PHẠM THỊ MAI[1]
Trường Đại học Sao Đỏ
Nhận bài ngày 22/3/2026. Sửa chữa xong 25/4/2026. Duyệt đăng 28/6/2026.
Abstract
Political awareness education in general and political awareness education for students in particular have an important role, contributing to equip students with worldview and scientific methodology, building up human life, revolutionary ideals and reinforce student confidence in Party leadership in the country's renewal process. Moving to building a socialist rule-of-law state, promoting the movement of the entire people to live and work according to the Constitution and laws, the enhancement of law propaganda and education has become necessary and more urgent than ever. Therefore, the education of political theory combined with legal education must be parallel and must be combined with each other is a very necessary issue in social management organizations as well as in educational activities.
Keywords: Political education education, legal education, political consciousness, combine, educational activities.
1. Đặt vấn đề
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị (LLCT) vừa là thành quả của sự chắt lọc tinh tế tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, vừa mang đậm hơi thở của cuộc sống. Do vậy, ở Hồ Chí Minh, lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau. Đúng như Nghị quyết UNESCO đánh giá: "Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau” [5].
Bên cạnh giáo dục LLCT thì giáo dục Pháp luật (GDPL) cũng đóng vai trò quan trọng để giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách, rèn luyện hành vi ứng xử cho thế hệ trẻ, tạo nếp sống, hành động “sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật.” Có thể nói rằng việc giáo dục pháp luật cho sinh viên (SV) là một yêu cầu khách quan nhằm chuẩn bị một cách có hệ thống cho thế hệ trẻ vào đời, biết sống và làm việc theo pháp luật, góp phần xây dựng một nhà nước pháp luật, một xã hội có kỷ cương, nề nếp. GDPL là giáo dục về những giá trị cao đẹp, giáo dục cách xử sự vì lợi ích chung của cộng đồng, lợi ích xã hội và lợi ích của mỗi con người. Suy cho cùng, GDPL là tạo lập, rèn giũa và mài sáng cái tâm, cái đức trong mỗi con người Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật dù hoàn thiện đến đâu cũng không thể điều chỉnh hết mọi quan hệ xã hội. Do đó, ý thức tự giác chấp hành pháp luật của mỗi người dựa trên lòng tự trọng, danh dự, phẩm giá, lương tâm - biểu hiện tập trung của một nhân cách đạo đức là những yếu tố điều chỉnh xã hội không gì có thể thay thế được. Vì vậy, giáo dục LLCT kết hợp GDPL phải song hành đồng thời phải có sự kết hợp với nhau là vấn đề hết sức cần thiết trong tổ chức quản lý xã hội cũng như trong hoạt động giáo dục. Mọi người dân nói chung và SV các trường cao đẳng, đại học nói riêng là lứa tuổi đang hình thành và phát triển nhân cách. Nếu được giáo dục đúng hướng các em sẽ hình thành và phát triển những phẩm chất tích cực; ngược lại sẽ trở nên dị dạng và méo mó về nhân cách, vì giáo dục ý thức chính trị (YTCT) có tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và khả năng thực hành công việc của mỗi SV trong thực tiễn cuộc sống. Ngày nay trên cơ sở coi trọng giáo dục kiến thức văn hóa, giáo dục ý thức công dân thông qua việc giáo dục LLCT và GDPL ở các trường cao đẳng, đại học chính là một trong những phương thức cơ bản nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo của Đảng và Nhà nước.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Sự kết hợp giáo dục chính trị với giáo dục pháp luật trong các trường cao đẳng, đại học hiện nay
2.1.1. Cơ sở lý luận của việc kết hợp giáo dục lý luận chính trị với giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học hiện nay
Lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay là hệ thống những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng những tinh hoa tư tưởng chính trị của dân tộc và nhân loại, phản ánh tính quy luật của các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội, thể hiện lợi ích và thái độ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, là công cụ quan trọng cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Giáo dục LLCT là giải thích, tuyên truyền những vấn đề thuộc LLCT, bằng việc đi sâu giải thích các sự vật, hiện tượng diễn ra trong tự nhiên, xã hội, trên cơ sở đó xây dựng cơ sở khoa học cho nhận thức và niềm tin của con người để đi đến hành động đúng đắn. Giáo dục LLCT đem đến cho mọi người những hiểu biết về quy luật phát triển của xã hội, về thế giới quan, nhân sinh quan, đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước để từ đó vạch ra cho mình tư tưởng, lối sống, hoài bão, ý chí, nguyện vọng, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức để gạt bỏ cái cũ, tiếp thu có chọn lọc cái mới,... Bên cạnh đó giáo dục LLCT là nghiên cứu tổng kết thực tiễn, xây dựng thành hệ thống quan điểm lý luận chính trị, hình thành và phát triển tư tưởng xã hội, phát triển những mâu thuẫn xã hội và đưa ra những dự báo để phát triển cho tương lai.
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.
Giáo dục pháp luật là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho người có nhu cầu; theo đó phổ biến, GDPL là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Pháp luật chính là việc cụ thể hóa đường lối chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước đến với nhân dân. Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Hơn bao giờ hết những người trẻ tuổi càng trở nên quan trọng và đã được thừa nhận là nhân tố quyết định chủ yếu đến sự phát triển kinh tế, xã hội, trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đáp ứng được yêu cầu đó cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, những con người phát triển toàn diện, thể chất, tri thức, đạo đức như Hồ Chủ tịch đã căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Đại hội X của Đảng chỉ rõ phải coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách của người Việt Nam. Trong đó: “ Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên SV, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [2]. Cùng công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật sẽ góp phần đáp ứng tốt yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực trẻ. Ở thời kỳ cách mạng nào cũng khẳng định được vai trò quan trọng trong việc nâng cao công tác giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục pháp luật cho SV trong nhà trường.
Hiện nay, giáo dục chính trị và GDPL trong các trường cao đẳng, đại học ở Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành bản lĩnh chính trị, đạo đức, ý thức công dân và trách nhiệm xã hội cho SV. Các học phần LLCT và pháp luật không chỉ trang bị tri thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước mà còn góp phần định hướng tư tưởng, lối sống và hành vi cho thế hệ trẻ. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành nhiều văn bản nhằm tăng cường công tác giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho HS, SV trong các cơ sở giáo dục cao đẳng và đại học .
2.1.2. Thực trạng kết hợp giáo dục chính trị với giáo dục pháp luật trong các trường cao đẳng, đại học hiện nay
Trong những năm gần đây, các trường cao đẳng và đại học đã chú trọng đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy các môn LLCT, GDPL theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, lấy người học làm trung tâm và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Nhiều trường đã tổ chức các hoạt động ngoại khóa, phiên tòa giả định, cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tọa đàm chính trị - pháp luật nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng thực tiễn cho sinh viên. Theo nghiên cứu đăng trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục, việc đổi mới phương pháp giảng dạy và ứng dụng lớp học trực tuyến đã góp phần nâng cao hiệu quả học tập các môn LLCT trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, sự tác động mạnh mẽ của mạng xã hội và môi trường thông tin đa chiều cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và pháp luật trong nhà trường. Một số SV thiếu khả năng chọn lọc thông tin, dễ bị ảnh hưởng bởi các quan điểm sai lệch, vi phạm pháp luật hoặc có biểu hiện thờ ơ với các vấn đề chính trị - xã hội. Điều này đòi hỏi các cơ sở giáo dục cần tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, kỹ năng sống, kỹ năng phản biện và bản lĩnh chính trị cho SV trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số hiện nay.
Trước hết, về mặt tích cực, nhiều cơ sở đào tạo đã bước đầu áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại nhằm phát huy tính chủ động của người học. Tại Trường Đại học Điện lực, việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn LLCT được triển khai theo hướng kết hợp thuyết trình với vấn đáp, thảo luận nhóm và ứng dụng công nghệ thông tin. Các hoạt động này giúp SV không chỉ tiếp thu kiến thức lý luận mà còn liên hệ với các vấn đề pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao khả năng tư duy và vận dụng thực tiễn. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng phương pháp tích cực đã góp phần “phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của SV” trong học tập.
Tại Học viện Hành chính Quốc gia và một số trường đại học khác, việc giảng dạy LLCT đã được gắn với các nội dung GDPL thông qua phương pháp tình huống (case study), mô phỏng quản lý nhà nước và thảo luận các vấn đề pháp lý - chính trị. SV được tiếp cận các tình huống thực tiễn như thực thi pháp luật, quyền và nghĩa vụ công dân, từ đó hiểu rõ hơn vai trò của pháp luật trong quản trị xã hội. Đây là hướng đi phù hợp nhằm nâng cao năng lực thực hành và tư duy phản biện cho người học trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Tuy nhiên, thực trạng chung cho thấy việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực và tích hợp LLCT với GDPL vẫn chưa đồng đều giữa các cơ sở đào tạo. Ở nhiều trường cao đẳng và đại học, phương pháp giảng dạy vẫn còn nặng về thuyết trình một chiều, thiếu sự tương tác, khiến sinh viên chưa thực sự hứng thú với các môn LLCT và Pháp luật đại cương. Ngoài ra, sự kết hợp giữa LLCT và GDPL trong giảng dạy còn mang tính hình thức ở một số nơi. Nội dung pháp luật chưa được tích hợp sâu vào bài giảng lý luận, hoặc chỉ dừng lại ở việc minh họa đơn giản mà chưa xây dựng thành các tình huống học tập có tính thực tiễn cao. Theo các nghiên cứu về giáo dục đại học, mặc dù nhiều trường đã triển khai đổi mới phương pháp, nhưng “vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức” trong quá trình thực hiện, đặc biệt là về năng lực GV, điều kiện cơ sở vật chất và phương pháp tổ chức lớp học.
Từ thực trạng trên có thể thấy, việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực kết hợp LLCT với GDPL đã đạt được những kết quả bước đầu, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và tính ứng dụng của tri thức. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện chương trình tích hợp, tăng cường bồi dưỡng phương pháp sư phạm cho giảng viên, đồng thời đẩy mạnh các hình thức dạy học gắn với tình huống pháp lý thực tiễn. Điều này không chỉ giúp SV hiểu sâu lý luận mà còn hình thành ý thức pháp luật và năng lực hành động trong đời sống xã hội.
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy công tác giáo dục LLCT và GDPL cho SV các trường cao đẳng, đại học ở nước ta còn nhiều bất cập. Theo báo cáo Tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Trung ương Đoàn thanh niên năm 2022 có nhận xét:“Ảnh hưởng lối sống thực dụng khiến một bộ phận đoàn viên thanh niên thờ ơ, đứng ngoài phong trào không tham gia sinh hoạt Đoàn, Hội...” và “Tình trạng đáng lo ngại hiện nay là vẫn còn nhiều SV thiếu trung thực trong học tập và thi cử; Một bộ phận chưa có hoài bão, lý tưởng; tình trạng vi phạm nội quy, quy chế trong trường học vẫn còn; ngại học các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, SV ra trường chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập...” [1]. Thống kê sơ bộ các phiếu điều tra do Trung ương Đoàn Thanh niên thực hiện vào tháng 6/2022 đối với cán bộ quản lý, cán bộ Đoàn, GV và SV cũng cho kết quả tương tự: 95% (5.450/5.700) qua đó cho thấy sự lỗ lực của công tác giáo dục LLCT và GDPL trong thời gian qua, tuy nhiên, có đến 91% (5.210/5.700) đánh giá bên cạnh những việc đã làm được, công tác giáo dục LLCT và GDPL cho SV ở các trường cao đẳng, đại học còn có những hạn chế nhất định cần phải tiếp tục đổi mới. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải tăng cường hơn nữa công tác giáo dục LLCT kết hợp với GDPL nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Về người học, phần lớn SV không đọc tài liệu tham khảo, học chỉ cần “nói lại” những điều thầy đã nói, giáo trình viết, học thuộc lòng, thi hết học phần, niên luận. Mục đích học tập của SV mang nặng tính thi cử, trả nợ môn học. Điều này dẫn đến hậu quả là chất lượng học tập của SV thấp, khả năng nắm bắt kiến thức bài học không sâu, từ đó dẫn đến những nhận thức không đúng. Đặc biệt, tình trạng thờ ơ, chán học các môn này rất phổ biến. Đa số SV chưa có ý thức cao với môn học, cho rằng đây là môn học phụ, dẫn đến thái độ ỷ lại, thụ động, thiếu tích cực. SV hầu như không có phương pháp và hình thức học tập sáng tạo.
Về chương trình của các học phần cũng còn có những bất cập nhất định như việc phân bổ các chương và thời gian phân bổ, số lượng tín chỉ ít. Tuy giáo trình của các trường đã được biên soạn dựa trên giáo trình chuẩn của quốc gia nhưng nội dung có nhiều vấn đề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu người học. Đứng trước tình trạng như vậy, việc đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học các học phần LLCT và học phần Pháp luật đại cương là việc làm cần thiết.
2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị và giáo dục pháp luật cho sinh viên hiện nay
Để nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị và GDPL trong các trường cao đẳng, đại học, cần tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại, thực tiễn và phát huy tính chủ động của người học. Đồng thời, nhà trường cần kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục lý luận với hoạt động thực tiễn xã hội, xây dựng môi trường học tập lành mạnh, tăng cường tuyên truyền pháp luật và giáo dục đạo đức, lối sống cho SV. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm đào tạo nguồn nhân lực vừa có trình độ chuyên môn, vừa có bản lĩnh chính trị và ý thức pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục LLCT với GDPL của các trường cao đẳng, đại học trong thời gian tới, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu sau:
2.3.1. Nâng cao hơn nữa nhận thức của giảng viên và sinh viên về vị trí, vai trò các học phần Lý luận chính trị và Pháp luật đại cương trong chương trình đào tạo
Nhìn chung, cán bộ, GV và SV đã có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của các học phần LLCT và GDPL trong chương trình đào tạo. Song phải thừa nhận một thực tế rằng, ở một bộ phận không nhỏ SV và một số ít GV có biểu hiện coi thường, xem nhẹ các môn học này. Việc nhận thức về học phần như vậy chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học: GV không hoàn toàn chuyên tâm cho chuyên môn, chỉ dạy làm sao cốt xong việc, ít tìm tòi và sáng tạo, cập nhật các văn bản pháp luật mới còn chậm và chưa thường xuyên, không thể truyền nhiệt huyết cho SV - yếu tố quan trọng đảm bảo thành công của giờ giảng. Còn SV rơi vào tình trạng học đối phó, trung bình chủ nghĩa, kém hào hứng trong học tập. Do vậy, việc làm đầu tiên và cần thiết là phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này, có biện pháp nâng cao hơn nữa về mặt nhận thức cho GV các trường cao đẳng, đại học. Cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước một cách sâu rộng, khơi dậy tinh thần trách nhiệm của tất cả mọi người đối với việc học tập, nghiên cứu các môn LLCT
2.3.2. Đổi mới nội dung, phuoqng pháp giáo dục lý luận chính trị và giáo dục pháp luật theo hướng lý luận phải gắn liền với thực tiễn, phục vụ nhu cầu của người học
Trong "Sửa đổi lối làm việc", Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm lý luận phải gắn liền với thực tiễn. Đánh giá về những hạn chế của công tác huấn luyện, Người nêu rõ: "Dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực, học rồi không dùng được,... lý luận và thực tế không ăn khớp với nhau” [4]. Đây cũng là hạn chế rất lớn trong giáo dục lý luận hiện nay. Nội dung chương trình học, các giáo trình thường nặng về lý luận và những kiến thức tổng quát, vĩ mô. Phần nói về tình hình địa phương, ngành học, các kỹ năng giải quyết công việc thực tế thường chiếm dung lượng nhỏ, nội dung sơ sài, thậm chí cách giải quyết còn giáo điều, cứng nhắc, không phù hợp với thực tiễn. GV vì hạn chế về kiến thức thực tiễn nên cũng chỉ giảng sâu phần lý luận (giảng cái mình có) mà không đi sâu phần áp dụng thực tiễn (cái sinh viên cần). Phương pháp giảng dạy chủ yếu là thuyết trình. Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, cần đổi mới về nội dung theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, phù hợp với trình độ và nhu cầu của người học. Cụ thể: Xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng về LLCT, GDPL cần tăng cường phần nội dung về tình hình, nhiệm vụ cụ thể của ngành, địa phương; tăng phần kiến thức về kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tế, mang tính thời sự trong các lĩnh vực công tác, giảm những nội dung lý luận chung, trừu tượng, trùng lặp trong nhiều chương trình đào tạo.
2.3.3. Nhà trường, các cấp, các ngành, đoàn thể cần chú ý chăm lo đời sống và điều kiện học tập cho sinh viên
Các cấp, các ngành cần chăm lo đến đời sống vật chất, điều kiện học tập của SV bởi điều này có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến việc hình thành tư tưởng chính trị đúng đắn trong các em. Bởi lẽ, khi điều kiện vật chất, đời sống được nâng cao, điều kiện học tập được cải thiện, các em sẽ an tâm hơn trong học tập, rèn luyện, xác định cho mình mục tiêu học tập đúng đắn. Trước mắt, cần huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng nhiều khu ký túc xá cho SV, đảm bảo cho các em có chỗ ăn, ở sinh hoạt, học tập rộng rãi. Tăng mức học bổng cho SV, đặc biệt là SV nghèo vượt khó, đồng thời kêu gọi mọi nguồn lực từ xã hội tài trợ cho những SV có thành tích cao trong học tập. Cải thiện điều kiện vật chất phục vụ hoạt động học tập, đồng thời nâng cao nhu cầu giải trí lành mạnh cho SV ngay trong khu ký túc xá, đặc biệt là các loại sách báo, thư viện điện tử, loa đài, dịch vụ Internet.
2.3.4. Nâng cao nhận thức và tăng cường tổ chức các hoạt động của các cán bộ đoàn thể nhà trường
Cán bộ công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội SV,... cần nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục chính trị và GDPL cho SV và coi đó không chỉ là nhiệm vụ của các GV LLCT mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị trong trường học. Bên cạnh đó, các tổ chức đoàn, hội trong nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với các khoa, phòng, ban để cùng tham gia tích cực vào công tác giáo dục LLCT và GDPL cho SV thông qua các hoạt động ngoại khóa, như: sân khấu hóa, trải nghiệm thực tế, phổ biến Nghị quyết, các văn bản pháp luật mới, tham dự các hội thảo chuyên đề về tư tưởng chính trị, quyền con người... Đồng thời, tăng cường nắm bắt những suy nghĩ, nguyện vọng của SV thông qua các hoạt động chung để từ đó, uốn nắn, định hướng cho các em về lập trường tư tưởng, các hành vi hợp pháp một cách kịp thời, hiệu quả.
2.3.5. Quan tâm đến đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và Pháp luật đại cương, đảm bảo các điều kiện vật chất cho công tác giáo dục tư tưởng chính trị
Nhà trường cần quan tâm hơn nữa cả về vật chất, tinh thần cho các thầy cô giảng dạy các môn khoa học này, có chính sách đãi ngộ, động viên, ưu tiên, khuyến khích nhằm thu hút đội ngũ GV LLCT, đặc biệt, đối với GV trẻ, có tài năng và đủ điều kiện đứng lớp khi được tuyển dụng để họ yên tâm công tác, say mê với nghề nghiệp, đem tâm huyết và nhiệt tình của mình để nghiên cứu, giảng dạy tư tưởng chính trị, chính sách pháp luật của nhà nước cho SV - những chủ nhân tương lai và đất nước. Có chính sách tuyển sinh kịp thời, đối với việc đào tạo GV Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để thu hút SV thi vào ngành này. Khi tốt nghiệp, đối với các em đạt trình độ từ khá trở lên cho chuyển tiếp cao học. Bên cạnh đó, đối với những GV không có đủ năng lực, phẩm chất, không đảm bảo chất lượng giảng dạy, đặc biệt là không yên tâm với nghề nghiệp nên chuyển công tác khác, đảm bảo tính kỷ luật, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, khen thưởng đúng đối tượng, tạo động lực cho từng cán bộ giảng dạy không ngừng rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, nâng lực công tác, đạo đức nghề nghiệp.
3. Kết luận
Như vậy, để góp phần đắc lực vào việc xây dựng con người mới XHCN, mục đích của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho SV là truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, qua đó hình thành thế giới quan cách mạng và phương pháp luận khoa học cho SV, bồi dưỡng nhân sinh quan đúng đắn, lối sống lành mạnh, đào tạo ra những con người “vừa hồng, vừa chuyên” phục vụ cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, xây dựng CNXH.
Trong tình hình, điều kiện mới, với những yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự tác động mọi mặt về chính trị, tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống và bản lĩnh chính trị đối với thế hệ trẻ, nhất là đội ngũ SV là tất yếu. Do đó, việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục gắn liền với những giải pháp trong công tác giáo dục LLCT kết hợp với GDPL đối với SV không chỉ là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong công tác lý luận của Đảng mà còn đảm bảo xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có đủ phẩm chất, năng lực thực sự để có thể đảm nhận và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.
______________
Tài liệu tham khảo
[1] Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2022). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa XI.
[2] Ban Tuyên giáo Trung ương (2019). Tập bài giảng lớp bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo cấp tỉnh, huyện năm 2019, Hà Nội, tr. 183.
[6] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Tư pháp (2010). Thông tư liên tịch số 30/2010/ TTLT- BGDĐT-BTP, ngày 16/11/2010 về Hướng dẫn việc phối hợp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường.
[5] Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 2, 2019). NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 268.
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 8, 2019). NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 497.
[7] M. Rô-Den-Tan (1976). Từ điển Triết học. NXB Sự thật, Hà Nội, tr. 526.
[3] Quốc hội (2012). Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật. Luật số 14/2012/QH13, ngày 20/06/2012.
[8] V.I. Lênin Toàn tập (tập 6, 1975). NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 30-32.
Email: phammaidhsd1018@gmail.com