NÔNG NGHIỆP Ở ĐỊNH TƯỜNG TỪ NĂM 1757 ĐẾN NĂM 1861

15/01/2026 - 21:18      20 lượt xem
Nội dung chính[ẩn][hiện]

 

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Thiện Trí, tỉnh Đồng Tháp

LÊ THỊ CẨM TÚ

Trường Tiểu học Hòa Hưng, tỉnh Đồng Tháp

NGUYỄN THANH PHONG

Trường Trung học cơ sở Xuân Diệu, tỉnh Đồng Tháp

Abstract

In the broader trajectory of research on the economic history of Southern Vietnam, the issue of land reclamation and agricultural development in Định Tường prior to 1862 has been addressed in numerous studies, yet certain gaps remain to be filled. Previous scholarship has largely concentrated on the Nguyễn dynasty’s agrarian policies or the processes of migration and settlement on uncultivated land, but has seldom emphasized the interplay between state policies and the efforts of local inhabitants in shaping agriculture in newly reclaimed territories.

This article employs a historical methodology, drawing upon official chronicles, local gazetteers, and related sources to examine the agricultural situation in Định Tường. The author undertakes a comparative and analytical approach, juxtaposing the Nguyễn dynasty’s agrarian policies with the practical reclamation activities of local settlers, thereby elucidating the factors influencing the expansion of cultivated land, the stabilization of livelihoods, and the development of the agrarian economy.

The findings reveal that, despite considerable challenges posed by natural conditions, irrigation systems, epidemics, labor shortages, and political instability, the inhabitants of Định Tường achieved notable accomplishments: the area of reclaimed land expanded rapidly, rice yields remained stable with an upward trend, and various indigenous fruit trees were introduced into cultivation, contributing to the diversification of the agricultural structure. The study also highlights the role of the Nguyễn dynasty in promoting land reclamation and social stability, while providing additional materials for the study of Southern Vietnam’s economic history under the Nguyễn dynasty during the early nineteenth century.

Keywords: Định Tường, Southern Vietnam, Nguyễn Dynasty, agriculture.

 

1. Giới thiệu

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, nông nghiệp không chỉ là nền tảng kinh tế chủ yếu mà còn phản ánh rõ nét sự vận hành của bộ máy quản lý và tương quan xã hội nhất là thời phong kiến. Định Tường đã hiện diện như một đơn vị hành chính trọng yếu dưới triều Nguyễn, nơi mà đời sống nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách khai khẩn, quản lý đất đai và biến động chính trị giai đoạn đầu thế kỷ XIX.

Từ khi chúa Nguyễn, sau này là vương triều Nguyễn thiết lập nền cai trị đến năm 1862, mốc thời gian ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị Pháp chiếm đóng, đánh dấu bước chuyển lớn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ở Định Tường. Việc nghiên cứu nông nghiệp Định Tường trong khoảng thời gian này không chỉ giúp tái hiện diện mạo kinh tế địa phương, mà còn góp phần làm rõ mối liên hệ giữa chính sách triều đình và đời sống vùng Nam Bộ trước và trong quá trình thực dân hóa.

Việc nghiên cứu tập trung vào nông nghiệp bao gồm cả những thuận lợi, khó khăn từ buổi đầu khai hoang; cách cư dân khắc phục trở ngại để ổn định đời sống, xóm làng trù mật; đó là cơ sở giúp nhà Nguyễn thiết lập bộ máy hành chính trên cả vùng đất Nam Bộ. Tài liệu khảo cứu đa phần tập trung vào lịch sử khẩn hoang vùng Nam Bộ nói chung nên vấn đề chuyên sâu về nông nghiệp địa phương rất hạn hẹp. Tuy nhiên, chúng tôi cố gắng phục dựng một phần bức tranh nông nghiệp ở Định Tường trước năm 1862 để thấy được những đóng góp của cư dân địa phương trong mối quan hệ của vùng Nam Bộ.

2. Nội dung

2.1. Sơ lược tên gọi và bối cảnh chính trị

Định Tường là một tên gọi đơn vị hành chính được thành lập từ thời các chúa Nguyễn, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử tên gọi Định Tường dần được xác lập gắn liền với lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ. Năm 1780, Chúa Nguyễn thành lập dinh Trấn Định và đặt lỵ sở tại thôn Mỹ Chánh (Mỹ Tho). Thời Gia Long (1802), đổi dinh thành trấn; ở Nam Kỳ có năm trấn (Hà Tiên, Vĩnh Long, Phiên An, Biên Hòa, Định Tường) đặt dưới sự thống lĩnh của thành Gia Định. Thời Minh Mạng (1826), đổi trấn thành tỉnh; Nam Kỳ có ba tỉnh kiêm nhiếp và ba tỉnh phân hạt, Định Tường là tỉnh phân hạt (kiêm nhiếp bởi tỉnh Vĩnh Long). Năm 1832, xóa bỏ Gia Định thành, chia thành sáu tỉnh, tỉnh Định Tường thuộc miền Đông Nam Kỳ cùng với Gia Định, Biên Hòa; gồm có phủ Kiến An và ba huyện (Kiến Hưng, Kiến Đăng, Kiến Hòa) [5, trang 257] 

Từ khi nhà Nguyễn thiết lập quyền thống trị toàn cõi Việt Nam, vùng đất Định Tường giữ vai trò quan trọng trong chiến lược kiểm soát và khai thác vùng Nam Bộ. Nhà Nguyễn thực thi các chính sách hành chính - quân sự nhằm củng cố quyền lực, vừa mang tính phòng thủ biên giới, vừa thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nhằm nuôi dưỡng nền kinh tế tự cung tự cấp.

Dưới triều Nguyễn, bộ máy cai trị do triều đình bổ nhiệm, thực thi nhiệm vụ hành chính, thuế khóa và quân sự. Chính sách di dân và khai hoang được thúc đẩy mạnh mẽ nhằm tăng dân cư và sản lượng nông nghiệp, đi kèm các ưu đãi như cấp đất và miễn thuế. Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1850, nguy cơ xâm lược từ Pháp đặt triều Nguyễn vào thế bị động; Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862 buộc triều đình phải nhượng ba tỉnh Đông Nam Kỳ cho Pháp, chấm dứt giai đoạn kiểm soát hành chính và nông nghiệp bản địa. Sự suy yếu của chính quyền trung ương, kết hợp quản lý đất đai bất cập và tham nhũng khiến đời sống nông dân khó khăn, dẫn tới các phản kháng từ dân chúng và hào trưởng địa phương.

2.2. Nông nghiệp Định Tường thời nhà Nguyễn từ năm 1757 đến năm 1861.

2.2.1. Chính sách khuyến nông của nhà Nguyễn

Chính sách khuyến nông của nhà Nguyễn gắn liền với những yêu cầu của công cuộc khai hoang, lập làng. Khai phá đất đai ở Nam Bộ là một chính sách nhất quán của chúa Nguyễn và chỉ thật sự diễn ra mạnh mẽ, có tính quy cũ từ khi Nguyễn Ánh thành lập được chính quyền và trụ vững ở Gia Định từ năm 1788. Các chính sách bao gồm khuyến khích người dân phát triển nông nghiệp, đưa họ đến khai phá những vùng đất còn hoang sơ. Những chính sách ngoài góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp còn thúc đẩy thương nghiệp nông phẩm ở Gia Định và ở toàn vùng Nam Bộ. Chúa Nguyễn tận dụng thông qua hoạt động nông nghiệp củng cố sự hiện diện của chính quyền, biến quá trình khai hoang thành công cụ hữu hiệu để xác lập và khẳng định chủ quyền trên vùng đất mới.

Năm 1789, Nguyễn Ánh đặt ra chức quan điền tuấn và cử đi các nơi khuyến khích khẩn hoang, lập làng, phát triển kinh tế nông nghiệp. Việc áp dụng chế độ đồn điền, khai phá đất hoang, mở mang diện tích canh tác là những biện pháp thúc đẩy sự mở mang đất đai thời kỳ này. Kết quả còn nhằm giải quyết nhu cầu lương thực trước mắt cho quân lính, đồng thời để chuẩn bị lương thảo cho cuộc chiến tranh chống lại quân Tây Sơn. Như vậy, chính sách này không chỉ đơn thuần phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà còn gắn chặt với mục tiêu quân sự. Điều này cho thấy chính sách khuyến nông của nhà Nguyễn mang tính chất thời vụ, đặt nặng yếu tố phục vụ chiến sự hơn là định hướng phát triển nông nghiệp lâu dài.

Tất cả các cơ quan chính quyền đều phải mộ dân khai hoang, lập đồn điền. Bên cạnh đó, những chính sách bảo vệ sức sản xuất, khuyến nông cũng được đưa ra và thực hiện triệt để. Để phục vụ quá trình mở rộng lãnh thổ, chống ngoại xâm, chống cướp bóc, bảo vệ người dân khai hoang, lực lượng quân đội ở Gia Định được giao bảo vệ thành quả khai hoang, mở đất, phát triển sản xuất, thực thi chủ quyền trên những vùng đất đã khai chiếm. [9, trang 490].

Nhìn chung, chính sách khuyến nông thời kỳ này vừa có tác dụng thúc đẩy khai hoang, mở mang đất đai, vừa phản ánh sự gắn kết giữa kinh tế với chính trị và quân sự trong chiến lược của nhà Nguyễn. Tuy nhiên, hạn chế là chưa tạo ra một nền nông nghiệp bền vững với cơ sở kỹ thuật và hạ tầng đồng bộ, mà chủ yếu dựa vào sức lao động của cư dân và nhu cầu cấp thiết của chiến tranh.

2.2.2. Những trở ngại của công cuộc khai hoang

                Vùng đất Định Tường trước khi người Việt đến hoàn toàn hoang vu, thú hoang hoành hành nên không dễ cho cuộc sống và quá trình khẩn hoang.  “…hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp. Những cửa rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm lý. Bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê. Tiếng chim hót và thú vật kêu vang dội khắp nơi. Vào nửa đường trong cửa sông, người ta mới thấy lần đầu cánh đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào. Xa hơn, tầm mắt chỉ toàn là cỏ kê đầy dẩy. Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tựu hợp từng bầy trong vùng nầy” [2, trang 80]

                Tình hình chính trị không thuận lợi, nhiều cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ nhóm người Minh hương gây ra cảnh cướp bóc, rối ren trong xã hội lúc bấy giờ. Bên cạnh đó, từ năm 1776 đến năm 1785, quân Tây Sơn đã 5 lần tấn công vào Gia Định [9, trang 489], Nam Bộ là địa bàn xảy ra những cuộc binh biến, là bãi chiến trường của cuộc xung đột giữa Tây Sơn và Chúa Nguyễn. Người dân khó lòng yên ổn cày cấy, mở đất trong điều kiện bất ổn.

                Giặc ngoại xâm cũng là một nỗi lo lớn, đó là việc quân Xiêm tiến vào vùng đất Nam Bộ và giáp chiến ở vùng đất Định Tường hai lần (năm 1705 và năm 1785). Trong đó năm 1785 trận Rạch Gầm-Xoài Mút đã trở thành trận thủy chiến lớn trong lịch sử chống ngoại xâm. Chiến thắng này mang lại cho cư dân cuộc sống bình an, khôi phục làng mạc bị tàn phá, phục hồi sản xuất. Trước đó quân Xiêm đã tiêu hủy hàng chục làng xóm dọc sông Tiền từ Cái Bè đến Mỹ Tho.

                Dịch bệnh góp phần ngăn trở bước tiến công cuộc khai hoang, đây là điều thường xảy ra vì điều kiện thiên nhiên, con người lại sống dựa vào tự nhiên. Những trận dịch lớn được ghi nhận đã xảy ra để lại nhiều mất mát về nhân lực. “Năm 1757 có một trận dịch bệnh ở Cái Bè. Năm 1820 có trận dịch khắp Nam Kỳ lan đến kinh đô Huế, kéo dài nhiều tháng và giết chết hàng vạn người” [1, trang 374]

                Điều kiện thiên nhiên, những bất ổn trong xã hội đến mức khắc nghiệt nhưng bước chân của dòng người tìm đến vùng đất mới để khai hoang, tìm nguồn sống vẫn tiếp tục đi và càng xa hơn.

2.2.3. Về lực lượng khai hoang

                Thành phần cư dân đóng vai trò tiên phong được hình thành từ sự dịch chuyển cưỡng ép và tự nguyện của nhiều tầng lớp xã hội thuộc Đại Việt. Chủ thể chính của lực lượng khai hoang là người Việt đến từ miền Trung, vốn chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh phong kiến và tình trạng đói nghèo. Thành phần cư dân khai hoang đa dạng cả về nguồn gốc xã hội lẫn sắc tộc, phản ánh tính chất đặc biệt của công cuộc mở đất Nam Bộ - không chỉ là một hành động địa lý, mà còn là sự tái cấu trúc xã hội trong bối cảnh lịch sử đầy biến động.

Lịch sử Việt Nam ghi nhận trong hai thế kỷ XVI, XVII xảy ra các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Mạc với Lê-Trịnh (1539-1600), Trịnh với Nguyễn (1627-1672). Để phục vụ cho nhu cầu giành thế thống trị, các tập đoàn phong kiến ra sức vơ vét của cải, tăng cường bắt lính đẩy người dân vào cảnh lầm than, đói khổ. Để thay đổi cuộc sống, những người nông dân, thợ thủ công phải rời bỏ làng mạc, ruộng vườn phiêu tán khắp nơi và họ hướng đến vùng đất phía nam. Lưu dân người Việt đi một mình, hoặc mang cả gia đình hoặc theo từng nhóm bạn bè, chòm xóm.

Trong lực lượng người di cư đến đây “…còn phải kể đến những người trốn binh dịch, những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy đồ nghèo… kể cả những người vốn đã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi đất mới”  [4, trang 45]. Ở Định Tường, những người giàu có tự đi khai hoang không nhiều vì cuộc sống của họ đang tốt nên không cần mạo hiểm. Tuy vậy cũng ghi nhận những nhân vật có sức ảnh hưởng, có nhiều dấu ấn trong lịch sử khai hoang ở Định Tường như: Lê Văn Hiếu vùng Cái Bè, Lê Phước Tang vùng Cai Lậy, Nguyễn Văn Lữ vùng Châu Thành, Trần Văn Khủng vùng Chợ Gạo, Phạm Đăng Dinh vùng Gò Công... Bên cạnh người Việt, lực lượng khai hoang còn có những người thuộc dân tộc ít người. Họ được những người giàu có mua làm nô và tham gia vào công cuộc khai hoang nông nghiệp hoặc làm phục dịch trong nhà chủ.

Từng nhóm đến Định Tường cùng nhau vượt qua những khó khăn, thử thách của thiên nhiên ra sức phát triển sản xuất, tạo dựng nên cuộc sống mới ở quê hương mới. Hành trình đến vùng đất mới họ chủ yếu đi bằng phương tiện là những chiếc ghe bầu. “Nhiều người đã khởi đầu hành trình mở đất bằng chiếc ghe bầu trên chiếc ghe bầu nhỏ bé của mình, họ mang theo những thứ thiết yếu như gạo, mắm, muối, công cụ... rồi cứ thế men theo bờ biển mà đi vào phía nam. Lưu dân từ Quảng Nam, Quảng Ngãi đi thẳng vào Mỹ Tho bằng ghe bầu; đi bằng phương thức này vừa nhanh vừa an toàn hơn so với đường bộ” (Nguyễn, 2008). Việc tiếp cận và khai hoang vùng đất Định Tường sẽ bắt đầu từ phía đông, vùng ven biển và cứ thế theo sông Tiền dần mở mang về phía tây. Đến đâu cư dân lập nên những làng xóm, đình chùa là nơi sinh hoạt chung của làng và là nơi cầu an cho cuộc sống, cho thuận lợi mùa màng.

                Ngoài những cư dân trên lãnh thổ Việt Nam, cần nhắc đến lực lượng người Hoa đến khai phá vùng đất Định Tường từ cuối thế kỷ XVII, số này không nhiều. Vào năm 1679 do không thuần phục nhà Thanh, những quan lại nhà Minh đã mang theo gia đình, tùy tùng đến lánh nạn và được Chúa Nguyễn cho phép lưu trú ở Nam Bộ [11, trang 64]. Tại Định Tường nhóm người Hoa do Dương Ngạn Địch chỉ huy đã kéo đến và lập nên Mỹ Tho đại phố. Đóng góp của họ cho nông nhiệp không nhiều vì “phần lớn người Hoa ở Nam Bộ sống bằng buôn bán và làm các nghề thủ công, số làm ruộng rất ít” [3, trang 28]. 

2.2.3. Thành quả đạt được về nông nghiệp

a. Về diện tích canh tác

Với tinh thần bền bỉ, cần cù, sự quả cảm đối mặt những trở ngại, lòng tương thân tương ái, hỗ trợ cùng vượt qua nhiều khó khăn của những người đi khai hoang. Bên cạnh đó là những chính sách, biện pháp khẩn hoang của chính quyền Chúa Nguyễn. Đến cuối thế kỷ XVIII, ở Định Tường diện mạo đã có nhiều thay đổi, công cuộc khai hoang cơ bản hoàn thành. Đây là điều quan trọng để trong thời gian tiếp sau, việc mở rộng địa bàn và phát triển sản xuất được thuận lợi hơn. Để đẩy nhanh tốc độ khai hoang cũng như thuận lợi quản lý dân cư và thu thuế, chính quyền Chúa Nguyễn cho thành lập “trại, mạn, nậu, thuộc” [7, trang 48]. Sau khi ổn định và dân cư ngày càng đông sẽ thành lập thôn xã. Đến cuối thế kỷ XVIII, hệ thống thôn xã đã hình thành và hoạt động ổn định ở vùng Định Tường. “Đó là nhờ kết quả của quá trình khẩn hoang hết sức kiên trì, gian khổ và sáng tạo của nhân dân lao động cũng như những nỗ lực lớn lao của Chúa Nguyễn trong việc tổ chức điều hành và quản lý hệ thống hành chính các cấp” [7, trang 50].

 Những thập kỷ cuối thế kỷ XVIII, chiến tranh và nội chiến liên miên nhưng  không thể ngăn cản bước chân khai phá của người Việt trên vùng đất Nam Bộ. Trái lại, còn thúc đẩy công cuộc khai hoang, lập làng phát triển mạnh, đưa công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ ngày càng khả quan. Về diện tích và dân số ngày càng tăng, ở Định Tường, theo nhiều tài liệu công bố có 16.000 sở ruộng/32.000 sở ruộng toàn Nam Bộ, tức là chiếm 50% diện tích; dân đinh thống kê được 15.000/21.000, chiếm 71,4% dân số Nam Bộ. Định Tường trở thành vùng sản xuất nông nghiệp chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thóc gạo đảm bảo nhu cầu lương thực cho đất nước.

Trong nửa đầu thế kỷ XIX, công tác khẩn hoang càng được nhà Nguyễn quan tâm. Nhân dân lao động và binh lính trở thành hai lực lượng khai hoang chính. Đồn điền được lập rất nhiều, ở Định Tường có 6 cơ đồn điền trong tổng số 17 cơ đồn điền cả Nam Bộ, chủ yếu vùng Đồng Tháp Mười. Chính sách của nhà Nguyễn thông qua đồn điền nhằm xác lập chủ quyền về ruộng đất, tăng nguồn thu của nhà nước bằng các loại thuế đồn điền; giảm nguồn kinh phí cho binh lính, nuôi tù phạm; phát triển tầng lớp điền chủ làm chỗ dựa cho chính quyền phong kiến. Chính sách này cũng góp phần tăng diện tích khẩn hoang nhất là vùng Đồng Tháp Mười, nâng cao cuộc sống của cư dân, tập hợp huấn luyện được đội quân dự bị khá đông khi đất nước cần nếu xảy ra giao tranh.

Đến năm 1836, vua Minh Mạng cho hai vị quan Trương Đăng Quế và Nguyễn Kim Bảng (sau là Trương Minh Giảng thay thế) vào Nam Bộ đo đạc và lập địa bạ. Diện tích đo đạc của Định Tường (sau đây chỉ lấy số chẵn) là 141.533 mẫu; trong đó điền thổ sử dụng là 138.066 mẫu, điền thổ hoang hóa là 3.467 mẫu chiếm tỷ lệ rất ít khoảng 2,5%. Trong số diện tích sử dụng thì diện tích thực canh là 136.332 mẫu (tỷ lệ gần 99%). Diện tích khai phá, thực tế canh tác ở Định Tường xếp thứ hai sau Gia Định và tính chất của đất thì “…ruộng đất ở Định Tường thuộc dạng tốt và rất tốt: diện tích thảo điền rộng hơn gấp rưỡi sơn điền” [6, trang 125]. Thảo điền và sơn điền là loại đất trồng lúa chiếm diện tích nhiều nhất trong tổng diện tích đất thực canh, tiếp đến là loại đất trồng cau, còn lại là trồng cây khác.

b. Việc trồng lúa

Về cơ cấu cây trồng, cây lúa vẫn là cây trồng chủ lực. Nhiều loại lúa giống được người dân gieo trồng, trong đó có cả những giống mang từ miền Bắc vào. Tùy vào điều kiện đất khác nhau, người dân sẽ sử dụng giống lúa phù hợp nhằm đạt được năng suất cao nhất. Vùng Định Tường có nhiều giống lúa được gieo trồng như lúa tàu, lúa móng chim,… còn các giống nếp than, nếp bắc… Việc đa dạng giống lúa giúp người dân linh hoạt ứng phó với với điều kiện canh tác phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Thời gian canh tác trong năm thì tùy theo điều kiện thời tiết, thủy lợi. Tính từ lúc gieo mạ đến lúc gặt kéo dài từ 6-7 tháng. Ruộng sớm thì gieo mạ trong khoảng tháng 4-5, ruộng muộn gieo mạ khoảng tháng 5-6. 

Về kỹ thuật canh tác, người dân sử dụng sức trâu để cày bừa, vỡ đất; lựa những con khỏe mạnh, sức tốt vì tùy loại đất để đạt hiệu quả. Cày bừa chủ yếu là ruộng thảo điền, ruộng thấp mùa nắng khô nứt, mưa xuống tiến hành cày nên cần loại trâu cao, mạnh vì dễ bị lún, sau đó gieo sạ. Sơn điền là loại ruộng cao, cày bừa ít hoặc không cần nhưng lợi lớn.

Năng suất lúa cũng khá cao do điều kiện đất đai màu mỡ, nguồn nước tưới ổn định, việc cày bừa thuần thục. Vùng Định Tường nếu so với số lúa giống thì thu hoạch cao gấp gần 300 lần (gieo 1 hộc lúa giống sẽ thu hoạch được 300 hộc thóc lúa), trong khi những vùng khác như Vĩnh Long thấp hơn 0,5 lần. Năng suất cao giúp cho cuộc sống của người dân càng sung túc, việc xoay vòng cho những vụ mùa sau ổn định vì nguồn giống được duy trì.

c. Cây trồng khác và nghề đào ao nuôi cá

Cau là loại cây trồng có diện tích chỉ sau cây lúa, phân bố đều khắp trong tỉnh. Điều kiện dải đất dọc sông Tiền là phù sa ngọt, địa hình cao, không bị phèn hay nhiễm mặn tạo điều kiện hình thành loại vườn chuyên canh cây cau. Các địa phương trong tỉnh đều có trồng cau, người dân thu hoạch cau là đợi chín rụng xuống đất và nhặt hạt đem bán cho thương lái Trung Quốc. “Ở huyện Kiến-đăng và huyện Kiến-hưng, có những vườn cau sum sê. Cau tươi và cau khô nhà nào cũng có, chất chứa đầy sân đầy lẫm đề bản các nơi xa gần” [10, trang 68]. Đây là nguồn thu nhập quan trọng với người dân Định Tường, cau trở thành một nông sản trong sự đa dạng kinh tế hàng hóa.

Ngoài trồng cau, người dân Định Tường tận dụng điều kiện đất cao ở các giồng để trồng cây màu như đậu bắp, khoai môn, khoai lang,… hay trồng các loại cây ăn trái như dừa, mít… Các giồng tuy lớn nhỏ không đều nhưng đều trồng bông vải dâu, mè, dưa bí, đậu, khoai, thuốc lá, bắp, nhân dân đều nhờ đó đề làm sản-nghiệp. [10, trang 55-56]

Việc đào ao nuôi cá cũng là một hình thức khá phổ biến, mặc dù có hệ thống kênh rạch dày, lượng thủy sản thiên nhiên khá nhiều nhưng người dân vẫn đào ao nuôi cá góp phần tăng thu nhập, hỗ trợ việc nộp tô thuế và chủ động nguồn dinh dưỡng cho bữa ăn. Ở vùng Đồng Tháp Mười phát triển mạnh nghề này do đây là khu vực chủ yếu ruộng thảo điền nên thường xuyên ngập úng, nông dân chuyển đổi hình thức nuôi thủy sản thay cho việc trồng lúa gặp khó khăn. Đến năm 1836, số liệu ghi nhận “toàn tỉnh Định Tường 7 thôn có ao nuôi cá với diện tích khác nhau, phân bổ trên cả ba huyện với 985 khẩu, tương đương 48.209,84 m2” [6, trang 138].

Sách Địa chí Tiền Giang, tập 1 đánh giá về nông nghiệp Định Tường giai đoạn này như sau: công cuộc khai hoang về cơ bản đã hoàn thành. Các con kênh quan trọng được nạo vét để phục vụ cho khai hoang, thủy lợi và giao lưu, trao đổi hàng hóa. Sản xuất nông nghiệp đã đi vào ổn định. Do kết quả của công tác khai hoang ruộng đất được tập trung khá cao độ nên việc giao thương nông sản, hàng hóa vốn đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XVII tiếp tục phát triển.

3. Kết luận

Người dân Định Tường đã có những đóng góp quan trọng trong tiến trình khai phá và phát triển nông nghiệp vùng Nam Bộ. Từ một vùng đất hoang vu, cư dân di cư bằng sức lao động cần cù đã biến đổi cảnh quan, mở rộng diện tích canh tác, hình thành những làng xã đầu tiên và đặt nền móng cho tổ chức xã hội. Kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua nhiều thế hệ giúp nâng cao năng suất lúa, đồng thời đưa thêm nhiều loại cây trồng mới vào canh tác, góp phần đa dạng hóa nông sản. Chính sách của triều Nguyễn, dù mang tính “nương nhờ” và “chiều lòng”, vẫn tạo điều kiện bước đầu cho việc thiết lập định chế hành chính và củng cố sự ổn định xã hội.

Tuy nhiên, hoạt động sản xuất nông nghiệp buổi đầu còn mang tính tự phát, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thiếu công cụ và phương tiện lao động hiện đại. Yếu tố kỹ thuật chưa được áp dụng, dẫn đến năng suất và hiệu quả sản xuất ban đầu còn thấp, cư dân nhiều khi phải “phó mặc cho Trời”. Chính sách của nhà Nguyễn chưa thực sự định hướng phát triển kinh tế - xã hội ổn định, chủ yếu nhằm quản lý hành chính và duy trì sự kiểm soát. Những hạn chế này cho thấy quá trình khai phá tuy thành công về mặt mở rộng lãnh thổ và hình thành cộng đồng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức về kỹ thuật và tổ chức sản xuất.

Tài liệu tham khảo

[1] Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang (2005), Địa chí Tiền Giang Tập 1.

[2] Châu Đạt Quan. (1973), Chân Lạp phong thổ ký (bản dịch Lê Hương). Sài Gòn: NXB Kỷ Nguyên Mới.

[3] Đinh Văn Thiên (2010), Đồng bằng sông Cửu Long vùng đất-con người. Hà Nội: NXB Quân đội nhân dân.

[4] Huỳnh Lứa (2017), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Tổng hợp.

[5] Lê Đình Trọng & Nguyễn Xuân Hoàng (2024),  Nghề trồng cây ăn trái ở Định Tường dưới thời Việt Nam Cộng hòa (1955-1975). Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 13(02S), 255-264. https://doi.org/10.52714/dthu.13.02S.2024.1384.

[6] Nguyễn Đình Đầu (1994), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn-ĐỊNH TƯỜNG. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr.125

[7] Nguyễn Phúc Nghiệp (2000), Quá trình khai hoang lập làng ở Tiền Giang thế kỷ XVII-XVIII. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 1, 42-50.

[8] Nguyễn Thanh Lợi (2008), Ghe bầu miền Trung. Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, 2 (67), 37-49.

[9] Phan Huy Lê (2017), Vùng đất Nam Bộ - Quá trình hình thành và phát triển. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.

[10] Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí (Bản dịch Nguyễn Tạo). Sài Gòn: Nha Văn hóa phủ Quốc vụ khanh đặc-trách văn-hóa.  

[11] Võ Văn Sen (2025), Danh xưng và diên cách tỉnh Đồng Nai. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 2(258), 62-71.

 

 

 

Tiêu điểm
Tiêu điểm
30/01/2026 129

Thanh Hóa có tân Giám đốc Sở GD&ĐT sau gần một năm để khuyết

Ngày 29/1, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ký quyết định tiếp nhận và bổ nhiệm Đỗ Đức Quế, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo), giữ chức Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa.
30/01/2026 117

Thanh Hóa: Làm rõ nghi vấn chỉnh sửa điểm thi tại Trường THPT Tô Hiến Thành

Thông tin phản ánh về việc một giáo viên bị tố chỉnh sửa hàng loạt điểm kiểm tra học kỳ cho học sinh tại Trường THPT Tô Hiến Thành đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Nhà trường cho biết đã và đang phối hợp với các cơ quan chức năng để xác minh, xử lý theo quy định.
Xem tất cả
30/01/2026 129
Ngày 29/1, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ký quyết định tiếp nhận và bổ nhiệm Đỗ Đức Quế, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo), giữ chức Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa.
Xem chi tiết
30/01/2026 117
Thông tin phản ánh về việc một giáo viên bị tố chỉnh sửa hàng loạt điểm kiểm tra học kỳ cho học sinh tại Trường THPT Tô Hiến Thành đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Nhà trường cho biết đã và đang phối hợp với các cơ quan chức năng để xác minh, xử lý theo quy định.
Xem chi tiết
23/01/2026 92
Sáng 20/1, Lễ khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng long trọng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội. Trước đó, ngày 19/1 Đại hội họp phiên trù bị.
Xem chi tiết
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI
TẠP CHÍ GIÁO DỤC & XÃ HỘI

Địa chỉ: Phòng 308, Tập thể Tổng cục Thống kê, ngõ 54A đường Nguyễn Chí Thanh, P. Láng, TP. Hà Nội.

Điện thoại: 024.629 46516

Email: Tapchigiaoducvaxahoi@gmail.com, giaoducvaxahoi68@gmail.com

Xem tất cả
Cơ quan chủ quản
Cơ quan chủ quản

Cơ quan chủ quản: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Giáo dục ATEC, Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam

Giấy phép: 43/GPSĐBS-TTĐT ngày 05/5/2015

Tổng Biên tập: Đoàn Xuân Trường

Xem tất cả