PHÙNG THỊ LÝ[1]
NGUYỄN CHÍ DŨNG
NGUYỄN VINH DIỆN
Trường Đại học Sao Đỏ
Nhận bài ngày 20/3/2026. Sửa chữa xong 25/4/2026. Duyệt đăng 29/4/2026.
Abstract
In the context of ongoing digital transformation, higher education faces the need for comprehensive innovation in content, methods, and organizational approaches to training. The digital competence of faculty members has become a key factor, directly impacting the quality of teaching and the effectiveness of implementing digital education models. This article focuses on clarifying the concept and structure of digital competence for university faculty members; analyzing the role of digital competence in teaching, research, and student support in the digital environment. Based on an analysis of the current state of digital competence among faculty members in higher education institutions, the article identifies limitations and their main causes. From this, it proposes several solutions to enhance the digital competence of university faculty members today.
Keywords: Digital transformation, digital competence, digital transformation in education, digital teaching, university lecturers.
1. Đặt vấn đề
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ số (CNS) đã và đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy mà còn là quá trình đổi mới toàn diện về tư duy, phương pháp và mô hình giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học (GDĐH) đứng trước yêu cầu phải thích ứng với môi trường số, đổi mới phương thức dạy học theo hướng linh hoạt, cá nhân hóa và tăng cường tương tác. Điều này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ giảng viên (GV), đặc biệt là năng lực số (NLS) - một trong những năng lực cốt lõi trong thời đại số. Thực tế cho thấy, NLS của GV đại học hiện nay đã có những bước cải thiện nhất định, song vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quá trình chuyển đổi số giáo dục. Do đó, vấn đề đặt ra không chỉ là hình thành mà quan trọng hơn là nâng cao NLS của GV nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Một số vấn đề lý luận về năng lực số của giảng viên đại học trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục
2.1.1. Khái niệm năng lực số của giảng viên đại học
Năng lực số là một trong những năng lực cốt lõi của con người trong xã hội hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực. Theo quan niệm của Ủy ban Châu Âu (EC), NLS là khả năng sử dụng các CNS một cách tự tin, sáng tạo và có trách nhiệm để đạt được các mục tiêu liên quan đến công việc, học tập, giải trí, bao gồm các kỹ năng trong tìm kiếm thông tin, giao tiếp, sáng tạo nội dung, an toàn và giải quyết vấn đề” [4].
Trong lĩnh vực giáo dục, NLS không chỉ dừng lại ở kỹ năng sử dụng công nghệ mà còn bao hàm khả năng vận dụng công nghệ vào quá trình dạy học một cách hiệu quả. Đối với GV đại học, NLS được hiểu là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và khả năng vận dụng công nghệ số trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý học tập. Năng lực này cho phép GV thiết kế, tổ chức và triển khai các hoạt động dạy học trong môi trường số, đồng thời khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên giáo dục số nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Dựa trên các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, NLS của GV đại học được cấu thành từ các thành tố cơ bản sau: 1) Năng lực CNS: Bao gồm khả năng sử dụng các thiết bị, phần mềm và nền tảng số trong giảng dạy và nghiên cứu. Đây là nền tảng cơ bản giúp GV tiếp cận và khai thác các công cụ hỗ trợ dạy học như hệ thống quản lý học tập (LMS), phần mềm thiết kế bài giảng, các nền tảng học trực tuyến; 2) Năng lực sư phạm số: Thể hiện ở khả năng thiết kế, tổ chức và triển khai các hoạt động dạy học trong môi trường số. GV cần biết cách lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp, tích hợp công nghệ vào quá trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học; 3) Năng lực thông tin và dữ liệu số: Bao gồm khả năng tìm kiếm, đánh giá, xử lý và sử dụng thông tin trên môi trường số một cách hiệu quả và có trách nhiệm. Đồng thời, GV cần có khả năng khai thác dữ liệu học tập để phân tích, đánh giá và hỗ trợ người học; 4) Năng lực giao tiếp và hợp tác trong môi trường số: Thể hiện ở khả năng tương tác với người học và đồng nghiệp thông qua các nền tảng số, xây dựng môi trường học tập trực tuyến tích cực, thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ tri thức; 5) Năng lực đảm bảo an toàn và đạo đức số: Bao gồm việc tuân thủ các quy định về bảo mật thông tin, quyền riêng tư, bản quyền và ứng xử có trách nhiệm trong môi trường số.
Các thành tố này không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau, tạo nên NLS toàn diện của GV đại học trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục.
2.1.2. Vai trò của năng lực số đối với giảng viên đại học trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục
Xác định rõ tầm quan trọng của chuyển đổi số, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quyết định về chuyển đổi số như Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, nhấn mạnh yêu cầu “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức giáo dục và đào tạo gắn với ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”, trong đó đặc biệt chú trọng đổi mới cách dạy và cách học trên cơ sở ứng dụng công nghệ số, khuyến khích phát triển các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên các nền tảng số [1, tr. 6]. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác định giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực ưu tiên thực hiện chuyển đổi số [8, tr. 14]. Năm 2021, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký Quyết định số 131/QĐ-TTg, Phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030”, nêu rõ quan điểm: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tạo đột phá trong đổi mới hoạt động giáo dục và đào tạo; đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; tác động tích cực, toàn diện tới phương thức hoạt động, chất lượng, hiệu quả và công bằng trong giáo dục [9, tr. 2]. Theo đó, năm 2021, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 08/2021/TT-BGDĐT về Quy chế đào tạo trình độ đại học có nêu ra tỷ lệ đào tạo trực tuyến đối với một chương trình đào tạo: đào tạo theo hình thức chính quy và vừa làm vừa học, tối đa 30% tổng khối lượng của chương trình đào tạo được thực hiện bằng lớp học trực tuyến [3, tr. 6]. Để đảm bảo định hướng phát triển trên, NLS của GV đại học không chỉ là một yêu cầu tất yếu mà còn là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo.
Thứ nhất, NLS của GV đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, chuyển từ mô hình truyền thụ tri thức một chiều sang mô hình dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm. Trong môi trường giáo dục truyền thống, GV thường giữ vai trò là người truyền đạt kiến thức, còn người học chủ yếu tiếp nhận một cách thụ động. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của CNS, GV có thể thiết kế các hoạt động học tập đa dạng, linh hoạt và giàu tính tương tác như thảo luận trực tuyến, học tập dựa trên dự án, học tập hợp tác hay lớp học đảo ngược. Việc ứng dụng các nền tảng số và công cụ hỗ trợ giảng dạy không chỉ giúp bài giảng trở nên sinh động hơn mà còn tạo điều kiện để người học chủ động khám phá tri thức, phát triển tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề.
Thứ hai, NLS góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và đánh giá người học trong GDĐH. Thông qua các hệ thống quản lý học tập (LMS) và các công cụ đánh giá trực tuyến, GV có thể theo dõi quá trình học tập của SV một cách liên tục, toàn diện và chính xác. Các dữ liệu về mức độ tham gia học tập của SV được lưu trữ và phân tích một cách khoa học, giúp GV có cơ sở để điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng người học. Bên cạnh đó, việc sử dụng các công cụ kiểm tra, đánh giá trực tuyến giúp đa dạng hóa hình thức đánh giá, từ trắc nghiệm khách quan đến tự luận, dự án hay đánh giá đồng đẳng, qua đó nâng cao tính khách quan, minh bạch và kịp thời trong đánh giá kết quả học tập.
Thứ ba, NLS tạo điều kiện thuận lợi cho GV mở rộng hoạt động nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế. Trong thời đại số, các nguồn tài nguyên học thuật như cơ sở dữ liệu khoa học, tạp chí điện tử, kho học liệu mở ngày càng phong phú và dễ tiếp cận. GV có NLS tốt sẽ có khả năng tìm kiếm, khai thác và xử lý thông tin một cách hiệu quả, từ đó nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học. Đồng thời, công nghệ số cũng tạo điều kiện để GV tham gia các mạng lưới học thuật, hợp tác nghiên cứu với các đối tác trong và ngoài nước thông qua các nền tảng trực tuyến.
Thứ tư, NLS giúp GV thích ứng hiệu quả với môi trường giáo dục linh hoạt, đặc biệt trong bối cảnh dạy học trực tuyến và dạy học kết hợp ngày càng trở nên phổ biến. Sự phát triển của công nghệ số đã làm thay đổi cách thức tổ chức giáo dục từ mô hình học tập truyền thống sang mô hình học tập linh hoạt, không giới hạn về không gian và thời gian. Trong bối cảnh đó, GV cần có khả năng thiết kế và triển khai các khóa học trực tuyến, kết hợp hài hòa giữa dạy học trực tiếp và trực tuyến nhằm tối ưu hóa hiệu quả học tập.
Thứ năm, NLS của GV có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển NLS cho người học, góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của xã hội số. Trong GDĐH, GV không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người định hướng, hỗ trợ và truyền cảm hứng cho SV trong quá trình học tập và phát triển bản thân. Khi GV có NLS tốt, họ có thể hướng dẫn SV sử dụng công nghệ một cách hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm; đồng thời tạo môi trường học tập số tích cực, giúp sinh viên phát triển các kỹ năng cần thiết như tìm kiếm thông tin, xử lý dữ liệu, giao tiếp và hợp tác trong môi trường số.
2.2. Thực trạng năng lực số của giảng viên đại học trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục
2.2.1. Những kết quả đạt được
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, GDĐH Việt Nam đã có những bước chuyển mình đáng kể, đặc biệt trong việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy, nghiên cứu và quản lý. NLS của GV, với tư cách là chủ thể trung tâm của quá trình đào tạo, ngày càng được chú trọng và từng bước được nâng cao. Cụ thể: Sau đại dịch COVID-19 - thời điểm dạy học trực tuyến trở thành giải pháp bắt buộc. Nhiều cơ sở GDĐH đã triển khai rộng rãi các nền tảng dạy học trực tuyến, hệ thống quản lý học tập (LMS) cũng như các công cụ hỗ trợ giảng dạy số. Điều này đã thúc đẩy GV từng bước làm quen, thích ứng và nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ trong hoạt động chuyên môn. GV đã chủ động tiếp cận và sử dụng các công cụ CNS trong giảng dạy. Các phần mềm trình chiếu, nền tảng họp trực tuyến, hệ thống quản lý học tập và các công cụ thiết kế bài giảng điện tử ngày càng được sử dụng phổ biến. Bên cạnh đó, nhiều GV đã từng bước nâng cao năng lực sư phạm số, thể hiện ở khả năng thiết kế bài giảng điện tử, tổ chức lớp học trực tuyến và sử dụng các công cụ hỗ trợ kiểm tra, đánh giá. Việc ứng dụng công nghệ đã góp phần làm phong phú phương pháp giảng dạy, tăng cường tính tương tác và nâng cao hiệu quả truyền đạt kiến thức. Một số GV đã chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, kết hợp giữa dạy học trực tiếp và trực tuyến, qua đó đáp ứng yêu cầu linh hoạt của giáo dục hiện đại. Nhờ sự hỗ trợ của công nghệ, GV có thể dễ dàng tiếp cận các cơ sở dữ liệu khoa học, tạp chí quốc tế và các nguồn học liệu mở. Điều này giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu và tăng cường khả năng hội nhập quốc tế. Ngoài ra, nhận thức về vai trò của NLS trong GDĐH ngày càng được nâng cao.
2.2.2. Những hạn chế, khó khăn
Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, NLS của GV đại học vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể: 1) Mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy còn chưa đồng đều giữa các GV và giữa các cơ sở giáo dục. Trong khi một số GV tích cực đổi mới và ứng dụng công nghệ vẫn còn không ít GV chỉ sử dụng các công cụ cơ bản, mang tính hình thức. Việc ứng dụng công nghệ chưa thực sự gắn với đổi mới phương pháp giảng dạy mà chủ yếu dừng lại ở việc “số hóa” các bài giảng truyền thống; 2) Năng lực sư phạm số của GV còn hạn chế. Nhiều GV chưa có khả năng thiết kế bài giảng số một cách chuyên nghiệp, chưa biết cách tổ chức các hoạt động học tập tương tác hoặc cá nhân hóa quá trình học tập. Điều này dẫn đến việc hiệu quả của dạy học số chưa cao, chưa phát huy được hết tiềm năng của công nghệ; 3) Năng lực khai thác và xử lý thông tin, dữ liệu số còn yếu. Trong bối cảnh giáo dục số, việc sử dụng dữ liệu học tập để phân tích, đánh giá và hỗ trợ người học là rất quan trọng. Tuy nhiên, nhiều GV chưa có kỹ năng này, dẫn đến việc quản lý và đánh giá người học còn mang tính thủ công, thiếu hiệu quả; 4) Một bộ phận GV còn tâm lý e ngại công nghệ, thiếu chủ động trong việc tự học và nâng cao NLS. Điều này làm chậm quá trình thích ứng với môi trường giáo dục số và ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.
Những hạn chế này cũng đã được khẳng định trong nhiều nghiên cứu về NLS của GV ở một số trường đại học trên cả nước, như: “Các năng lực thành phần của NLS của GV tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cơ bản đạt yêu cầu, những GV trẻ, họ không ngại tiếp cận và vận dụng các công cụ số, tuy nhiên số GV này có kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều do vậy các mức độ sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học chỉ dừng ở mức cơ bản, còn các hoạt động dạy học yêu cầu mức độ sử dụng kĩ thuật số cao hơn như: Năng lực thiết kế và triển khai giáo dục số, Năng lực đánh giá và điều chỉnh giáo dục, Năng lực chuyển giao CNS, Năng lực giao tiếp và hợp tác trong môi trường số hiện chỉ dừng lại ở mức độ khá, GV chưa thực sự tự tin trong các vấn đề sử dụng CNS trong dạy học và phát triển năng lực của SV” [6, tr. 10]; “Kết quả nghiên cứu về NLS của GV tại Trường Đại học Tây Nguyên đã chỉ ra rằng năng lực ứng dụng công nghệ của GV trong trường hiện nay đạt mức trung bình” [2, tr.118]. Đây cùng là nhận định được đưa ra trong bài báo về “Thực trạng phát triển NLS cho GV Trường Đại học Văn Lang” của nhóm tác giả Nghiêm Thị Thanh, Nguyễn Thế Vinh, Lê Minh Cường.
Tại Trường Đại học Sao Đỏ, trong những năm gần đây, nhà trường đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV và từng bước tiếp cận xu hướng chuyển đổi số trong giáo dục. Trong thực tế giảng dạy, nhiều GV của nhà trường đã bước đầu ứng dụng các công cụ công nghệ vào thiết kế bài giảng và tổ chức hoạt động học tập, góp phần nâng cao tính trực quan, sinh động và tương tác trong lớp học. Việc sử dụng các nền tảng thiết kế học liệu số, công cụ hỗ trợ trình chiếu cũng như các phần mềm tổ chức trò chơi học tập đã giúp đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm. Bên cạnh đó, nhà trường cũng chú trọng phát triển các ngành đào tạo mới gắn với công nghệ số như trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, kinh tế số, qua đó tạo môi trường thuận lợi để GV tiếp cận và nâng cao NLS trong hoạt động chuyên môn. Tuy nhiên, tại nhiều cơ sở GDĐH khác, việc phát triển NLS của GV tại nhà trường vẫn còn một số hạn chế nhất định, như: mức độ ứng dụng công nghệ chưa đồng đều giữa các GV, kỹ năng thiết kế bài giảng số còn chưa chuyên sâu cũng như việc khai thác dữ liệu số trong dạy học và đánh giá người học chưa thực sự hiệu quả.
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả nguyên nhân chủ quan và khách quan: 1) Nhận thức và thái độ của một bộ phận GV còn hạn chế. Một số GV chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của NLS, còn tâm lý ngại thay đổi, thiếu tinh thần tự học và thích ứng với công nghệ mới; 2) Hạ tầng công nghệ tại một số cơ sở giáo dục còn hạn chế và chưa đồng bộ. Thiếu các hệ thống quản lý học tập hiện đại, thiếu học liệu số và các công cụ hỗ trợ giảng dạy khiến GV gặp khó khăn trong việc triển khai dạy học số; 3) Cơ chế, chính sách khuyến khích ứng dụng công nghệ trong giảng dạy chưa đủ mạnh. Việc đánh giá, xếp loại GV chưa gắn chặt với NLS và mức độ ứng dụng công nghệ, dẫn đến thiếu động lực đổi mới. “Sự thiếu vắng chiến lược dài hạn, hạn chế trong hệ thống đánh giá NLS và sự phối hợp chưa hiệu quả giữa các bộ phận liên quan. Đồng thời, cơ chế khuyến khích cho GV còn chưa đủ mạnh để thúc đẩy sự tham gia tích cực” [7, tr. 84]; 4) Công tác đào tạo, bồi dưỡng NLS cho GV còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Các chương trình bồi dưỡng thường mang tính ngắn hạn, chưa có sự phân tầng và chưa gắn chặt với nhu cầu cụ thể của GV. Điều này khiến việc nâng cao NLS chưa đạt hiệu quả như mong muốn; 5) Áp lực công việc và yêu cầu chuyên môn cao cũng là một nguyên nhân khiến GV chưa có nhiều thời gian và điều kiện để nâng cao NLS.
Từ những phân tích trên có thể thấy, NLS của GV đại học ở Việt Nam đã có những bước tiến nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Việc nhận diện rõ thực trạng và nguyên nhân là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao NLS của GV, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Những nguyên nhân này cũng được nêu rõ
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực số cho giảng viên đại học trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục
Từ những vấn đề đặt ra trong thực trạng, việc phát triển NLS của GV đại học cần có giải pháp cụ thể và phải được triển khai đồng bộ, hệ thống, gắn với yêu cầu chuyển đổi số giáo dục, như: 1) Nâng cao nhận thức về vai trò của NLS trong GDĐH. Các cơ sở giáo dục cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến về chuyển đổi số và tầm quan trọng của NLS đối với hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Việc hình thành tư duy số và văn hóa số trong đội ngũ GV là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy và thích ứng với môi trường giáo dục số; 2) Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng NLS cho GV. Các chương trình bồi dưỡng cần được thiết kế phù hợp với trình độ và nhu cầu của từng nhóm GV, từ cơ bản đến nâng cao. Nội dung đào tạo không chỉ tập trung vào kỹ năng sử dụng công nghệ mà cần chú trọng đến năng lực sư phạm số, khả năng thiết kế bài giảng điện tử, tổ chức lớp học trực tuyến và khai thác học liệu số. Đồng thời, cần tăng cường hình thức bồi dưỡng thông qua thực hành, trải nghiệm và chia sẻ kinh nghiệm, giúp GV có thể áp dụng trực tiếp vào hoạt động giảng dạy; 3) Đổi mới phương pháp giảng dạy gắn với ứng dụng CNS. GV cần chủ động chuyển từ phương pháp giảng dạy truyền thống sang các mô hình dạy học hiện đại như dạy học kết hợp, lớp học đảo ngược, dạy học dựa trên dự án. Việc sử dụng các CNS trong thiết kế bài giảng, tổ chức hoạt động học tập và kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo nhằm nâng cao tính tương tác và phát huy vai trò chủ thể của người học; 4) Tăng cường đầu tư và hoàn thiện hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số giáo dục. Các cơ sở GDĐH cần xây dựng hệ thống hạ tầng công nghệ đồng bộ, bao gồm mạng Internet tốc độ cao, hệ thống quản lý học tập, kho học liệu số và các nền tảng hỗ trợ dạy học trực tuyến. Đồng thời, cần đảm bảo các điều kiện kỹ thuật để GV có thể triển khai hiệu quả các hoạt động giảng dạy trong môi trường số; 5) Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển NLS. Các cơ sở giáo dục cần xây dựng tiêu chí đánh giá GV gắn với NLS và mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Bên cạnh đó, cần có chính sách khuyến khích, động viên kịp thời đối với những GV tích cực đổi mới, sáng tạo trong ứng dụng công nghệ. Việc đưa NLS trở thành một trong những tiêu chí quan trọng trong đánh giá, xếp loại GV sẽ góp phần thúc đẩy quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ; 6) Phát huy vai trò tự học, tự bồi dưỡng của GV trong môi trường số. Trong bối cảnh công nghệ không ngừng phát triển, GV cần chủ động cập nhật kiến thức, kỹ năng mới, nâng cao năng lực thích ứng với sự thay đổi của môi trường giáo dục. Tinh thần học tập suốt đời và khả năng tự học trong môi trường số là yếu tố quan trọng giúp GV không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
3. Kết luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đang diễn ra sâu rộng, NLS của GV đại học giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy. Đây là trụ cột chiến lược và cốt lõi trong kỷ nguyên số, quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy. Vì vậy, GV cần trang bị khả năng sáng tạo nội dung số, ứng dụng công nghệ để nâng cao tính cạnh tranh của hệ thống giáo dục, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa năng lực số cho SV. Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực, song NLS của đội ngũ GV vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn. Do đó, nâng cao NLS không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là nhiệm vụ lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cơ sở giáo dục, đội ngũ GV và các cơ quan quản lý. Triển khai hiệu quả các giải pháp về nhận thức, đào tạo, phương pháp và cơ chế chính sách sẽ góp phần xây dựng đội ngũ GV có NLS vững vàng, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong thời đại số.
______________
Tài liệu tham khảo
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
[2] Phạm Nghiêm Hồng, Ngọc Bích, Phạm Thảo Vy, Đỗ Thị Thanh Xuân, Nguyễn Văn Ba, (2025). Đánh giá năng lực số của giảng viên Trường Đại học Tây Nguyên. Tạp chí Khoa học Tây Nguyên, tập 19 số 1, tr. 110-119.
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Thông tư số 08/2021/TT-BGDĐT, ngày 18/3/2021 về Quy chế đào tạo trình độ đại học.
[4] Carretero, S., Vuorikari, R., & Punie, Y. (2017). DigComp 2.1: The digital competence framework for citizens.
[5] Đỗ Văn Hùng, Trần Đức Hòa (2022). Năng lực số dành cho giảng dạy và dạy học trực tuyến. Tạp chí Thông tin thư viện, số 2.
[6] Nguyễn Lan Phương, Lê Thị Thu Hiền (2024). Phát triển năng lực số cho giảng viên đại học trong bối cảnh hội nhập: Nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Tạp chí Giáo dục, 24(9), 7-12.
[7] Nghiêm Thị Thanh, Nguyễn Thế Vinh, Lê Minh Cường (2024). Thực trạng phát triển năng lực số cho giảng viên ở Trường Đại học Văn Lang. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, tập 13, số Đặc biệt 4, tr. 73-85.
[8] Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg, ngày 03/6/2020 phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
[9] Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 131/QĐ-TTg, ngày 25/02/2022 phê duyệt Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo.