BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

15/04/2026 - 09:49      89 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

CAO THỊ THANH LOAN

Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội

Abstract

Ensuring the right to education of persons with disabilities is one of the important contents of the policy to ensure human rights and social development in Vietnam. The article analyzes the theoretical and legal basis for the right to education of persons with disabilities, and assesses the current situation of ensuring this right in the current education system. The results of the study show that Viet Nam has achieved many achievements such as perfecting the legal framework, expanding access to education and implementing programs to support people with disabilities. However, there are still some limitations such as inadequate facilities, lack of professional teachers, and inadequate social awareness. On that basis, the article proposes a number of solutions to improve the effectiveness of ensuring the educational rights of people with disabilities in the coming time.

Keywords: Persons with disabilities; the right to education; The right to education of persons with disabilities.

1. Đặt vấn đề

Quyền giáo dục là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đối với người khuyết tật (NKT), giáo dục không chỉ giúp nâng cao tri thức, kỹ năng mà còn tạo điều kiện để họ phát triển bản thân, nâng cao khả năng tự lập và hòa nhập xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm qua Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật nhằm bảo đảm quyền học tập cho người khuyết tật, tiêu biểu như Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật Giáo dục năm 2019 cùng nhiều chương trình, đề án phát triển giáo dục hòa nhập. Nhờ đó, cơ hội tiếp cận giáo dục của NKT ngày càng được mở rộng, nhiều mô hình giáo dục hòa nhập được triển khai, góp phần tạo điều kiện cho NKT tham gia học tập bình đẳng với các thành viên khác trong xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế việc bảo đảm quyền giáo dục của NKT ở Việt Nam vẫn còn gặp không ít khó khăn và hạn chế. Cơ sở vật chất của nhiều cơ sở giáo dục chưa thực sự phù hợp với nhu cầu của NKT; đội ngũ giáo viên được đào tạo chuyên sâu về giáo dục đặc biệt còn thiếu; phương pháp giảng dạy và các điều kiện hỗ trợ học tập chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của từng dạng khuyết tật. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận xã hội về quyền và nhu cầu giáo dục của NKT vẫn còn hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền của NKT trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa quan trọng nhằm làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả thực thi quyền này trong thời gian tới.

2. Nội dung nghiên cứu

Bài viết sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu được sử dụng để nghiên cứu các quy định pháp luật, văn bản chính sách, công trình khoa học và báo cáo liên quan đến quyền giáo dục của NKT. Phương pháp so sánh pháp luật được áp dụng nhằm đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với một số chuẩn mực quốc tế về quyền của NKT. Phương pháp thống kê và phân tích thực tiễn thông qua số liệu từ các cơ quan chức năng để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp.

2.1. Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền giáo dục của người khuyết tật

Theo khoản 1, Điều 2, Luật Người khuyết tật năm 2010, “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [2]. Như vậy, NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận của cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng, được biểu hiện dưới dạng tật, làm cho họ gặp khó khăn trong quá trình lao động, sinh hoạt và học tập so với người bình thường.

Tại khoản 1, Điều 4 quy định: người khuyết tật “được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật” [2]. Khoản 3, Điều 5 quy định: nhà nước có chính sách “bảo trợ xã hội; trợ giúp NKT trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí, tiếp cận công trình công cộng và công nghệ thông tin, tham gia giao thông” [2]. Có thể thấy, quyền giáo dục của NKT là quyền được học văn hóa, học nghề và tiếp cận các cơ hội giáo dục phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật của mình; đồng thời được Nhà nước và xã hội hỗ trợ, tạo điều kiện thông qua các chính sách trợ giúp về giáo dục, đào tạo và các điều kiện cần thiết nhằm bảo đảm cho NKT có thể tham gia học tập và phát triển bình đẳng trong xã hội.

Quyền giáo dục của NKT bao gồm:

2.1.1. Người khuyết tật có quyền được tiếp cận giáo dục bình đẳng với mọi công dân. Tại khoản 3, Điều 13, Luật Giáo dục năm 2019, “Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho người học là NKT theo quy định của Luật Người khuyết tật” [3]. Điều này có nghĩa là họ có quyền được tham gia học tập trong hệ thống giáo dục quốc dân như những người khác, không bị phân biệt đối xử vì tình trạng khuyết tật. Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để NKT được đăng ký học tập tại các cơ sở giáo dục phù hợp, được hưởng các chính sách hỗ trợ về học phí, học bổng và các điều kiện học tập cần thiết. Khoản 2, Điều 85, Luật Giáo dục quy định: “Nhà nước có chính sách trợ cấp và miễn, giảm học phí cho người học là… người khuyết tật” [3]. Việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng giúp NKT có cơ hội phát triển tri thức, kỹ năng và tham gia tích cực vào đời sống xã hội.

2.1.2. NKT còn có quyền được học tập trong môi trường phù hợp với tình trạng khuyết tật của mình. Mỗi dạng khuyết tật có những đặc điểm và nhu cầu học tập khác nhau, do đó việc tổ chức môi trường giáo dục cần được thiết kế linh hoạt nhằm đáp ứng các nhu cầu đặc thù này. Điều này có thể được thực hiện thông qua các hình thức giáo dục hòa nhập, giáo dục bán hòa nhập hoặc giáo dục chuyên biệt, tùy theo khả năng và mức độ khuyết tật của người học. Tại khoản 2, Điều 11, Luật Giáo dục năm 2019 quy định: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ; NKT nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu, người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo quy định của Luật Người khuyết tật” [3]. Điều 63 quy định: “Nhà nước thành lập và khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành cho NKT nhằm giúp NKT được phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề và hòa nhập cộng đồng” (khoản 1) [3]. Một môi trường học tập phù hợp không chỉ giúp NKT tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn mà còn tạo điều kiện để họ phát triển kỹ năng giao tiếp, tăng cường sự tự tin và khả năng hòa nhập với cộng đồng.

2.1.3. NKT còn có quyền được hỗ trợ về cơ sở vật chất, phương tiện và phương pháp học tập. Khoản 2, Điều 63, Luật Giáo dục năm 2019 quy định: “Nhà nước ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách cho trường, lớp dành cho NKT do Nhà nước thành lập; có chính sách ưu đãi đối với trường, lớp dành cho NKT do tổ chức, cá nhân thành lập” [3]. Các cơ sở giáo dục cần được trang bị hệ thống cơ sở vật chất phù hợp như đường dốc, thang máy, bảng chữ nổi, thiết bị hỗ trợ nghe nhìn và các phương tiện học tập chuyên biệt khác. Đồng thời, giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy linh hoạt, phù hợp với từng dạng khuyết tật để giúp người học tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả. Ngoài ra, tại khoản 1, Điều 26, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 quy định: Nhà nước có “chính sách nội trú cho học sinh, sinh viên là… người khuyết tật;… NKT đang cư trú ổn định, lâu dài ở các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo” [4]. Sự hỗ trợ này không chỉ giúp NKT vượt qua những rào cản trong học tập mà còn góp phần bảo đảm quyền được giáo dục của họ được thực hiện một cách đầy đủ và thực chất.

2.2. Thực trạng bảo đảm quyền giáo dục của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

2.2.1. Về những kết quả đạt được

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo đảm quyền giáo dục của NKT thông qua việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục và tăng cường các chính sách hỗ trợ. Những kết quả đạt được cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của Nhà nước và xã hội đối với việc bảo đảm quyền học tập cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.

Hệ thống pháp luật và chính sách về giáo dục đối với NKT ngày càng được hoàn thiện. Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng nhằm bảo đảm quyền của NKT trong lĩnh vực giáo dục, tiêu biểu như Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật Giáo dục năm 2019, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD), qua đó khẳng định cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền học tập và tiếp cận giáo dục bình đẳng cho NKT. Các chính sách hỗ trợ như miễn, giảm học phí, cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện học tập và ưu tiên tuyển sinh đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi để NKT được tham gia học tập trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Cơ hội tiếp cận giáo dục của NKT ngày càng được mở rộng, mô hình giáo dục hòa nhập được phát triển rộng rãi. Giáo dục hòa nhập hiện được coi là xu hướng chủ đạo trong việc bảo đảm quyền giáo dục cho NKT ở Việt Nam. Nhiều địa phương đã tích cực triển khai các chương trình giáo dục hòa nhập, tạo điều kiện để trẻ em khuyết tật được học tập cùng với trẻ em bình thường tại các cơ sở giáo dục phổ thông. Theo thống kê của ngành Giáo dục, hiện nay có trên 90% trẻ em khuyết tật đi học theo hình thức giáo dục hòa nhập tại các trường mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Nhiều trường học đã xây dựng các lớp học hỗ trợ, phòng học chức năng và các chương trình giáo dục cá nhân nhằm giúp học sinh khuyết tật tiếp cận chương trình học phù hợp với khả năng của mình. Việc phát triển giáo dục hòa nhập không chỉ giúp NKT được học tập trong môi trường bình đẳng mà còn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền và khả năng của họ. Theo số liệu nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hải và cộng sự (2025), “từ khoảng 42.000 NKT đi học năm 1996, đến năm 2023 con số này đã tăng lên gần 1,2 triệu người, trong đó khoảng 94% học theo phương thức giáo dục hòa nhập” [1]. NKT không chỉ học ở các cấp mầm non và phổ thông, mà còn tham gia các bậc đào tạo nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học. Song song với đó, mạng lưới đào tạo và bồi dưỡng giáo viên giáo dục NKT được phát triển, với các chương trình đào tạo chính quy và sau đại học, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ trực tiếp triển khai giáo dục hòa nhập trong nhà trường. Những năm gần đây, nhiều chương trình hỗ trợ đã được triển khai nhằm tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật tiếp cận giáo dục. Tiêu biểu là “Chương trình “Tiếp sức trẻ khuyết tật đến trường”, đã vận động hơn 2,19 tỷ đồng và trao 1.002 suất học bổng cho học sinh khuyết tật tại các tỉnh biên giới, vùng cao; năm 2025 dự kiến trao 1.200 suất, mỗi suất 4 triệu đồng. Bên cạnh đó, Quỹ Vì trẻ em khuyết tật Việt Nam còn triển khai các hoạt động hỗ trợ dài hạn như hướng nghiệp, học nghề và xây dựng hệ thống dữ liệu số về trẻ khuyết tật. Theo thống kê giai đoạn 2020–2025, gần 96.000 suất học bổng cùng nhiều thiết bị học tập đã được trao tặng, góp phần giúp trẻ em khuyết tật có thêm cơ hội đến trường và hòa nhập xã hội” [6].

Các chính sách hỗ trợ về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và phương tiện học tập ngày càng được chú trọng. Nhà nước đã đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng tại nhiều cơ sở giáo dục nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NKT tiếp cận học tập, như xây dựng đường dốc, nhà vệ sinh phù hợp và trang bị các thiết bị hỗ trợ học tập. Bên cạnh đó, công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên giáo dục đặc biệt cũng được quan tâm. Theo thống kê, cả nước hiện có hàng nghìn giáo viên được đào tạo hoặc bồi dưỡng về giáo dục đặc biệt nhằm hỗ trợ học sinh khuyết tật trong quá trình học tập. Ngoài ra, nhiều chương trình hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nước cũng đã cung cấp sách chữ nổi, thiết bị trợ thính và các phương tiện học tập chuyên biệt cho học sinh khuyết tật. Những kết quả trên cho thấy Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng trong việc bảo đảm quyền giáo dục của NKT.

2.2.2. Những hạn chề, tồn tại

Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc bảo đảm quyền giáo dục của NKT, song trên thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định cần được khắc phục.

Thứ nhất, cơ sở vật chất và điều kiện học tập tại nhiều cơ sở giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của NKT. Nhiều trường học, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa, chưa được thiết kế phù hợp với NKT như thiếu đường dốc, thang máy, nhà vệ sinh chuyên biệt hoặc các thiết bị hỗ trợ học tập cần thiết. Điều này gây ra không ít khó khăn cho học sinh khuyết tật trong quá trình di chuyển và tham gia các hoạt động học tập tại trường. Bên cạnh đó, việc trang bị các phương tiện hỗ trợ như sách chữ nổi, thiết bị trợ thính hay công nghệ hỗ trợ học tập vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người học.

Thứ hai, đội ngũ giáo viên có chuyên môn về giáo dục đặc biệt còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. “Sự khác biệt về nguồn lực, điều kiện cơ sở vật chất, trình độ giáo viên và mức độ phối hợp giữa các ngành khiến trải nghiệm học tập của NKT có sự chênh lệch giữa các địa phương và cơ sở giáo dục” [1]. Phần lớn giáo viên tại các trường phổ thông hiện nay chưa được đào tạo chuyên sâu về phương pháp giảng dạy dành cho học sinh khuyết tật, trong khi giáo dục hòa nhập đòi hỏi giáo viên phải có những kỹ năng và phương pháp sư phạm phù hợp với từng dạng khuyết tật khác nhau. Việc thiếu giáo viên được đào tạo chuyên môn đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy và khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh khuyết tật.

Thứ ba, nhận thức của một bộ phận gia đình và xã hội về quyền giáo dục của NKT vẫn còn hạn chế. Ở một số địa phương, nhiều gia đình chưa thực sự quan tâm hoặc chưa có điều kiện cho con em khuyết tật đến trường, dẫn đến tình trạng trẻ khuyết tật bỏ học hoặc không được tiếp cận giáo dục. “Tỷ lệ người khuyết tật ở nông thôn được hỗ trợ học nghề chưa cao, cho thấy vẫn còn khoảng cách trong việc triển khai các chương trình phát triển kỹ năng cho nhóm đối tượng này” [5]. Đồng thời, định kiến xã hội đối với NKT vẫn còn tồn tại ở một mức độ nhất định, ảnh hưởng đến cơ hội học tập và hòa nhập của họ. Tính đến 2025, “hiện cả nước có khoảng 484.600 trẻ em khuyết tật trong độ tuổi từ 2 đến 15 tuổi, phần lớn trong số đó sống ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nhiều em gặp trở ngại kép khi vừa mang khuyết tật, vừa sống trong gia đình nghèo, thiếu điều kiện về kinh tế, cơ sở vật chất học tập, phương tiện hỗ trợ và môi trường giáo dục phù hợp. Không ít trẻ em khuyết tật phải bỏ học sớm hoặc không có cơ hội đến trường do gia đình không đủ khả năng trang trải chi phí học tập, sinh hoạt, đi lại, phục hồi chức năng” [6]. Những hạn chế này cho thấy việc bảo đảm quyền giáo dục cho NKT ở Việt Nam vẫn cần tiếp tục được quan tâm, đầu tư và hoàn thiện trong thời gian tới.

2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền giáo dục của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Việc bảo đảm quyền giáo dục của NKT không chỉ là yêu cầu của hệ thống pháp luật mà còn là biểu hiện của tính nhân văn và sự phát triển bền vững của xã hội. Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc tạo điều kiện cho NKT tiếp cận giáo dục, song thực tiễn vẫn còn không ít khó khăn và hạn chế cần được khắc phục. Do đó, để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền giáo dục của NKT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

2.3.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách liên quan đến giáo dục NKT. Mặc dù Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng như Luật Người khuyết tật năm 2010 và Luật Giáo dục năm 2019, song một số quy định vẫn còn mang tính khung, chưa được cụ thể hóa đầy đủ trong quá trình triển khai. Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, cần ban hành các chính sách cụ thể hơn về giáo dục hòa nhập, hỗ trợ học tập, đào tạo nghề và việc làm cho NKT, qua đó tạo hành lang pháp lý vững chắc để bảo đảm quyền học tập của nhóm đối tượng này.

2.3.2. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và hạ tầng giáo dục phù hợp với NKT. Một trong những rào cản lớn đối với NKT trong quá trình tiếp cận giáo dục là điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy, các cơ sở giáo dục cần được đầu tư xây dựng và cải tạo theo hướng tiếp cận toàn diện, bao gồm việc thiết kế đường dốc, thang máy, nhà vệ sinh phù hợp và hệ thống chỉ dẫn dành cho NKT. Bên cạnh đó, cần trang bị các thiết bị hỗ trợ học tập như bảng chữ nổi, sách chữ Braille, thiết bị trợ thính, phần mềm hỗ trợ học tập và các công nghệ hỗ trợ khác. Việc đầu tư cơ sở vật chất phù hợp sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi để NKT tham gia học tập một cách bình đẳng và hiệu quả.

2.3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt. Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và hướng dẫn học sinh khuyết tật trong quá trình học tập. Do đó, cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về phương pháp giáo dục hòa nhập và giáo dục đặc biệt. Các trường sư phạm cần mở rộng chương trình đào tạo giáo viên chuyên ngành Giáo dục đặc biệt nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế. Đồng thời, cần tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên phổ thông về kỹ năng giảng dạy và hỗ trợ học sinh khuyết tật, giúp họ có thể áp dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng dạng khuyết tật.

2.3.4. Phát triển mạnh mẽ mô hình giáo dục hòa nhập. Giáo dục hòa nhập là xu hướng phổ biến trên thế giới và cũng là định hướng quan trọng trong chính sách giáo dục của Việt Nam. Việc phát triển giáo dục hòa nhập giúp NKT có cơ hội học tập cùng với học sinh bình thường trong cùng một môi trường giáo dục, từ đó nâng cao khả năng hòa nhập xã hội. Để thực hiện hiệu quả mô hình này, cần xây dựng chương trình học linh hoạt, phù hợp với khả năng của từng học sinh khuyết tật, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa giáo viên, gia đình và nhà trường trong việc hỗ trợ học sinh.

2.3.5. Tăng cường hỗ trợ tài chính và chính sách an sinh xã hội cho NKT trong giáo dục. Chi phí học tập và sinh hoạt có thể là rào cản lớn đối với nhiều gia đình có NKT. Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục duy trì và mở rộng các chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, hỗ trợ chi phí học tập và cung cấp các phương tiện học tập cần thiết cho học sinh, sinh viên khuyết tật. Đồng thời, cần khuyến khích các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cá nhân tham gia hỗ trợ tài chính cho các chương trình giáo dục dành cho NKT, qua đó huy động thêm nguồn lực xã hội để bảo đảm quyền học tập của họ.

2.3.6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội về quyền giáo dục của NKT. Nhận thức của cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho NKT. Do đó, cần tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về quyền và khả năng của NKT, đồng thời xóa bỏ các định kiến và rào cản tâm lý đối với họ. Các phương tiện truyền thông, tổ chức xã hội và cơ sở giáo dục cần tích cực tham gia vào quá trình này nhằm tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ từ cộng đồng.

2.3.7. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục NKT. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ học tập cho NKT. Các nền tảng học tập trực tuyến, phần mềm hỗ trợ đọc chữ, nhận dạng giọng nói hay công nghệ hỗ trợ giao tiếp có thể giúp NKT tiếp cận tri thức một cách dễ dàng hơn. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc phát triển các nền tảng giáo dục số phù hợp với nhu cầu của NKT, đồng thời đào tạo kỹ năng sử dụng công nghệ cho giáo viên và học sinh nhằm khai thác hiệu quả các công cụ này trong quá trình học tập.

3. Kết luận

Bảo đảm quyền giáo dục của NKT là một nội dung quan trọng trong chính sách an sinh xã hội và phát triển con người ở Việt Nam. Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật nhằm tạo điều kiện cho NKT được tiếp cận giáo dục một cách bình đẳng. Nhờ đó, cơ hội học tập của NKT ngày càng được mở rộng, các mô hình giáo dục hòa nhập được phát triển và nhiều chương trình hỗ trợ thiết thực đã được triển khai. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế như cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ, đội ngũ giáo viên chuyên môn còn thiếu và nhận thức xã hội chưa thật sự đồng đều. Vì vậy, trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường đầu tư cho giáo dục hòa nhập, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đẩy mạnh sự tham gia của toàn xã hội nhằm bảo đảm tốt hơn quyền giáo dục của NKT.

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Xuân Hải, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Thị Thu Hằng, Lê Thị Thúy Hằng (2025). Chính sách giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Khoa học giáo, 70(2):140-152.

[2] Quốc hội (2010) Luật số: 51/2010/QH12 ngày 17/6/2010, Luật Người khuyết tật. [3] Quốc hội (2010), Luật số: 43/2019/QH14 NGÀY 14/6/2019, Luật Giáo dục.

[4] Quốc hội (2025), Luật số: 124/2025/QH15 ngày 10/12/2025, Luật Giáo dục nghề nghiệp.

[5] Thành Sơn (2025). Việt Nam quan tâm bảo đảm quyền của người khuyết tật. Báo Nhân dân, ngày 11/3/2025.

[6]  Thu Thủy (2025). Bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em khuyết tật. https://baohiemxahoi.gov.vn, ngày 19/12/2025.

 

 

Tiêu điểm
Tiêu điểm
17/04/2026 4

Thanh Hóa quyết liệt đấu tranh, từng bước làm sạch địa bàn ma túy

(GD&XH). Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy giai đoạn 2025–2030 và chỉ đạo của Bộ Công an, Công an tỉnh Thanh Hóa đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từng bước xây dựng xã, phường không ma túy, đặc biệt tại khu vực miền núi, biên giới.
Xem tất cả
17/04/2026 4
(GD&XH). Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy giai đoạn 2025–2030 và chỉ đạo của Bộ Công an, Công an tỉnh Thanh Hóa đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từng bước xây dựng xã, phường không ma túy, đặc biệt tại khu vực miền núi, biên giới.
Xem chi tiết
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả