclusive urban development and social equity in Vietnam.
Keywords: Women, sustainable livelihoods, urbanization, gender equality, social development, social development.
1. Đặt vấn đề
Sinh kế bền vững của phụ nữ là một trong những vấn đề xã hội có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển con người, công bằng xã hội và ổn định chính trị trong tiến trình hiện đại hóa đất nước. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng xã hội, trong đó bảo đảm việc làm, thu nhập và điều kiện sống ổn định cho phụ nữ là nền tảng để họ thực sự làm chủ cuộc sống và tham gia bình đẳng vào đời sống kinh tế - xã hội. Người khẳng định: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người” [4], hàm ý sâu sắc về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bình đẳng giới. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh hiện nay, vấn đề sinh kế của phụ nữ càng trở nên cấp thiết, không chỉ ở khía cạnh kinh tế mà còn ở phương diện xã hội và chính trị.
Thực tiễn cho thấy quá trình đô thị hóa đã mở ra nhiều cơ hội việc làm mới cho phụ nữ, song đồng thời cũng làm gia tăng tính bấp bênh trong sinh kế, đặc biệt đối với phụ nữ di cư và phụ nữ làm việc trong khu vực phi chính thức. Hiện nay một bộ phận lớn lao động trong khu vực phi chính thức, với thu nhập thấp, thiếu bảo hiểm xã hội và dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế. Báo cáo của UN Women Việt Nam cũng chỉ ra rằng phụ nữ đô thị vẫn gặp nhiều hạn chế trong tiếp cận đào tạo nghề, tín dụng và các dịch vụ an sinh xã hội. Đô thị hóa không chỉ là sự mở rộng không gian vật chất mà còn là quá trình tái cấu trúc các quan hệ xã hội và sinh kế. Đối với phụ nữ, quá trình này thường đi kèm với “kép hóa gánh nặng”, vừa phải thích ứng với thị trường lao động cạnh tranh, vừa đảm đương vai trò chăm sóc gia đình trong điều kiện thiếu các dịch vụ xã hội hỗ trợ. Trong bối cảnh đó, sinh kế bền vững của phụ nữ đô thị không thể chỉ được hiểu là có việc làm trước mắt mà phải bao hàm các yếu tố ổn định lâu dài, khả năng chống chịu trước rủi ro, tiếp cận an sinh xã hội, nâng cao năng lực và vị thế xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều chính sách phát triển đô thị và thị trường lao động hiện nay chưa thực sự lồng ghép đầy đủ góc nhìn giới, dẫn đến việc một bộ phận phụ nữ bị đẩy ra bên lề của quá trình phát triển, làm gia tăng nguy cơ nghèo đô thị và bất bình đẳng xã hội.
Từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu về phụ nữ với sinh kế bền vững trong bối cảnh đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết. Nghiên cứu này không chỉ góp phần làm rõ những thách thức và rào cản đối với phụ nữ trong quá trình đô thị hóa mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển đô thị theo hướng bao trùm, nhân văn và bền vững, qua đó phát huy vai trò của phụ nữ như một chủ thể quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng xã hội công bằng, tiến bộ ở Việt Nam hiện nay.
2. Cơ sở lý luận
Đô thị hóa ở Việt Nam làm biến đổi sâu sắc cấu trúc sinh kế, đặc biệt đối với phụ nữ - nhóm vừa tham gia lao động tạo thu nhập, vừa đảm nhiệm chức năng tái sản xuất xã hội. Nghiên cứu về sinh kế bền vững của phụ nữ không chỉ dừng ở việc làm và thu nhập mà còn gắn với khả năng tiếp cận nguồn lực, dịch vụ xã hội và cơ chế bảo vệ trước các rủi ro kinh tế - xã hội.
Trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Cầm đã ghi rõ: “Giải pháp hỗ trợ tiếp cận trợ giúp xã hội cơ bản cho lao động nữ di cư (nghiên cứu tại Thành phố Hà Nội)” cho thấy sinh kế của lao động nữ di cư phụ thuộc mạnh vào khả năng tiếp cận an sinh và trợ giúp xã hội [9]. Tương tự, Nguyễn Thị Minh Hiền, Vũ Mộng Đóa trong “Thực trạng tiếp cận dịch vụ công tác xã hội của lao động nữ phi chính thức tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” [10] và Hà Phương với “Lao động nữ di cư: thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” [3] đều khẳng định tính bấp bênh của sinh kế của phụ nữ dưới đô thị hóa, phản ánh sự thiếu hụt bảo vệ xã hội và bất bình đẳng giới trong tiếp cận dịch vụ công. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong phát triển sinh kế và giảm nghèo nhấn mạnh phụ nữ như chủ thể phát triển. Bài viết của Thục Quyên có nêu: “Vai trò của phụ nữ trong phát triển sinh kế bền vững” [17] và Hoàng Ly “Nhiều mô hình sinh kế giúp phụ nữ nghèo tự lực vươn lên” [5] cho thấy việc thúc đẩy mô hình sinh kế gắn với trao quyền, nâng cao năng lực và hỗ trợ thể chế là điều kiện quan trọng để đảm bảo tính bền vững trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế - xã hội. Võ Thị Cẩm Ly với “Phụ nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ: Chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế” [19] và “Từ nghiên cứu về sinh kế đến những vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân ở Việt Nam” [18] chỉ ra rằng sinh kế của phụ nữ chịu quy định bởi vị thế xã hội, chuẩn mực giới và mạng lưới hỗ trợ. Những kết luận này có giá trị tham chiếu quan trọng khi phân tích phụ nữ trong không gian đô thị và ven đô - nơi các mạng lưới truyền thống suy yếu, trong khi rủi ro sinh kế gia tăng. Ngoài ra, các nghiên cứu về nguồn lực sinh kế và năng lực kinh tế của phụ nữ như Hoàng Phan Hải Yến, Phan Thị Thái Hậu, Phạm Thị Hoài trong “Nguồn lực và thực trạng sinh kế của lao động nữ vùng ven biển tỉnh Nghệ An” [6], Nguyễn Hồng Tín, Chung Cẩm Tú, Châu Mỹ Duyên, Tô Lan Phương trong “Đánh giá thực trạng đặc điểm và vai trò của phụ nữ nông thôn trong sản xuất nông nghiệp vùng thâm canh lúa tỉnh An Giang và Kiên Giang” [8], hay luận án tiến sĩ của Vũ Quang Hưng “Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tiểu vùng Tây Bắc” [20] cho thấy sinh kế bền vững của phụ nữ gắn chặt với khả năng tiếp cận nguồn lực, nâng cao kỹ năng và môi trường chính sách hỗ trợ.
Nhìn chung, các công trình đã làm rõ sinh kế bền vững của phụ nữ trong bối cảnh đô thị hóa là sự kết hợp giữa việc làm, thu nhập, an sinh xã hội, trao quyền kinh tế và năng lực thích ứng, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp cận liên ngành và chính sách bao trùm nhằm bảo đảm công bằng giới và phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.
3. Thực trạng sinh kế của phụ nữ trong bối cảnh đô thị hóa ở Việt Nam
3.1. Đặc điểm cơ bản về sinh kế của phụ nữ đô thị
Trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ tại Việt Nam, phụ nữ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thị trường lao động nhưng sinh kế của họ vẫn phản ánh rõ phân tầng giới và cấu trúc việc làm không ổn định. Theo dữ liệu thống kê năm 2023-2024, phụ nữ chiếm khoảng 46,8% tổng lực lượng lao động đang làm việc ở Việt Nam, thấp hơn nam giới (53,2%), cho thấy sự bất cân bằng giới trong thị trường lao động chung của đất nước [11]. Mặc dù tỷ lệ này phản ánh sự tham gia lớn của nữ giới nhưng chất lượng việc làm và bảo đảm quyền lợi nghề nghiệp giữa các nhóm lại rất khác biệt.
Về cơ cấu ngành nghề và hình thức việc làm, hầu hết phụ nữ đô thị làm việc trong các ngành dịch vụ, thương mại nhỏ, bán lẻ, kinh doanh hộ gia đình và lao động giản đơn, trong khi tỷ lệ tham gia các việc làm có kỹ năng cao hoặc nghề chính thức vẫn còn thấp. Điều này phản ánh phân khúc lao động theo giới, với ưu thế việc làm ổn định thường nghiêng về phía nam giới hoặc nhóm lao động có trình độ chuyên môn cao hơn.
Một đặc trưng nổi bật trong sinh kế của phụ nữ đô thị là mức độ phụ thuộc lớn vào khu vực phi chính thức. Theo các báo cáo về lao động nữ và thị trường lao động Việt Nam, mặc dù tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ Việt Nam đạt khoảng 72%, cao hơn mức trung bình thế giới và khu vực, song một bộ phận phụ nữ vẫn đang làm việc trong khu vực phi chính thức với điều kiện lao động không bảo đảm. Hiện nay, có khoảng 7,8 triệu lao động nữ đang làm việc trong khu vực phi chính thức, đóng góp đáng kể vào sinh kế đô thị nhưng thường không được bảo đảm đầy đủ các quyền lợi lao động cơ bản như hợp đồng lao động chính thức, bảo hiểm xã hội hay các phúc lợi nghề nghiệp [7]. Đặc biệt, phụ nữ chiếm tỷ lệ cao trong nhóm lao động dễ bị tổn thương thuộc khu vực phi chính thức. Theo các báo cáo chuyên đề, 59,6% lao động nữ trong khu vực phi chính thức phải làm các công việc dễ bị tổn thương, cao hơn nhiều so với tỷ lệ tương ứng của lao động nam (31,8%) [7]. Thực trạng này phản ánh rõ tác động của yếu tố giới tới khả năng tiếp cận việc làm ổn định, điều kiện lao động và mức độ an sinh của phụ nữ trong bối cảnh đô thị hóa.
Bên cạnh đó, sinh kế của phụ nữ đô thị không mang tính đồng nhất mà có sự khác biệt rõ rệt theo nhóm xã hội. Phụ nữ nhập cư từ nông thôn thường bị giới hạn trong các việc làm không ổn định, thiếu hợp đồng lao động và gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội tại nơi đến; phụ nữ nghèo và phụ nữ đơn thân phải đối mặt với áp lực kép giữa yêu cầu mưu sinh và trách nhiệm chăm sóc gia đình trong điều kiện chi phí sinh hoạt đô thị ngày càng gia tăng; trong khi đó, những phụ nữ có trình độ học vấn và vốn xã hội tốt hơn có xu hướng tham gia vào các việc làm chính thức hoặc tự doanh nhỏ với mức thu nhập và độ ổn định tương đối cao hơn.
Như vậy, sinh kế của phụ nữ trong đô thị tại Việt Nam hiện nay phản ánh sự phụ thuộc lớn vào khu vực phi chính thức, cơ cấu việc làm giản đơn và sự phân hóa theo nhóm xã hội. Quá trình đô thị hóa tuy mở ra nhiều cơ hội việc làm cho phụ nữ nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức đáng kể về chất lượng, tính ổn định và tính bền vững của sinh kế, đặc biệt đối với các nhóm phụ nữ dễ bị tổn thương.
3.2. Những thách thức đối với sinh kế bền vững của phụ nữ
Trong bối cảnh đô thị hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sinh kế của phụ nữ đô thị tại Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức mang tính cấu trúc, vừa trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng tạo thu nhập, vừa gián tiếp làm suy giảm tính bền vững của sinh kế trong dài hạn.
3.2.1. Tính bấp bênh và thiếu an toàn của việc làm là thách thức nổi bật đối với sinh kế của phụ nữ đô thị. Phần lớn phụ nữ làm việc trong khu vực phi chính thức hoặc các ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn như dịch vụ cá thể, bán lẻ, gia công, sản xuất xuất khẩu, nơi điều kiện lao động thiếu ổn định, dễ bị sa thải và ít được bảo vệ bởi các cơ chế pháp lý. Việc thiếu hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế khiến sinh kế của phụ nữ phụ thuộc nhiều vào biến động của thị trường và dễ rơi vào tình trạng mất thu nhập khi gặp rủi ro.
3.2.2. Hạn chế trong tiếp cận vốn, đào tạo nghề và các dịch vụ xã hội làm suy giảm năng lực nâng cao sinh kế của phụ nữ. So với nam giới, phụ nữ đô thị, đặc biệt là phụ nữ nghèo và phụ nữ di cư thường gặp khó khăn hơn trong tiếp cận tín dụng chính thức, các chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường và các dịch vụ hỗ trợ khởi sự kinh doanh. Sự hạn chế này không chỉ cản trở quá trình chuyển dịch từ việc làm giản đơn sang việc làm có giá trị gia tăng cao hơn mà còn làm gia tăng sự lệ thuộc của phụ nữ vào các hình thức sinh kế có thu nhập thấp và kém bền vững.
3.2.3. Áp lực chi phí sinh hoạt đô thị kết hợp với trách nhiệm gia đình tạo ra “gánh nặng kép” đối với phụ nữ. Trong khi chi phí nhà ở, y tế, giáo dục và dịch vụ chăm sóc tại đô thị ngày càng gia tăng, phụ nữ vẫn là nhóm đảm nhận phần lớn công việc chăm sóc không trả lương trong gia đình. Điều này làm hạn chế thời gian, cơ hội và khả năng đầu tư cho phát triển nghề nghiệp của phụ nữ, đồng thời khiến sinh kế của họ dễ bị tổn thương hơn trước các biến động kinh tế.
3.2.4. Mức độ dễ tổn thương trước các cú sốc kinh tế - xã hội là thách thức mang tính hệ thống. Các cú sốc như suy giảm kinh tế, dịch bệnh, biến động giá cả hay thay đổi chính sách thị trường lao động thường tác động mạnh hơn đến phụ nữ do vị thế việc làm yếu, thu nhập thấp và khả năng tích lũy hạn chế. Trong những bối cảnh này, phụ nữ thường là nhóm mất việc làm sớm hơn và phục hồi sinh kế chậm hơn so với nam giới.
3.3. Một số yếu tố cấu trúc tác động đến sinh kế của phụ nữ
Sinh kế của phụ nữ đô thị không chỉ chịu tác động từ các yếu tố cá nhân hay hộ gia đình mà còn bị chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố cấu trúc ở cấp độ thể chế, văn hóa - xã hội và thị trường.
3.3.1. Yếu tố thể chế và chính sách đô thị có vai trò định hình trực tiếp cơ hội sinh kế của phụ nữ. Các chính sách phát triển đô thị, quy hoạch không gian kinh tế, nhà ở và dịch vụ công nếu thiếu lồng ghép giới có thể vô tình làm gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận việc làm và an sinh xã hội. Việc quản lý khu vực phi chính thức, di cư nội địa và bảo hiểm xã hội còn nhiều khoảng trống khiến một bộ phận lớn phụ nữ đô thị chưa được thụ hưởng đầy đủ các quyền lợi công dân và quyền lao động.
3.3.2. Yếu tố văn hóa - xã hội và định kiến giới tiếp tục là rào cản sâu xa đối với sinh kế của phụ nữ. Các chuẩn mực giới truyền thống vẫn gán cho phụ nữ vai trò chính trong chăm sóc gia đình và công việc tái sản xuất xã hội, trong khi coi lao động của nam giới là trụ cột kinh tế. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp và mức độ đầu tư cho giáo dục, đào tạo của phụ nữ mà còn làm hạn chế khả năng thăng tiến và tham gia vào các vị trí có quyền lực trong thị trường lao động đô thị.
3.3.3. Yếu tố thị trường và toàn cầu hóa tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức đối với sinh kế của phụ nữ. Quá trình hội nhập kinh tế và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu mở rộng nhu cầu lao động trong các ngành xuất khẩu, nơi phụ nữ chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, các ngành này thường gắn với điều kiện lao động khắt khe, cường độ cao và dễ bị tác động bởi biến động thị trường quốc tế. Khi thị trường toàn cầu suy giảm, phụ nữ thường là nhóm chịu ảnh hưởng đầu tiên thông qua cắt giảm việc làm, giảm giờ làm hoặc giảm thu nhập.
4. Cơ hội và tiềm năng phát triển sinh kế bền vững cho phụ nữ đô thị
4.1. Cơ hội từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị theo hướng giảm tỷ trọng công nghiệp thâm dụng lao động, gia tăng vai trò của khu vực dịch vụ, kinh tế sáng tạo và kinh tế tri thức đã tạo ra nhiều không gian sinh kế mới cho phụ nữ. Các ngành dịch vụ như thương mại, logistics đô thị, du lịch, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dịch vụ cá nhân và dịch vụ xã hội có xu hướng sử dụng nhiều lao động nữ, đồng thời đòi hỏi các kỹ năng mềm và năng lực thích ứng - những lợi thế tương đối của phụ nữ.
Định hướng này được thể hiện rõ trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030 [2] và Nghị quyết số 06-NQ/TW (2022) của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam [1], trong đó nhấn mạnh phát triển đô thị theo hướng xanh, thông minh và bao trùm. Việc mở rộng các ngành dịch vụ và kinh tế tri thức không chỉ tạo thêm việc làm mà còn tạo điều kiện để phụ nữ từng bước chuyển dịch từ các sinh kế phi chính thức, thu nhập thấp sang các hình thức việc làm có giá trị gia tăng cao hơn.
Bên cạnh đó, nhu cầu lao động linh hoạt và đa kỹ năng trong kinh tế đô thị hiện đại cũng mở ra cơ hội cho phụ nữ cân bằng giữa việc làm và trách nhiệm gia đình. Các hình thức làm việc bán thời gian, làm việc từ xa, tự doanh quy mô nhỏ được Nhà nước khuyến khích thông qua các chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các chương trình hỗ trợ lao động nữ và doanh nhân nữ theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa [12].
4.2. Cơ hội từ kinh tế số và đổi mới sáng tạo
Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số, kinh tế nền tảng và đổi mới sáng tạo đang mở ra những cơ hội sinh kế mới, ít phụ thuộc vào không gian vật lý và giảm bớt các rào cản truyền thống về giới. Phụ nữ đô thị có thể tham gia kinh doanh trực tuyến, thương mại điện tử, cung ứng dịch vụ số, sáng tạo nội dung, gia công số và việc làm dựa trên nền tảng công nghệ, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và đa dạng hóa nguồn thu nhập.
Những cơ hội này được hỗ trợ mạnh mẽ bởi Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 749/QĐ-TTg) [15] và Chiến lược phát triển kinh tế số, xã hội số. Thông qua các chương trình đào tạo kỹ năng số, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và phổ cập hạ tầng công nghệ, Nhà nước tạo điều kiện để phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ yếu thế từng bước tham gia sâu hơn vào nền kinh tế số.
Đáng chú ý, kinh tế số góp phần mở rộng không gian sinh kế vượt qua các rào cản truyền thống như hạn chế về vốn, mặt bằng kinh doanh hay thời gian lao động. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với phụ nữ đô thị đang gánh vác trách nhiệm chăm sóc gia đình, giúp họ nâng cao tính tự chủ kinh tế và khả năng thích ứng trước các biến động của thị trường lao động.
4.3. Vai trò của mạng lưới xã hội và cộng đồng đô thị
Mạng lưới xã hội và cộng đồng đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh kế bền vững cho phụ nữ. Các mô hình liên kết sinh kế dựa vào cộng đồng như nhóm tiết kiệm - tín dụng, nhóm sản xuất - kinh doanh nhỏ, câu lạc bộ phụ nữ khởi nghiệp, không gian làm việc chung dành cho phụ nữ đã và đang tạo ra nền tảng hỗ trợ lẫn nhau về vốn, kỹ năng và thông tin thị trường.
Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam giữ vai trò nòng cốt trong việc thúc đẩy các mô hình này thông qua Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-2025” (Quyết định số 939/QĐ-TTg) [14] và Đề án “Hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” (Quyết định số 938/QĐ-TTg) [13]. Các chương trình đó không chỉ hỗ trợ về vốn và kỹ năng mà còn góp phần nâng cao năng lực tổ chức, tiếng nói và vị thế xã hội của phụ nữ trong không gian đô thị.
Ngoài ra, hợp tác xã, tổ hợp tác và các mô hình kinh tế tập thể của phụ nữ đang được khuyến khích phát triển theo Luật Hợp tác xã (2012, sửa đổi) và các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới (mở rộng sang không gian ven đô). Những mô hình này giúp phụ nữ giảm thiểu rủi ro cá nhân, tăng khả năng thương lượng trên thị trường và hướng tới sinh kế ổn định, bền vững hơn trong dài hạn.
5. Vai trò của chính sách và các tổ chức xã hội
Phát triển sinh kế bền vững cho phụ nữ đô thị không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội đơn thuần mà còn là nội dung quan trọng của chiến lược phát triển bao trùm, bảo đảm công bằng xã hội và bình đẳng giới. Trong bối cảnh đó, vai trò của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và công tác xã hội đô thị có ý nghĩa then chốt trong việc tạo lập môi trường thể chế thuận lợi, hỗ trợ và trao quyền cho phụ nữ.
5.1. Vai trò của Nhà nước trong bảo đảm sinh kế bền vững cho phụ nữ
5.1.1. Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong hoạch định và thực thi các chính sách việc làm, an sinh xã hội và bình đẳng giới, qua đó định hình nền tảng pháp lý cho sinh kế của phụ nữ đô thị. Các chính sách về lao động - việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và trợ giúp xã hội góp phần giảm thiểu rủi ro sinh kế, đặc biệt đối với phụ nữ làm việc trong khu vực phi chính thức và phụ nữ di cư. Việc thực hiện Luật Bình đẳng giới, Bộ luật Lao động và các chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đã từng bước cải thiện vị thế của phụ nữ trên thị trường lao động, dù vẫn còn những khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
5.1.2. Quy hoạch và quản lý đô thị theo hướng bao trùm và nhạy cảm giới là một trong những điều kiện quan trọng để bảo đảm sinh kế bền vững cho phụ nữ. Quy hoạch đô thị không chỉ liên quan đến không gian vật chất mà còn tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận việc làm, dịch vụ công và hạ tầng an sinh xã hội. Việc lồng ghép giới trong quy hoạch nhà ở, giao thông công cộng, trường học, cơ sở y tế và các thiết chế phúc lợi góp phần giảm gánh nặng chăm sóc không trả lương cho phụ nữ, đồng thời tạo điều kiện để họ tham gia hiệu quả hơn vào các hoạt động kinh tế - xã hội.
5.2. Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội
Các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò cầu nối quan trọng giữa Nhà nước và phụ nữ đô thị, đặc biệt trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến sinh kế. Thông qua hoạt động giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng chính sách, các tổ chức này góp phần phản ánh tiếng nói của phụ nữ, nhất là các nhóm yếu thế trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách phát triển đô thị.
Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị - xã hội, tiêu biểu là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đóng vai trò trực tiếp trong việc hỗ trợ tín dụng, đào tạo nghề và khởi nghiệp cho phụ nữ. Thông qua các chương trình ủy thác tín dụng, hỗ trợ phụ nữ khởi sự kinh doanh, đào tạo kỹ năng nghề và kỹ năng quản lý, các tổ chức đó giúp phụ nữ nâng cao năng lực sinh kế, mở rộng cơ hội việc làm và từng bước cải thiện tính bền vững của nguồn thu nhập. Đồng thời, các hoạt động này còn góp phần xây dựng mạng lưới xã hội, tăng cường sự liên kết và hỗ trợ lẫn nhau giữa phụ nữ trong cộng đồng đô thị.
5.3. Vai trò của công tác xã hội trong đô thị
Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và gia tăng bất bình đẳng xã hội, công tác xã hội đô thị giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ trực tiếp các nhóm phụ nữ dễ bị tổn thương. Trước hết, công tác xã hội đóng vai trò kết nối phụ nữ với hệ thống an sinh xã hội, giúp họ tiếp cận các dịch vụ và chính sách công như trợ giúp xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề. Thông qua hoạt động tư vấn, tham vấn và quản lý trường hợp, công tác xã hội góp phần giảm thiểu các rào cản hành chính và thông tin mà phụ nữ đô thị thường gặp phải.
Bên cạnh đó, công tác xã hội hướng tới nâng cao năng lực tự chủ và khả năng thích ứng sinh kế của phụ nữ. Các chương trình can thiệp không chỉ tập trung giải quyết khó khăn trước mắt mà còn chú trọng phát triển kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng quản lý tài chính và khả năng thích ứng trước các cú sốc kinh tế - xã hội. Cách tiếp cận này giúp phụ nữ chủ động hơn trong việc xây dựng và điều chỉnh sinh kế trong bối cảnh biến động của thị trường lao động đô thị.
Đặc biệt, cách tiếp cận dựa vào thế mạnh và trao quyền cho phụ nữ là nguyên tắc cốt lõi của công tác xã hội hiện đại. Thay vì coi phụ nữ là đối tượng thụ hưởng thụ động, công tác xã hội nhấn mạnh việc phát huy nguồn lực nội tại, kinh nghiệm và năng lực sẵn có của phụ nữ, đồng thời tạo điều kiện để họ tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến sinh kế và đời sống của chính mình. Qua đó, sinh kế bền vững không chỉ được hiểu là vấn đề thu nhập mà còn gắn với việc nâng cao vị thế xã hội, quyền làm chủ và năng lực phát triển của phụ nữ trong không gian đô thị.
6. Một số định hướng và hàm ý chính sách
6.1. Lồng ghép giới một cách thực chất trong chiến lược phát triển đô thị bền vững, coi bình đẳng giới và sinh kế của phụ nữ là tiêu chí quan trọng trong quy hoạch đô thị, phát triển hạ tầng, dịch vụ công và thị trường lao động. Việc xây dựng đô thị bao trùm, nhạy cảm giới sẽ góp phần giảm gánh nặng chăm sóc không trả lương và mở rộng cơ hội việc làm cho phụ nữ.
6.2. Tăng cường các cơ chế bảo vệ phụ nữ trong khu vực lao động phi chính thức thông qua mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách trợ giúp xã hội và các hình thức bảo vệ lao động linh hoạt. Điều này có ý nghĩa then chốt trong việc giảm thiểu rủi ro sinh kế và nâng cao tính bền vững của thu nhập cho phụ nữ đô thị.
6.3. Phát triển hệ sinh thái hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ đô thị, bao gồm hỗ trợ tín dụng, đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng số, khởi nghiệp và kết nối thị trường. Sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng sẽ tạo nền tảng thuận lợi để phụ nữ chủ động phát triển sinh kế.
6.4. Thúc đẩy sự tham gia thực chất của phụ nữ vào quá trình hoạch định, giám sát và phản biện chính sách, bảo đảm tiếng nói và lợi ích của phụ nữ được phản ánh đầy đủ trong các quyết sách phát triển. Qua đó, sinh kế bền vững của phụ nữ không chỉ là mục tiêu chính sách mà còn trở thành động lực cho phát triển đô thị công bằng và bền vững.
7. Kết luận
Sinh kế bền vững của phụ nữ đô thị là một chỉ báo quan trọng phản ánh mức độ phát triển đô thị bao trùm, công bằng và hướng tới con người. Thông qua phân tích thực trạng sinh kế, các thách thức, cơ hội và vai trò của chính sách, nghiên cứu cho thấy sinh kế của phụ nữ chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố cấu trúc kinh tế - xã hội và thể chế trong bối cảnh đô thị hóa nhanh ở Việt Nam.
Phụ nữ không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn là chủ thể tích cực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội đô thị, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng, tái sản xuất xã hội và gắn kết cộng đồng. Việc bảo đảm sinh kế bền vững cho phụ nữ không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là yêu cầu về công bằng xã hội và bình đẳng giới. Trong bối cảnh hiện nay, quá trình đô thị hóa cần được tiếp cận theo hướng nhân văn, công bằng và bền vững, trong đó lồng ghép giới và bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương là nguyên tắc xuyên suốt. Bởi chỉ khi sinh kế của phụ nữ được bảo đảm và phát huy, đô thị mới thực sự trở thành không gian phát triển hài hòa, ổn định và bền vững ở Việt Nam.
_____________
Tài liệu tham khảo
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 24/01/2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030. Nguồn: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/chien-luoc-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-10-nam-2021-2030-3735, ngày 22/03/2021.
[3] Hà Phương (2011). Lao động nữ di cư: thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Nguồn: https://tapchicongsan.org.vn/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/-/2018/12946/lao-dong-nu-di-cu--thach-thuc-doi-voi-su-phat-trien-kinh-te---xa-hoi-o-viet-nam.aspx, ngày 19/9/2011.
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 16, 2011). NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr. 617.
[5] Hoàng Ly (2025). Nhiều mô hình sinh kế giúp phụ nữ nghèo tự lực vươn lên. Nguồn:https://tcnnld.vn/news/detail/70766/Nhieu-mo-hinh-sinh-ke-giup-phu-nu-ngheo-tu-luc-vuon-len.html, ngày 4/12/2025.
[6] Hoàng Phan Hải Yến, Phan Thị Thái Hậu, Phạm Thị Hoài (2018). Nguồn lực và thực trạng sinh kế của lao động nữ vùng ven biển tỉnh Nghệ An. Tạp chi Khoa học, Trường Đại học Vinh, tập 47, số 2B, tr. 61-68.
[7] Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam (2018). Lao động nữ trong khu vực phi chính thức dễ bị tổn thương. Nguồn https://www.hoilhpn.org.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/lao-%C4%91ong-nu-trong-khu-vuc-phi-chinh-thuc-de-bi-ton-thuong-26671-4502.html, ngày 02/03/2018.
[8] Nguyễn Hồng Tín, Chung Cẩm Tú, Châu Mỹ Duyên, Tô Lan Phương (2015). Đánh giá thực trạng đặc điểm và vai trò của phụ nữ nông thôn trong sản xuất nông nghiệp vùng thâm canh lúa tỉnh An Giang và Kiên Giang. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, số 41, tr. 25-34.
[9] Nguyễn Thanh Cầm (2024). Giải pháp hỗ trợ tiếp cận trợ giúp xã hội cơ bản cho lao động nữ di cư (nghiên cứu tại thành phố Hà Nội). Luận án Tiến sĩ Chuyên ngành Công tác xã hội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
[10] Nguyễn Thị Minh Hiền, Vũ Mộng Đóa (2021). Thực trạng tiếp cận dịch vụ công tác xã hội của lao động nữ phi chính thức tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Tạp chí Khoa học, Học viện Phụ nữ Việt Nam, tập 15, số 3, tr. 15-22.
[11] Open Development Vietnam (2024). A landscape of Vietnam labor and migration. Open Development Mekong.
https://vietnam.opendevelopmentmekong.net/en/topics/a-landscape-of-vietnam-labor-and-migration/.
[12] Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Luật số 04/2017/QH14, ngày 12/6/2017.
[13] Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 939/QĐ-TTg, ngày 30/6/2017 Phê duyệt Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-2025”.
[14] Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 938/QĐ-TTg, ngày 30/6/2017 phê duyệt Đề án “Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ giai đoạn 2017-2027”.
[15] Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/06/2020 Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
[16] Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg, số 31/03/2022 Phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
[17] Thục Quyên (2025). Vai trò của phụ nữ trong phát triển sinh kế bền vững. Nguồn: https://tcnn.vn/news/detail/70562/Vai-tro-cua-phu-nu-trong-phat-trien-sinh-ke-ben-vung.html, ngày 29/11/2025.
[18] Võ Thị Cẩm Ly (2015). Từ nghiên cứu về sinh kế đến những vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu sinh kế của phụ nữ làm mẹ đơn thân ở Việt Nam. Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội, số 3, tr. 37- 44.
[19] Võ Thị Cẩm Ly (2017). Phụ nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ: Chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế (Nghiên cứu trường hợp huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Luận án Tiến sĩ Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
[20] Vũ Quang Hưng (2020). Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Tiểu vùng Tây Bắc. Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.