BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI THÔNG QUA ĐỒNG DAO

15/04/2026 - 09:59      91 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

NGUYỄN THỊ HUYỀN ANH

Trường Đại học Sài Gòn

Abstract

This study investigates measures to develop vocabulary for 3-4-year-old preschool children through the use of Vietnamese nursery rhymes, grounded in theoretical foundations and practical observations in early childhood education. Based on an experimental design with control and experimental groups, the proposed measures - including systematic selection of rhymes, integration of visual - verbal - practical methods, and rhyme-based games - demonstrated significant improvements in children’s pronunciation, word comprehension, and contextual word use. The findings confirm the effectiveness of nursery rhymes as an engaging and culturally appropriate means of enhancing vocabulary in the preschool environment.

Keywords: Nursery rhymes, early childhood education, language development, vocabulary development, preschool children, play-based learning.

1. Đặt vấn đề

Phát triển ngôn ngữ là một trong những lĩnh vực giáo dục trọng tâm trong Chương trình Giáo dục mầm non (GDMN), giữ vai trò nền tảng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023), mục tiêu phát triển ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở việc giúp trẻ nghe và nói mà còn hướng tới mở rộng vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa và sử dụng ngôn ngữ phù hợp trong các tình huống giao tiếp hằng ngày [1]. Vốn từ được hiểu là số lượng từ hay tập hợp các từ cần thiết được trẻ ghi nhớ và sử dụng trong giao tiếp cũng như để tiếp thu các tri thức ban đầu [2, tr.104]. Ở giai đoạn 3-4 tuổi, trẻ bước vào thời kỳ phát triển mạnh về từ vựng, có khả năng tiếp nhận nhanh các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng và hành động quen thuộc, đồng thời nhạy cảm với âm thanh, nhịp điệu và vần điệu của ngôn ngữ [2, tr. 93].

Văn học dân gian được cho là có vai trò quan trọng trong việc mở rộng hiểu biết của trẻ nhỏ về thế giới xung quanh dựa trên những khái quát về đặc điểm tiếp nhận, nguyên tắc lụa chọn, sự đa dạng của các phương tiện và vận dụng hệ thống phương pháp, biện pháp hiệu quả, góp phần phát triển trí tuệ và ngôn ngữ của trẻ nhỏ [3]. Dựa trên nét đặc trưng của thể loại về nội dung phản ánh và đặc điểm nghệ thuật, đồng dao được xem là một hình thức văn học dân gian có nhiều ưu thế. Đồng dao là những bài ca dân gian do trẻ em diễn xướng trong hoạt động vui chơi và sinh hoạt hằng ngày của trẻ [4, tr. 108]. Đồng dao Việt Nam có chức năng giáo dục trẻ em một cách nhẹ nhàng và sinh động bằng việc học qua chơi, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo. Cùng với việc phát triển nhận thức, đồng dao còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc cung cấp những khái niệm đầu tiên với vốn từ gọi tên, mô tả đặc điểm, chức năng của các sự vật, hiện tượng quen thuộc [5, tr. 260]. Xét tác dụng cụ thể, đồng dao với đặc điểm ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, cấu trúc ngắn gọn, giàu nhịp điệu và tính lặp, gắn liền với trò chơi và vận động, giúp trẻ lĩnh hội từ ngữ một cách tự nhiên thông qua trải nghiệm và hành động [3], [5], [6]. Nhờ đó, đồng dao không chỉ góp phần phát triển nhận thức mà còn là phương tiện hiệu quả trong việc làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo.

Trong thực tiễn giáo dục mầm non, việc sử dụng đồng dao nhằm phát triển vốn từ (PTVT) cho trẻ 3-4 tuổi vẫn còn mang tính tự phát, chưa được khai thác một cách hệ thống và gắn chặt với mục tiêu phát triển ngôn ngữ. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, bài báo tập trung nghiên cứu và đề xuất các biện pháp PTVT cho trẻ mẫu giáo (MG) 3-4 tuổi thông qua đồng dao, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ngôn ngữ trong trường mầm non hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

Trong khuôn khổ bài báo này, PTVT cho trẻ MG được hiểu là cung cấp cho trẻ vốn từ cần thiết về những sự vật, hiện tượng tồn tại và diễn ra xung quanh, liên quan đến cuộc sống cá nhân của trẻ, giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội. Để xác định được các biện pháp PTVT cho trẻ, trước hết phải xác định được cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và các nguyên tắc của việc xây dựng biện pháp.

2.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn và các nguyên tắc xây dựng biện pháp giáo dục

2.1.1. Cơ sở lý luận

Ngôn ngữ của trẻ MG 3-4 tuổi phát triển rất nhanh, đặc biệt là vốn từ. Các nhà nghiên cứu gọi đó là “thời kì phát cảm ngôn ngữ” của trẻ, do đây là giai đoạn đứa trẻ có thể tiếp nhận được vốn từ vựng nhiều nhất, xét về cả tốc độ tích lũy và số lượng từ tích cực mà trẻ được tiếp nhận. Vì vậy, trẻ có thể tích lũy và lĩnh hội số lượng lớn vốn từ ngữ liên quan đến những sự vật, sự việc, hành động và hiện tượng quen thuộc, gần gũi với cuộc sống xung quanh trẻ một cách hiệu quả. Thể loại đồng dao mang đến cho trẻ những hiểu biết về đời sống con người, những giá trị văn hóa được cộng đồng thừa nhận và thực hiện từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đối với trẻ, những ấn tượng từ những hình ảnh, âm thanh ngôn ngữ và nhịp điệu sẽ tạo dấu ấn trong tâm hồn các em. Bản chất của trẻ vốn giàu xúc cảm nên trẻ có thể cảm nhận được mọi vẻ đẹp trong thiên nhiên và trong cuộc sống. Đồng dao là nền tảng giúp trẻ xác lập được mối quan hệ tích cực với môi trường xung quanh. Ngoài ra, sự nhạy cảm với âm thanh, nhịp điệu của trẻ ở độ tuổi này chính là điều kiện thuận lợi để các nhà giáo dục tận dụng đồng dao như một phương tiện hiệu quả để rèn luyện, bồi dưỡng tiếng nói cho trẻ thông qua việc phát triển khả năng ngôn ngữ và cụ thể là PTVT cho trẻ.

2.1.2. Cơ sở thực tiễn

                Việc PTVT cho trẻ cần phải quan tâm đến thực tiễn như sau: 1) Đa số GV mầm non nhận thức được lợi thế của đồng dao đối với quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ; 2) GV chủ yếu tập trung vào vốn đồng dao sẵn có nên việc tổ chức và sử dụng đồng dao chưa đạt hiệu quả nhất định gắn với mục tiêu phát triển ngôn ngữ, cụ thể là tăng vốn từ cho trẻ; 3) GV gặp khó khăn trong việc lựa chọn hoặc chưa có cách thức sử dụng đồng dao trong hoạt động PTVT cho trẻ. Vì vậy, việc sưu tầm đồng dao và nghiên cứu đề xuất biện pháp sử dụng đồng dao phù hợp với nội dung PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi là cần thiết.

2.1.3. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp

                Việc xây dựng các biện pháp cần phải dựa trên những nguyên tắc nhất định. Đây là các nguyên tắc đã được kiểm chứng và khái quát hóa qua thực tế sử dụng để điều tra và cải thiện thực trạng PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi thông qua đồng dao: 1) Lựa chọn và sử dụng đồng dao trong quá trình PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi cần phải góp phần thực hiện mục tiêu GDMN nói chung và nội dung PTVT cho trẻ nói riêng; 2) Lựa chọn và sử dụng đồng dao phải phù hợp với đặc điểm phát triển, đặc điểm vốn từ của trẻ MG 3-4 tuổi; 3) PTVT cho trẻ phải đảm bảo tính trực quan, cụ thể.

2.2. Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi thông qua đồng dao

Từ cơ sở lý luận, thực tiễn và các nguyên tắc để xây dựng biện pháp PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi thông qua đồng dao, tác giả đề xuất 03 biện pháp như sau:

2.2.1. Xây dựng bộ sưu tập các bài đồng dao phù hợp với mục đích phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

a. Mục tiêu: Sưu tầm và lựa chọn được những bài đồng dao thu hút trẻ tích cực, hứng thú tham gia hoạt động giáo dục ngôn ngữ và giúp trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập dễ dàng hơn.

b. Nội dung: Để tổ chức hoạt động sử dụng đồng dao nhằm cung cấp vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi, đảm bảo giá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc và phù hợp với hứng thú của trẻ, các bài đồng dao được lựa chọn và sưu tầm với mục đích làm giàu vốn từ cho trẻ theo các nội dung giáo dục sau: đồng dao cung cấp những từ ngữ về cuộc sống cá nhân trẻ, các mối quan hệ trong xã hội và thế giới xung quanh trẻ (vốn từ ngữ chỉ tên gọi các sự vật, hành động, hiện tượng tự nhiên gần gũi và quen thuộc với trẻ); đồng dao  rèn luyện khả năng phát âm cho trẻ; đồng dao giúp trẻ mở rộng cách sử dụng từ phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.

c. Cách tiến hành: - Sưu tầm các bài đồng dao từ nhiều nguồn khác nhau có mục đích rèn luyện trí tuệ cho trẻ như: chương trình GDMN, sách, báo, Internet, sưu tầm đồng dao cổ ở địa phương bằng cách quan sát và ghi chép, trao đổi, trò chuyện với các ông bà, những người lớn tuổi để tìm hiểu thêm về các bài đồng dao; - Lựa chọn đồng dao và phân loại chúng theo các nội dung giáo dục để sử dụng vào quá trình PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi; - Sắp xếp các bài đồng dao đã được lựa chọn thành một hệ thống từ dễ đến khó theo nhu cầu nhận thức để thuận tiện cho việc sử dụng chúng trong quá trình PTVT cho trẻ.

2.2.2. Sử dụng phối hợp các biện pháp trực quan, dùng lời và thực hành trong quá trình tổ chức hoạt động học, chơi với đồng dao nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

a. Mục tiêu: Giúp trẻ nắm được nội dung bài đồng dao, cách phát âm chuẩn và hiểu được nghĩa của những từ ngữ cần cung cấp sau đó cho trẻ củng cố vốn từ vựng thông qua những bài tập rèn luyện, tham gia vào các trò chơi ngôn ngữ hoặc trò chơi vận động để thoả mãn nhu cầu muốn chơi và nhu cầu nhận thức của trẻ.

b. Nội dung: Sử dụng phối hợp các phương pháp trực quan, dùng lời với thực hành để lôi cuốn và khuyến khích trẻ đến với đồng dao nhằm PTVT cho trẻ, ví dụ: “Con rùa”, “Lúa ngô là cô đậu nành”, “Vừa mưa vừa nắng”, “Con cua mà có hai càng”, “Tu hú là chú chim ri” ...

c. Cách tiến hành: GV có thể giới thiệu về các bài đồng dao, giới thiệu một số hình ảnh minh họa kết hợp với dùng lời để giảng giải những từ ngữ cần cung cấp cho trẻ. Tạo cơ hội để trẻ được thực hành nhằm củng cố những kiến thức và rèn luyện những kỹ năng mà trẻ vừa được học. Ví dụ: GV vừa đọc bài đồng dao “Vừa mưa vừa nắng” vừa cho trẻ xem bức tranh tương ứng, GV hỏi trẻ những sự vật, hiện tượng xuất hiện trong bức tranh và bài đồng dao (mưa, nắng, con rắn, cây cau, cái rổ, con cóc, con chim), từ đó không chỉ cung cấp những từ chỉ tên gọi sự vật, hiện tượng trên mà còn giúp trẻ hình thành biểu tượng về số lượng (hai). vì có sự lặp đi, lặp lại trong mỗi câu đồng dao nên sẽ dễ dàng giúp trẻ ghi nhớ, đồng thời kết hợp với việc quan sát trực tiếp tranh minh họa, trẻ càng có tư liệu để ghi nhớ. cuối cùng, GV cho trẻ tìm kiếm và kết hợp những đối tượng giống nhau để trẻ hình thành biểu tượng số “hai” (hai chiếc dép, hai cây bút, hai cái khăn, hai cái gối…). Lưu ý khi cho trẻ thực hành cần lựa chọn những biểu tượng mà trẻ đã có sẵn.

Cho trẻ quan sát tranh ảnh, hành động mẫu, cho trẻ nghe cách đọc mẫu bài đồng dao kết hợp với đàm thoại, thảo luận cùng với trẻ về những đối tượng mà trẻ được quan sát, đặt câu hỏi, lời gợi ý ngắn gọn dễ hiểu về đối tượng đó, mở rộng vốn từ cho trẻ dựa trên vốn từ ngữ trẻ đã có giúp trẻ nắm rõ cách sử dụng vốn từ ngữ đó... GV có thể đọc cùng trẻ, sau đó GV hướng dẫn cho trẻ tự đọc bằng nhiều hình thức khác nhau (cá nhân, tập thể, chia nhóm…). Trong quá trình trẻ đọc cùng nhau cô quan sát, chú ý theo dõi và phát hiện sửa lỗi cho trẻ.

2.2.3. Sử dụng các trò chơi kết hợp với đồng dao nhằm củng cố, làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

a. Mục đích: Giúp trẻ hiểu đúng và hiểu sâu ý nghĩa của các từ ngữ, khái niệm chỉ sự vật, hiện tượng, hành động xuất hiện trong lời đồng dao thông qua các hành động chơi cụ thể.

b. Nội dung: Lựa chọn và tổ chức các trò chơi có kèm theo lời đồng dao quen thuộc, giàu hình ảnh, có cấu trúc ngôn ngữ đơn giản, nhịp điệu rõ ràng, phù hợp với khả năng tiếp nhận của trẻ MG 3-4 tuổi. trò chơi đồng dao chủ yếu là các trò chơi vận động hoặc trò chơi mô phỏng, trong đó mỗi hành động chơi đều gắn với các từ ngữ, khái niệm cụ thể trong lời đồng dao. các trò chơi cần đảm bảo tính hấp dẫn, lôi cuốn, khuyến khích trẻ tham gia tích cực và có sự liên kết chặt chẽ giữa nội dung lời đồng dao với hành động chơi.

c. Cách tiến hành: GV cần tổ chức cho trẻ làm quen và học thuộc lời đồng dao trước khi tiến hành trò chơi nhằm tạo hứng thú và giúp trẻ chủ động tham gia. Trong quá trình tổ chức trò chơi, GV giới thiệu rõ luật chơi, hướng dẫn cách chơi, đồng thời cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết để thực hiện nhiệm vụ chơi.

Khi trẻ tham gia chơi, GV quan sát, khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ để giải quyết các tình huống nảy sinh trong trò chơi như gọi tên bạn, mô tả hành động, đoán hoặc nhận xét kết quả chơi. Việc này giúp trẻ vận dụng vốn từ một cách linh hoạt và có ý nghĩa. Ví dụ trong trò chơi “Rùa con mất tích”, trẻ đóng vai những chú rùa con, đội “mai rùa” là những chiếc gối và vừa bò quanh lớp vừa đọc lời bài đồng dao “Con rùa”. Khi đọc đến câu “Đến khi tối trời/Úp nhà đi ngủ”, trẻ thực hiện hành động úp mặt xuống sàn và che mắt; đến câu “Lại thò đầu ra”, trẻ mở mắt để quan sát và đoán bạn “rùa con” đã bị che mất. Thông qua các hành động chơi như úp mặt, đội gối, thò đầu ra…, trẻ hiểu chính xác nghĩa của các từ “úp”, “đội”, “thò”, đồng thời rèn luyện khả năng quan sát, ghi nhớ và gọi tên bạn. Với hình thức truyền khẩu, lời đồng dao được lặp đi, lặp lại nhiều lần trong quá trình chơi, tạo nên những ấn tượng sâu sắc và duy trì hứng thú lâu dài cho trẻ. Thông qua “học bằng chơi, chơi mà học”, vốn từ và kinh nghiệm ngôn ngữ mà trẻ tích lũy được không chỉ có giá trị trước mắt mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển ngôn ngữ lâu dài của trẻ.

2.3. Tổ chức thực nghiệm

Để đánh giá hiệu quả của các biện pháp đề xuất, nghiên cứu tổ chức thực nghiệm với 02 nhóm lựa chọn ngẫu nhiên, gồm 30 trẻ thuộc nhóm thực nghiệm (TN) và 30 trẻ thuộc nhóm đối chứng (ĐC) ở Trường Mầm non Họa mi 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Mức độ PTVT của trẻ được đánh giá thông qua 03 tiêu chí tương ứng với 03 bài tập, cụ thể như sau:

Bài tập 1: Tìm hiểu khả năng phát âm của trẻ

- Trẻ phát âm từ phải chính xác, đầy đủ các thành phần của âm tiết như: phụ âm đầu, phần vần, thanh điệu.

- Trẻ không nói ngọng, không lắp, không ê a, phải nói rõ ràng từ đó.

Bài tập 2: Tìm hiểu khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ

- Trẻ phải gắn được âm thanh của từ với một biểu tượng về đồ vật, một sự vật, một hiện tượng nào đó mà từ biểu thị.

- Trẻ biết phân biệt tên gọi của đồ vật này với đồ vật khác.

- Trẻ biết được công dụng, cấu tạo, chức năng riêng biệt của từng đồ vật.

Bài tập 3: Tìm hiểu khả năng sử dụng từ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp

- Trẻ biết sử dụng đúng từ vào trong hoàn cảnh giao tiếp là mục đích cuối cùng của việc mở rộng cách sử dụng từ cho trẻ. Ở bài tập này, trẻ chỉ được cho điểm khi lựa chọn được đúng từ đã học vào trong hoàn cảnh giao tiếp.

Kết quả mức độ PTVT của 02 nhóm trẻ trước và sau thực nghiệm được thể hiện như sau (xem bảng 1).

Bảng 1: So sánh mức độ PTVT của các nhóm trước và sau thử nghiệm

N=30

Nhóm ĐC

trước thực nghiệm

Nhóm ĐC

sau thực nghiệm

Nhóm TN

trước thực nghiệm

Nhóm TN

sau thực nghiệm

Điểm trung bình ()

5.88

6.03

5.90

6.76

Độ lệch chuẩn (S)

1.33

1.29

1.32

1.26

Kết quả ở bảng 1 cho thấy, mức độ PTVT của trẻ cả hai nhóm thử nghiệm và đối chứng sau TN đều tăng lên so với kết quả đo trước TN. Nếu như kết quả đo mức độ PTVT của trẻ 3 - 4 tuổi trước TN cả hai nhóm TN và ĐC có sự chênh lệch không đáng kể (TN = 5.9; ĐC = 5.88) thì sau TN kết quả đo mức độ PTVT của trẻ giữa hai nhóm thử nghiệm và đối chứng đã có sự khác biệt rất rõ (TN = 6.76;ĐC = 6.03), độ phân tán điểm kiểm tra của từng trẻ trong nhóm thử nghiệm nhỏ hơn so với nhóm đối chứng (STN = 1.26 < SĐC = 1.29). Để minh chứng rõ hơn cho sự khác biệt có ý nghĩa giữa điểm trung bình của nhóm TN sau thử nghiệm, chúng tôi dùng kiểm nghiệm t trên điểm trung bình cộng của các nhóm so với điểm trung bình cộng của toàn bộ trẻ trong khảo sát đầu vào (N=60, M=5.9), kết quả như sau:

Bảng 2: Kiểm định kết quả thử nghiệm của các nhóm trước và sau TN

 

Nhóm so sánh

Test Value = 5.9

t

df

Sig. (2-tailed)

Mean Difference

95% Confidence Interval of the Difference

Lower

Upper

Nhóm ĐC trước thực nghiệm (ĐCTTN)

-.069

29

.946

-.0167

-.514

.480

Nhóm ĐC sau thực nghiệm (ĐCSTN)

.565

29

.576

.1333

-.349

.616

Nhóm TN trước thực nghiệm (TNTTN)

.000

29

1.000

.0000

-.496

.496

Nhóm TN sau thực nghiệm (TNSTN)

3.754

29

.001

.8667

.395

1.339

Nhìn bảng số liệu, khi so sánh điểm trung bình của từng nhóm TN và ĐC (trước và sau TN) với điểm trung bình của toàn bộ trẻ khảo sát ban đầu ta thấy chỉ có sigα của nhóm TN sau thử nghiệm đạt 0.001<0.05, tức có sự khác biệt có ý nghĩa. Còn những giá trị còn lại đều không có sự khác biệt có ý nghĩa (sigα>0.05). Điều này cho thấy sự chênh lệch điểm số của nhóm TN là do có tác động chứ không phải ngẫu nhiên.

Bên cạnh đó, khi so sánh theo từng cặp, cũng có kết quả tương tự:

Bảng 3: So sánh kết qủa thử nghiệm theo cặp các nhóm trước và sau TN

Nhóm so sánh

sigα

Kết luận

ĐCTTN - TNTTN

0.899

>0.05 => không có sự khác biệt

ĐCTTN - ĐCSTN

0.184

>0.05 => không có sự khác biệt

TNTTN - TNSTN

0.000

<0.05 => có sự khác biệt

ĐCSTN - TNSTN

0.000

<0.05 => có sự khác biệt

Đầu tiên, ta thấy có sự cân bằng ở khảo sát đầu vào giữa hai nhóm TN và ĐC với sigα = 0.899>0.05, tức không có sự khác biệt có ý nghĩa, cộng với những thông tin đã nêu ở phần mô tả về đối tượng khảo sát, cho thấy ở hai nhóm có sự đồng đều về vốn từ.

Tiếp đến, so sánh cặp ĐCTTN - ĐCSTN, ta thấy sigα = 0.184>0.05, tức không có sự khác biệt có ý nghĩa, hay nói cách khác, trước và sau TN, vốn từ của nhóm ĐC vẫn không có sự phát triển một cách đặc biệt, vượt trội. Trong khi đó, ở cặp TNTTN - TNSTN lại có sigα = 0.000<0.05, tức có khác biệt có ý nghĩa, hay nói cách khác, biện pháp tác động đã giúp nhóm TN đạt được sự phát triển đáng kể trong vốn từ, tạo nên sự khác biệt so với đầu vào. Bên cạnh đó, khi so sánh với nhóm ĐC sau TN, thì cũng có kết quả tương tự. Cụ thể, ở cặp ĐCSTN - TNSTN có sigα = 0.000<0.05, tức có khác biệt có ý nghĩa, nghĩa là sự khác biệt điểm số ở đây không phải do ngẫu nhiên, hú họa mà là do việc tác động có ý thức dẫn đến kết quả có sự cách biệt ý nghĩa.

Kết quả kiểm định cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm sau thực nghiệm (p < 0.05), bước đầu chứng minh hiệu quả của biện pháp can thiệp. Tất nhiên, việc thử nghiệm cần được triển khai thêm về chiều rộng và chiều sâu hơn thì mới thật sự khẳng định được giá trị của chúng nhưng kết quả ban đầu này đã góp phần định hướng cho những nghiên cứu có liên quan được thuận lợi và thành công hơn. Trong quá trình tiến hành thử nghiệm, các GV tham gia TN đều cho rằng việc sử dụng đồng dao trong quá trình giáo dục ngôn ngữ không những đạt được mục tiêu PTVT cho trẻ mà còn mang lại niềm vui cho trẻ. Trẻ rất thích thú với thể loại dân gian này, trẻ có thể hát và chơi ở mọi nơi, mọi lúc. Việc thực hiện những hoạt động có sử dụng đồng dao không đòi hỏi thời gian chuẩn bị quá nhiều và vẫn có tác dụng lớn đến việc nâng cao hiệu quả phát triển vốn từ cho trẻ MG 3-4 tuổi. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định, cụ thể: 1) Quy mô mẫu thực nghiệm còn hạn chế và chỉ được tiến hành tại một cơ sở GDMN, do đó tính đại diện và khả năng khái quát hóa kết quả chưa cao; 2) Thời gian thực nghiệm tương đối ngắn, chủ yếu phản ánh tác động trước mắt của biện pháp, chưa đánh giá được hiệu quả lâu dài đối với sự phát triển vốn từ của trẻ; 3) Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng đồng dao mà chưa có sự so sánh với các phương tiện phát triển ngôn ngữ khác. Bên cạnh đó, công cụ đánh giá chủ yếu dựa trên các bài tập kiểm tra, chưa kết hợp sâu các phương pháp định tính. Ngoài ra, hiệu quả biện pháp có thể chịu ảnh hưởng bởi năng lực tổ chức của GV thực nghiệm.

3. Kết luận

Trên cơ sở phân tích đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ, cơ sở lý luận và thực tiễn GDMN, việc PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi thông qua đồng dao cần vận dụng linh hoạt các biện pháp như: xây dựng hệ thống đồng dao phù hợp mục tiêu giáo dục, phối hợp các phương pháp trực quan, dùng lời, thực hành khi tổ chức hoạt động với đồng dao và sử dụng trò chơi kết hợp với đồng dao nhằm củng cố và làm giàu vốn từ cho trẻ. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định vai trò và hiệu quả của việc sử dụng đồng dao trong PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị đối với nhà trường và GV. Về phía nhà trường, cần linh hoạt lựa chọn và sử dụng các phương tiện phù hợp với mục tiêu phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là nhiệm vụ PTVT; tăng cường trao đổi chuyên môn nhằm lồng ghép nội dung này vào các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ; đồng thời khuyến khích GV tìm tòi, sáng tạo trong việc khai thác và sử dụng đồng dao. Về phía GV, cần được bồi dưỡng kiến thức về vốn từ vựng và lý luận phát triển ngôn ngữ cho trẻ, chủ động tiếp cận nguồn đồng dao phù hợp. Bên cạnh đó, GV cần xây dựng môi trường giao tiếp tích cực, vận dụng linh hoạt các biện pháp tổ chức hoạt động nhằm đảm bảo sự tác động thường xuyên, liên tục và phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục.

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Chương trình giáo dục mầm non. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

[2] Đinh Hồng Thái (2015). Giáo trình Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non. NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

[3] Hà Nguyễn Kim Giang (2009). Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học. NXB Giáo dục Hà Nội.

[4] Lê  Bá  Hán,  Trần Đình Sử,  Nguyễn  Khắc  Phi  (2000). Từ điển  thuật  ngữ văn học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

[5] Nguyễn Nghĩa Dân (2005). Đồng dao Việt Nam. NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

[6] Trần Gia Linh (2007). Kho tàng đồng dao Việt Nam. NXB Giáo dục, Hà Nội.

 

Tiêu điểm
Tiêu điểm
17/04/2026 4

Thanh Hóa quyết liệt đấu tranh, từng bước làm sạch địa bàn ma túy

(GD&XH). Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy giai đoạn 2025–2030 và chỉ đạo của Bộ Công an, Công an tỉnh Thanh Hóa đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từng bước xây dựng xã, phường không ma túy, đặc biệt tại khu vực miền núi, biên giới.
Xem tất cả
17/04/2026 4
(GD&XH). Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy giai đoạn 2025–2030 và chỉ đạo của Bộ Công an, Công an tỉnh Thanh Hóa đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từng bước xây dựng xã, phường không ma túy, đặc biệt tại khu vực miền núi, biên giới.
Xem chi tiết
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả