PHẠM THỊ KIM PHÚC[1]
Trường Đại học Sao Đỏ
Tóm tắt: Trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học hiện nay, việc phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của sinh viên trở thành một yêu cầu quan trọng trong quá trình đào tạo. Khoa May và Thời trang - trường Đại học Sao Đỏ, hoạt động tự học và tự nghiên cứu của sinh viên đã được quan tâm và bước đầu đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: sinh viên chưa thật sự chủ động trong học tập, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin còn hạn chế, phương pháp tự học, tự nghiên cứu chưa hiệu quả, việc khai thác tài liệu phục vụ học tập chưa được phát huy đầy đủ. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên Khoa May và Thời trang - trường Đại học Sao Đỏ là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện nay.
Từ khoá: Nâng cao chất lượng; tự học; tự nghiên cứu; trường Đại học Sao Đỏ
1. Đặt vấn đề
Tự học, tự nghiên là vấn đề quan trọng và cần thiết đối với sinh viên (SV) hiện nay. Một số SV chưa có phương pháp học tập hợp lý, trong khi yêu cầu về tính chủ động trong học tập là rất cao. Để nắm bắt toàn diện những kiến thức chuyên môn ở bậc Đại học đòi hỏi SV phải có nhiều nỗ lực trong hoạt động học tập, đặc biệt phải dành nhiều thời gian cho việc tự học, tự nghiên cứu, cần có một phương pháp học tập đúng đắn, phù hợp và hiệu quả. Mô hình đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một mô hình mới, trong khi các phương tiện và thiết bị hỗ trợ học tập còn hạn chế. Trong nhà trường, bản chất của sự học là tự học, tự nghiên cứu, cốt lõi của dạy học là dạy việc học, kết quả của người học tỷ lệ thuận với năng lực tự học, tự nghiên cứu của người học. Thực tế hiện nay, hoạt động tự học, tự nghiên cứu của SV các trường đại học nói chung vẫn còn nhiều hạn chế như: SV chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học, tự nghiên cứu; chưa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tự học cho bản thân. Đối với các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao như ngành công nghệ May và Thời trang, SV không chỉ cần nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn phải thường xuyên cập nhật các kỹ thuật may, công nghệ sản xuất và xu hướng thời trang mới. Vì vậy, khả năng tự học, tự nghiên cứu có vai trò quyết định đến chất lượng đào tạo cũng như năng lực nghề nghiệp của SV sau khi tốt nghiệp
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Một số vấn đề lý luận
2.1.1. Khái niệm tự học tự nghiên cứu
Tự học là một hoạt động tự giác, tích cực, gắn liền với ý thức, thái độ, động cơ, tình cảm, ý chí, … của người học nhằm biến những kiến thức và kĩ năng nhận được từ kho tàng tri thức của nhân loại thành tài sản riêng của người học. Bên cạnh đó, người học đào sâu kiến thức và mài giũa các kĩ năng này, cố gắng liên hệ và áp dụng chúng vào cuộc sống thực tiễn của mỗi cá nhân người học [8, pp.1-18].
Tự học không chỉ là việc học ngoài giờ lên lớp mà còn bao gồm các hoạt động như: tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu tài liệu chuyên ngành, làm bài tập, thực hành, trao đổi học thuật và tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH).
Tự nghiên cứu là quá trình SV chủ động tìm hiểu, phân tích và khám phá tri thức mới thông qua các phương pháp MCKH. Hoạt động này thường được thể hiện thông qua các hình thức như: làm tiểu luận, thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học SV, tham gia các dự án học tập hoặc nghiên cứu các vấn đề thực tiễn trong sản xuất [8, pp.1-18].
Đối với SV ngành May và Thời trang, tự nghiên cứu có thể bao gồm các nội dung như: Nghiên cứu quy trình công nghệ may và thời trang; phân tích cấu trúc và thiết kế sản phẩm thời trang; nghiên cứu vật liệu dệt may; tìm hiểu và đề xuất cải tiến trong quy trình sản xuất.
2.1.2. Vai trò của tự học, tự nghiên cứu ở bậc Đại học
Tự học, tự nghiên cứu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập ở bậc Đại học đối với SV, thể hiện ở các khía cạnh sau: 1) Giúp SV chủ động tiếp thu kiến thức, SV có thể tự tìm hiểu, mở rộng và đào sâu kiến thức ngoài nội dung được giảng dạy trên lớp. 2) Phát triển tư duy độc lập và sáng tạo, trong quá trình tự học tự nghiên cứu hình thành cho SV khả năng phân tích, tổng hợp và giải quyết vấn đề. 3) Nâng cao năng lực nghề nghiệp, đối với các ngành kỹ thuật và công nghệ như ngành may, tự học tự nghiên cứu giúp SV cập nhật công nghệ, kỹ thuật mới trong sản xuất. 4) Hình thành thói quen học tập suốt đời, đây là một yêu cầu quan trọng trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng.
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
Tự học là đề tài được rất nhiều nhà giáo dục quan tâm đến, cụ thể như sau: Powers và Swinton (1985) đã nghiên cứu “Ảnh hưởng của tự học đối với kết quả thi đầu vào các chương trình cao học ngành khoa học và kĩ thuật tại Hoa Kì (GRE)” [7]. Ngoài ra, tác giả Hà Thị Đức (1992) [2, tr. 23] nghiên cứu hoạt động tự học của SV ngành Sư phạm. Tác giả cho rằng, tự học là quá trình tạo ra sự biến đổi các mô hình tâm lí trong hoạt động nhận thức của người học. Trên cơ sở khảo sát hiện trạng tự học của SV Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tác giả Hà Thị Đức đã đề xuất việc tổ chức, điều khiển hợp lí hoạt động tự học nhằm nâng cao ý thức tự học cho SV. Điểm mạnh của nghiên cứu này là tác giả phân tích vấn đề thực trạng việc tự học của SV theo phương pháp nghiên cứu định lượng [2].
Theo tác giả, chất lượng tự học và tự nghiên cứu của SV chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan.
Một là: Yếu tố cá nhân (chủ quan)
+ Nhận thức: nhận thức của người học phụ thuộc vào sự hiểu biết về mục đích ý nghĩa và vai trò của tự học tự nghiên cứu. Từ đó người học thấy được tầm quan trọng của việc tự học, tự nghiên cứu trong quá trình học tập ở bậc Đại học để chủ động học tập đạt kết quả tốt, đáp ứng mục tiêu của giáo dục và đào tạo.
+ Thái độ tự học tự nghiên cứu: Thái độ tự học, tự nghiên cứu của người học được thể hiện ở nhu cầu, động lực tự học tự nghiên cứu; sự hứng thú, tính tích cực, chủ động tự lực học tập, sự say mê với tinh thần quyết tâm cao và ý chí khắc phục khó khăn để thực hiện được nhiệm vụ học tập.
+ Khả năng tự học tự nghiên cứu: Cùng với hệ thống các yếu tố trên người học phải có khả năng tự học tự nghiên cứu thông qua việc lập kế hoạch, cách thức tổ chức, đặc biệt dựa vào kết quả học tập để quyết tâm phấn đấu. Như thế người học phải tích cực tự học tự nghiên cứu, tự thu thập tài liệu về nội dung, phương pháp, bản thân có nhu cầu tích lũy tri thức cũng như cách thức và kỹ năng tự học tự nghiên cứu.
+ Phương pháp học tập: Là phương thức để đạt được mục đích, nhiệm vụ học tập theo một cách thức nào đó. Người học phải có kế hoạch học tập hợp lý, có sự phân phối thời gian và áp dụng các hình thức tự học phù hợp. Phương pháp học tập có tính quyết định đến kết quả học tập của người học. Bên cạnh những yếu tố trên, khả năng tư duy, khái quát, tổng hợp, phân tích vấn đề là yếu tố bên trong quyết định trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động tự học
Hai là: Yếu tố khách quan gồm:
+ Phương pháp giảng dạy của giảng viên (GV). Việc đổi mới phương pháp giảng dạy (PPGD) phù hợp với trình độ nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân là yếu tố tác động trực tiếp đến việc rèn luyện kỹ năng tự học tự nghiên cứu cho người học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác độc lập sáng tạo của người học. Các nghiên cứu cho rằng: chất lượng tự học tự nghiên cứu phụ thuộc vào trình độ tổ chức và điều khiển hoạt động học của GV [1].
+ Các yếu tố khác: Môi trường tự học tự nghiên cứu (sự phát triển xã hội, yêu cầu của thời đại, mối quan hệ bạn bè, môi trường tập thể...); cơ sở vật chất (trang thiết bị hỗ trợ, các hoạt động ngoại khoá, chương trình đào tạo)
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học, tự nghiên cứu của SV tại các trường đại học đã chỉ ra rằng, bên cạnh các yếu tố chủ quan từ bản thân SV, các yếu tố khách quan đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng tự học, tự nghiên cứu nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục đại học.
2.2. Thực trạng tự học tự nghiên cứu sinh viên khoa May Trường Đại học Sao Đỏ hiện nay
Hoạt động tự học, tự nghiên cứu của SV khoa May và Thời trang Trường Đại học Sao Đỏ trong những năm qua đạt được kết quả nhất định, góp phần nâng cao chất lượng học tập. Để làm rõ thực trạng tự học, tự nghiên cứu của SV khoa May và Thời trang, tác giả tiến hành khảo sát 35 SV đang học tập tại khoa May K13, K14, K15.
2.2.1. Nhận thức của sinh viên của việc tự học, tự nghiên cứu khi học tập ở môi trường giáo dục đại học
Làm rõ nội dung này, tác giả tiến hành khảo sát SV với câu hỏi: Anh/chị nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học tự nghiên cứu trong quá trình học tập ở bậc Đại học không?
Kết quả nghiên cứu nhận thấy số SV nhận thức được rất quan trọng là 8/35 = 22,9% và quan trọng 10/35 = 28,6% về vấn đề tự học tự nghiên cứu trong quá trình học đại học, nhiều SV tự giác chủ động, tích cực tự học tự nghiên cứu ở nhà và trên lớp.
Tuy nhiên, vẫn còn 16/35 SV (45%) SV cho rằng tự học tự nghiên cứu không quan trọng, chỉ cần học tập trên lớp là đủ, nên số SV này rất thờ ơ khi thực hiện nhiệm vụ tự học tự nghiên cứu. Do đó, số SV trên chưa nâng cao ý thức, tinh thần tự học, kết quả học tập, sự tiếp thu kiến thức mang tính thụ động.
2.2.2. Thái độ tự học tự nghiên cứu của sinh viên khoa May và Thời trang trong quá trình học tập
Trong học tập ở bậc đại học, thái độ học tập sẽ quyết định đến kết quả học tập của mỗi SV, thái độ tự học tự nghiên cứu đối với sv ngành May và Thời trang rất quan trọng. Thái độ tự học tự nghiên cứu sv khoa May và Thời trang, Trường Đại học Sao Đỏ tích cực không, tác giả khảo sát SV bằng câu hỏi: Anh/chị có thường xuyên tự giác, chủ động tự học tự nghiên cứu không?
Căn cứ vào bảng khảo sát, nhận thấy số SV thường xuyên tự giác, chủ động tự học tự nghiên cứu ít, chiếm 37,1%. Đây là những SV xác định đúng mục đích, động cơ học tập nên có ý chí quyết tâm cao hoàn thành tốt việc học tập. Bên cạnh đó, nhiều SV không thường xuyên tự giác, chủ động tự học tự nghiên cứu là 22/35 chiếm 62,9%. Nguyên nhân có thể do SV còn mải chơi, chưa có định hướng rõ trong học tập, môi trường học đại học khác phổ thông (nhất là SV năm thứ nhất), phương pháp giảng dạy chưa phù hợp với đối tượng.
2.2.3. Phương pháp tự học tự nghiên cứu của sinh viên khoa May và Thời trang, Trường Đại học Sao Đỏ
Hoạt động tự học, tự nghiên cứu đạt hiệu quả tốt cần phải có phương pháp, kỹ năng trong quá trình học tập. Phương pháp tự học tự nghiên cứu SV khoa May và Thời trang như thế nào?, tác giả tiếp tục khảo sát SV.
Câu hỏi: Anh/chị vận dụng phương pháp nào trong hoạt động tự học tự nghiên cứu?
Khảo sát cho thấy, đa số SV vẫn học bằng hình thức học thuộc kiến thức GV cho ghi chép vào vở trong giờ học trên lớp (17/35 sv); Tìm kiếm thông tin trên Internet, trên thư viện 7/35 sv; hoặc Làm đề cương sơ lược để học kiến thức trọng tâm 5/35 sv; Đây là những cách tự học truyền thống, có hiệu quả nhất định nhưng cũng là những cách học làm cho người học sẽ khó tiếp thu kiến thức, phổ kiến thực không sâu, rộng. Với cách tự học theo nhóm rất ít HS tham gia (3/35 sv). Như vậy, SV khoa May và Thời trang chưa lựa chọn được phương pháp tự học phù hợp với năng lực bản thân, việc tìm kiếm thông tin trên mạng còn hạn chế, số sinh viên lập thành nhóm học tập còn ít.
2.2.4. Phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá quá trình tự học tự nghiên cứu, hướng dẫn sinh viên tìm kiếm tài liệu tham khảo của giảng viên
Một trong những yếu tố tác động không nhỏ đến quá trình tự học tự nghiên cứu của SV khoa May và Thời trang là phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá của GV có phù hợp với đối tượng SV không, GV có thường xuyên giao nhiệm vụ về nhà và kiểm tra đánh giá phần tự học tự nghiên cứu không?. Để làm rõ, tác giả tiến hành phỏng vấn SV về GV.
Câu hỏi: Giảng viên có đổi mới phương pháp giảng dạy, giao nhiệm vụ và kiểm tra đánh giá hoạt động tự học tự nghiên cứu trong quá trình giảng dạy không?. Kết quả như sau:
Đa số SV cho rằng GV nhiệt tình trong giảng dạy, kết hợp nhiều PPGD tích cực để kích thích SV tư duy trong học tập; có giao bài tập về nhà cho SV tự học tự nghiên cứu, có kiểm tra nội dung giáo về nhà, giới thiệu tài liệu tham khảo cho SV tìm kiếm.
Bên cạnh ưu điểm, vẫn còn có hạn chế: về PPGD GV chưa có sự phân loại SV trong lớp học để có phương pháp truyền đạt phù hợp đối tượng SV. Nhiều SV đầu vào chất lượng thấp, cách tiếp cận kiến thức, chương trình chậm nên GV cần có sự hỗ trợ các em sau những buổi học.
Việc kiểm tra, đánh giá quá trình tự học tự nghiên cứu của GV đối với SV chưa thực hiện thường xuyên, liên tục, chưa khuyến khích động viên SV có tinh thần ý thức tự học tốt, đặc biệt trong NCKH số lượng SV tham gia còn ít, đề tài mang tính ứng dụng vào ngành học chưa nhiều.
GV khi giới thiệu tài liệu tham khảo chưa hướng dẫn cụ thể đọc trang nào, thư viện có hay không. Đối với tài liệu trên mạng Internet vẫn còn GV chưa giới thiệu tìm đọc những trang nào chính thống phù hợp với học phần môn đó.
Ngoài ra, SV còn gặp một số hạn chế: chưa chủ động lập kế hoạch, xây dựng chương trình tự học tự nghiên cứu đối với từng môn học để nâng cao hiệu quả, chất lượng học tập. Thời gian đầu các em còn quen cách học dưới phổ thông.
2.2.5. Cơ sở vật chất nhà trường
Cơ sở vật chất như: giáo trình, thư viện số, mạng Internet. xưởng thực hành thực nghiệm tác động đến quá trình tự học tự nghiên cứu của SV. Tác gỉả tiến hành phỏng vấn nhanh SV khoa May: Cơ sở vật chất Nhà trường trang bị có đáp ứng việc tự học tự nghiên cứu ngành nghề anh/chị đang theo học không?
Sinh viên cho biết, vật chất nhà trường trang bị đầy đủ như: giáo trình đối với các học phần chung và cho ngành May và Thời trang. Nhà trường trang bị phòng thư viện số SV vào truy cập tìm tài liệu học tập, tham khảo trên thư viện số ở các trường đại học khác mà nhà trường liên kết.
Nhà trường đầu tư xây dựng trung tâm Thực hành và Thiết kế thời trang với đầy đủ các trang thiết bị tiên tiến, hiện đại. Khuôn viên nhà trường khang trang, sạch đẹp khơi dậy sự sáng tạo cho SV.
Tuy nhiên, vẫn còn có những hạn chế về cơ sở vật chất: Số lượng giáo trình cập nhật kiến thức mới chưa nhiều; hệ thống đường truyền mạng Internet yếu, nhiều khi SV cập nhật thư viện số tìm nguồn tài liệu để tham khảo học tập khó khăn.
Ngoài ra, SV khoa May và Thời trang còn gặp một số hạn chế: lập kế hoạch, xây dựng chương trình tự học tự nghiên cứu đối với từng môn học để nâng cao hiệu quả, chất lượng học tập còn ít. SV vẫn có thói quen cách hoc dưới phổ thông, bởi kiến thức phổ thông học sinh lĩnh hội tri thức đã được biên soạn sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, nghĩa là chúng đã được sư phạm hóa cao. Còn học ở Đại học, các em phải tiếp thu những kiến thức cơ bản, hệ thống và có tính khoa học cao của một khoa học nhất định. Do đó, việc chuyển từ phương pháp học tập ở phổ thông sang phương pháp học tập ở Đại học đã gây ra những biến đổi mạnh mẽ của các điều kiện thực hiện hoạt động [5].
Như vậy, qua phần đánh giá thực trạng quá trình tự học tự nghiên cứu SV khoa May và Thời trang Trường Đại học Sao Đỏ, đã chỉ ra một số hạn chế, tồn tại trong quá trình tự học tự nghiên cứu của SV như: một bộ phận SV còn chưa thấy tầm quan trọng việc tự học, tự nghiên cứu; thái độ tự học chưa tốt; phương pháp SV tự học tự nghiên cứu còn hạn chế PPGD, kiểm tra đánh giá của GV chưa phù hợp với từng đối tượng, cơ sở vật chất chưa đảm bảo. Đấy là những nguyên nhân dẫn đến việc tự học tự nghiên cứu của SV hiệu quả chưa cao.
2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên khoa May và Thời trang, Trường Đại học Sao Đỏ
2.3.1. Nâng cao nhận thức, thái độ cho SV khoa May và Thời trang về tầm quan trọng của việc tự học tự nghiên cứu đối với học tập bậc Đại học. Xác định đúng động cơ, mục đích học tập của mình, cần phải chủ động, tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập. Ngành May mặc và Thời trang đòi hỏi người học không chỉ nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn phải thường xuyên cập nhật xu hướng thời trang, công nghệ may, kỹ thuật thiết kế mới. Nhà trường, các khoa cần tổ chức các buổi định hướng kỹ năng học đại học cho SV năm nhất. Tăng cường tuyên truyền về vai trò của tự học tự nghiên cứu thông qua seminar, tọa đàm, câu lạc bộ chuyên môn. Mời doanh nghiệp May mặc và Thời trang về trường giao lưu, chia sẻ yêu cầu nghề nghiệp để SV thấy rõ tầm quan trọng của việc tự học tự nghiên cứu.
2.3.2. Lựa chọn phương pháp tự học, tự nghiên cứu phù hợp với từng môn học, với khả năng, sở trường của mỗi SV. Tự học tự nghiên cứu chỉ được thể hiện thông qua làm việc, tự học tự nghiên cứu có hiệu quả khi người học biết cách học, có ý chí học tập, có kỹ năng và phương pháp học [4]. Khả năng học tập của mỗi người là khác nhau, mỗi môn học, mỗi người có một cách học khác nhau. Dựa trên kế hoạch đã đề ra, trên cơ sở gợi ý, hướng dẫn của GV, người học có thể lựa chọn phương phấp tự học tự nghiên cứu phù hợp cho riêng mình.
2.3.3. Đổi mới phương pháp giảng dạy. GV cần chuyển từ PPGD truyền thụ kiến thức sang PPGD phát huy tính chủ động của SV. GV không thể coi tự học tự nghiên cứu là giao phó hoàn toàn tất cả cho người học. Tự học tự nghiên cứu không có nghĩa là không cần GV hướng dẫn. Ngược lại, càng yêu cầu người học tự học tự nghiên cứu, người giảng dạy càng phải khẳng định vai trò chủ đạo của mình.
Để nâng cao kỹ năng tự học tự nghiên cứu cho SV, GV cần áp dụng PPGD theo dự án (Project-based learning) trong các học phần thiết kế, công nghệ May và Thời trang. Tăng cường thảo luận nhóm, giải quyết tình huống thực tế trong sản xuất May và thời trang. Giao nhiệm vụ tự nghiên cứu trước giờ học như đọc tài liệu, tìm hiểu quy trình may, phân tích mẫu sản phẩm. Sử dụng công nghệ thông tin và học liệu số để hỗ trợ tự học tự nghiên cứu. Ngoài ra, cần tăng cường việc kiểm tra đánh giá kết quả tự học tự nghiên của SV, có sự phân loại SV trong một lớp học để hướng dẫn, quan tâm, dám sát quá trình tự học tự nghiên cứu của SV.
2.3.4. Hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tự học tự nghiên cứu cho SV. Hệ thống mạng tốc độ cao; tài liệu học tập các học phần, nguồn tài liệu đầy đủ và dễ tiếp cận sẽ giúp SV chủ động nghiên cứu. Cụ thể: Nhà trường nâng cấp hệ thống đường truyền Internet cao để truy cập tìm kiếm thông tin, tài liệu nhanh. Đối với khoa May và Thời trang xây dựng hệ thống học liệu phục vụ tự học tự nghiên cứu, xây dựng thư viện điện tử chuyên ngành May và Thời trang. Cập nhật giáo trình, tài liệu tham khảo, tạp chí thời trang, công nghệ may trong nước và quốc tế thường xuyên. Xây dựng video hướng dẫn kỹ thuật May, thiết kế rập, vận hành máy May công nghiệp. Phát triển ngân hàng câu hỏi, bài tập thực hành để SV tự luyện tập.
2.3.5. Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học SV khoa May và Thời trang. Nghiên cứu khoa học là môi trường tốt để SV rèn luyện kỹ năng tự học tự nghiên cứu. Cụ thể: Khuyến khích SV tham gia đề tài NCKH cấp khoa và cấp trường. Tổ chức cuộc thi thiết kế thời trang, cải tiến quy trình may, sáng tạo sản phẩm mới. Thành lập nhóm SV nghiên cứu về thiết kế thời trang, công nghệ may, vật liệu dệt may. Tăng cường hướng dẫn của GV trong quá trình nghiên cứu.
Nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu cho SV Khoa May và Thời trang, Trường Đại học Sao Đỏ là yêu cầu cần thiết nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và khả năng thích ứng với sự phát triển của ngành công nghiệp may mặc ở nước ta hiện nây. Để đạt được mục tiêu này cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, GV và SV, đồng thời gắn hoạt động học tập với thực tiễn sản xuất và nhu cầu của doanh nghiệp.
3. Kết luận
Phương pháp tự học, tự nghiên cứu là một nhu cầu thiết thực đối với bản thân người học. Tự học, tự nghiên cứu không chỉ khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà là việc cần thiết và lâu dài. Vì vậy, mỗi trường đại học cần đưa phương pháp tự học tự nghiên cứu vào mục tiêu đào tạo của nhà trường, điều đó không chỉ giúp bản thân SV nắm được vấn đề một cách chắc chắn và bền vững; chủ động bồi dưỡng phương pháp phát triển tư duy, khả năng tiếp thu, áp dụng học tập và kỹ năng vận dụng tri thức mà còn rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động độc lập sáng tạo. Đó là những phẩm chất mà chỉ có chính bản thân sinh viên tự rèn luyện kiên trì mới có được, không một ai có thể cung cấp hay làm thay cho mình [3].
Thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường, tác giả phân tích thực trạng vấn đề tự học tự nghiên cứu trong quá trình học tập SV khoa May và Thời trang, Trường Đại học Sao Đỏ, trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số giải pháp đối với SV khoa May và Thời trang, Trường Đại học Sao Đỏ nói riêng và SV học ngành May và Thời trang nói chung chủ động trong quá trình tìm tòi, khám khá và lĩnh hội kiến thức, đồng thời theo dõi, đánh giá kết quả tự học tự nghiên cứu của mình một cách có định tính, định lượng rõ ràng. SV chủ động và làm chủ trong quá trình lĩnh hội kiến thức, GV định hướng hoàn thiện, nâng cao khả năng nhận thức của SV. Góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Giáo dục đại học trong thời kỳ đổi mới. NXB Giáo dục Việt Nam.
[2] Hà Thị Đức (1992). Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, Số 4, tr.23.
[3] Lê Khánh Bằng (2005). Phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học. NXB Giáo dục, Hà Nội.
[4] Nguyễn Cảnh Toàn (1997). Quá trình dạy học - tự học. NXB Giáo dục, Hà Nội.
[5] Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị (1992). Tâm lý học sư phạm Đại học. NXB Giáo dục, Hà Nội.
[6] Nguyễn Thanh Thủy (2016). Hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên - Nhu cầu thiết yếu trong đào tạo ngành Sư phạm. Tạp chí Khoa học - Đại học Đồng Nai, số 3-201.
[7] Powers, D. E., & Swinton, S. S, (1985). The Impact of Self-Study on GRE Test Performance, New Jersey: Educational Testing Service.
[8] Win, R., & Miller, P. W, (March 2005). The Effects of Individual and School Factors on University Students’ Academic Performance, Australian Economic Review, Vol. 38, No. 1, pp. 1-18.