NGUYỄN THỊ HUYỀN
NGUYỄN THỊ MINH THƯ
MAI THỊ NGA
NGUYỄN THỊ THUẬN
HOÀNG HẢI VÂN
Trường Đại học Ngoại Thương
Abstract: Amid the rapid development of the green economy, green bonds have become an important instrument for mobilizing capital to support sustainable development objectives. However, alongside the expansion of the market, the phenomenon of greenwashing has increasingly threatened the transparency and credibility of this market. This article analyzes the theoretical foundations of greenwashing in the green bond market, while examining Vietnam’s current legal framework and identifying several regulatory gaps. Based on an analysis of China’s regulatory experience in managing the green bond market, the article draws several lessons and proposes recommendations to improve the legal framework and enhance the transparency and effectiveness of Vietnam’s green bond market.
Keywords: Greenwashing, green bonds, green finance, China, Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Trong những năm trở lại đây, hiện tượng tẩy xanh (greenwashing) ngày càng trở thành một vấn đề được quan tâm trong bối cảnh thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Không chỉ xuất hiện trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tẩy xanh còn có xu hướng lan rộng sang lĩnh vực tài chính xanh. Đặc biệt trong thị trường trái phiếu xanh, hiện tượng này đang đặt ra nhiều thách thức đối với tính minh bạch và hiệu quả của thị trường.
Thị trường trái phiếu xanh ở Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển ban đầu, trong khi đó, nhu cầu huy động vốn cho các dự án chuyển đổi xanh và biến đổi khí hậu đang tăng lên. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện sớm rủi ro về tẩy xanh và xây dựng khung pháp lý phù hợp để kiểm soát vấn đề này là vấn đề quan trọng. Vì thế, bài nghiên cứu phân tích hiện tượng tẩy xanh trong thị trường trái phiếu xanh thông qua phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu và so sánh với thị trường trái phiếu xanh tại Trung Quốc. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một vài kiến nghị nhằm hạn chế nguy cơ “greenwashing” trong thị trường trái phiếu xanh.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Hiện tượng “tẩy xanh” trong thị trường trái phiếu xanh
2.1.1. Khái niệm hiện tượng tẩy xanh trong thị trường trái phiếu xanh
Thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam và trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ như một công cụ quan trọng để huy động vốn cho các dự án thân thiện với môi trường, hỗ trợ chuyển đổi xanh và đạt mục tiêu phát thải ròng bằng không. Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh chóng này cũng kéo theo hàng loạt những rủi ro tiềm ẩn, trong đó hiện tượng tẩy xanh nổi lên như một vấn đề đáng lo ngại, làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư và ảnh hưởng đến hiệu quả thực chất của tài chính bền vững.
Tẩy xanh trong thị trường trái phiếu xanh là hành vi mà các tổ chức phát hành gắn nhãn “xanh” cho trái phiếu nhưng thực tế phóng đại, bóp méo hoặc đưa ra các tuyên bố không chính xác về lợi ích môi trường của dự án được tài trợ, nhằm thu hút dòng vốn từ nhà đầu tư quan tâm đến yếu tố ESG mà không đảm bảo cam kết thực chất [1]. Hiện tượng này thường bắt nguồn từ sự bất đối xứng thông tin khi mà nhà phát hành nắm rõ hơn về bản chất dự án nhưng có thể che giấu hoặc nhấn mạnh quá mức các khía cạnh tích cực để hưởng lợi từ mức lãi suất thấp hơn (greenium) mà nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận cho sản phẩm gắn nhãn xanh [4, tr. 2-4].
2.1.2. Hậu quả của hiện tượng tẩy xanh đối với thị trường trái phiếu xanh
Hiện tượng tẩy xanh trong việc phát hành trái phiếu xanh gây ra những hậu quả nghiêm trọng trên nhiều bình diện. Đối với nhà đầu tư, nó làm suy giảm lòng tin nghiêm trọng vào các sản phẩm tài chính bền vững, dẫn đến rủi ro tài chính cao hơn do định giá sai lệch và nguy cơ “green default” (tình trạng vỡ nợ liên quan đến các cam kết môi trường không được thực hiện). Hiện tượng này còn thúc đẩy “green hushing”, xu hướng các doanh nghiệp im lặng về nỗ lực xanh để tránh bị cáo buộc tẩy xanh, từ đó làm giảm động lực đầu tư bền vững tổng thể [7].
Đối với thị trường tài chính, tẩy xanh gây phân mảnh và làm suy yếu hiệu quả phân bổ vốn cho các dự án xanh thực thụ. Khi ranh giới giữa trái phiếu xanh chân chính và giả tạo bị mờ nhạt, thị trường trở nên kém minh bạch, dẫn đến greenium có thể biến mất, chi phí phát hành tăng lên đối với các nhà phát hành thực sự cam kết và tăng nguy cơ rủi ro hệ thống thông qua bán tháo đột ngột hoặc hiệu ứng lan tỏa sang các sản phẩm ESG khác.
2.2. Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về tẩy xanh trong thị trường trái phiếu xanh
2.2.1. Quy định hiện hành
Thị trường trái phiếu xanh của Việt Nam được điều chỉnh bởi một số văn bản quy phạm pháp luật. Khoản 2 Điều 150 Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã quy định nguồn tiền thu được từ phát hành trái phiếu xanh phải được hạch toán, theo dõi theo quy định của pháp luật về trái phiếu và sử dụng cho dự án đầu tư thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường, dự án đầu tư mang lại lợi ích về môi trường; Khoản 3 cùng điều quy định: “Chủ thể phát hành trái phiếu xanh phải cung cấp thông tin về đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường của dự án đầu tư và sử dụng nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu xanh cho nhà đầu tư.”
Hơn nữa, Điều 157 Nghị định của Chính phủ số 08/2022/ NĐ-CP ngày 10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường quy định cụ thể, chi tiết hơn về trái phiếu xanh. Theo đó, Nghị định quy định cụ thể như sau: Chủ thể phát hành trái phiếu xanh thực hiện công bố, cung cấp thông tin đánh giá tác động của dự án sử dụng nguồn vốn từ trái phiếu xanh khi đến thời hạn trái phiếu đáo hạn đến môi trường. Cụ thể, nội dung cung cấp thông tin bao gồm quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (nếu có), giấy phép môi trường (nếu có); thông tin về kết quả đánh giá các lợi ích môi trường của dự án sử dụng vốn trái phiếu xanh quy định; doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh thực hiện công bố thông tin theo quy định của pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và nội dung quy định tại điểm a khoản này; chủ dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn trái phiếu xanh do Chính phủ, chính quyền địa phương phát hành có trách nhiệm cung cấp thông tin theo nội dung quy định tại điểm a khoản này cho Kho bạc Nhà nước (đối với trái phiếu xanh do Chính phủ phát hành), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với trái phiếu xanh do chính quyền địa phương phát hành) để công bố trên trang thông tin điện tử của Kho bạc Nhà nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Bên cạnh đó, Điều 157 cũng quy định về chế độ công bố thông tin, báo cáo tình hình quản lý, giải ngân nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu xanh, chính sách ưu đãi của chủ thể phát hành, nhà đầu tư trái phiếu xanh.
Bên cạnh đó, Nghị định của Chính phủ số 93/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 quy định về quản lý nợ của chính quyền địa phương về quản lý nợ của chính quyền địa phương cũng là một văn bản quan trọng khác điều chỉnh thị trường trái phiếu xanh, đặc biệt liên quan đến trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành. Cụ thể, tại Điều 6 và Điều 16, Nghị định yêu cầu mục đích phát hành phải được nêu rõ trong đề án, với vốn huy động được hạch toán riêng biệt và báo cáo định kỳ về tình hình sử dụng vốn gửi Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh để công bố công khai trên trang thông tin điện tử.
Tiếp theo, một văn bản mới hơn và có tính đột phá là Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục Phân loại Xanh quốc gia, hiệu lực từ tháng 8/2025, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc chuẩn hóa các dự án xanh tại Việt Nam. Quyết định này xác định 45 loại hình dự án thuộc 7 nhóm ngành đủ điều kiện "xanh" kèm theo tiêu chí môi trường cụ thể để chủ dự án đề nghị xác nhận nhằm hưởng ưu đãi tín dụng xanh hoặc trái phiếu xanh. Văn bản này cung cấp cơ sở pháp lý rõ ràng để loại bỏ các dự án không đạt chuẩn, yêu cầu xác nhận độc lập từ tổ chức quốc tế nếu cần, và nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý của tổ chức xác nhận trước cơ quan nhà nước cũng như nhà đầu tư. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro "tẩy xanh" bằng cách tạo ngôn ngữ chung minh bạch, ngăn chặn việc gắn nhãn xanh cho các dự án chỉ mang tính hình thức, đồng thời thúc đẩy dòng vốn bền vững hướng tới mục tiêu net-zero 2050.
Ngoài ra, Nghị định của Chính phủ số 245/2025/NĐ-CP ngày 11/9/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị định 155/2020/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán, hiệu lực từ tháng 9/2025, cũng bổ sung thêm lớp bảo vệ chống tẩy xanh trong phát hành trái phiếu xanh ra công chúng. Nghị định này nâng cao tiêu chuẩn minh bạch bằng cách giới hạn tỷ lệ đòn bẩy tài chính của nhà phát hành không vượt quá 5 lần vốn chủ sở hữu, đồng thời yêu cầu báo cáo chi tiết về các yếu tố ESG, bao gồm đánh giá tác động môi trường và sử dụng vốn. Trong bối cảnh chống tẩy xanh, quy định này tăng cường giám sát sau phát hành, giúp nhà đầu tư dễ dàng phát hiện và phản ứng với các trường hợp sử dụng vốn sai mục đích hoặc phóng đại lợi ích môi trường, tiệm cận hơn với các tiêu chuẩn quốc tế như ICMA Green Bond Principles và góp phần xây dựng lòng tin bền vững cho thị trường trái phiếu xanh Việt Nam.
Thông tư số 76/2024/TT-BTC ngày 06/11/2024 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ công bố thông tin và báo cáo về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ cũng là một phần bổ sung quan trọng, nhấn mạnh việc công bố đầy đủ thông tin về mục đích sử dụng vốn và đánh giá tác động môi trường. Thông tư này yêu cầu nhà phát hành phải báo cáo định kỳ cho cơ quan quản lý, giúp phát hiện sớm các trường hợp tẩy xanh và áp dụng chế tài kịp thời, từ đó củng cố khung pháp lý tổng thể chống tẩy xanh trong thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam. Ngoài ra, còn có Nghị định số 95/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 quy định về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch công cụ nợ của Chính phủ trên thị trường chứng khoán tại Điều 21; Nghị định 65/2022/NĐ-CP ngày 16/9/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 153/2020/NĐ-CP quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.
2.2.2. Một số khoảng trống pháp lý
Mặc dù khung pháp lý hiện hành được hình thành từ hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, thị trường carbon, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành và quy định kỹ thuật có liên quan đã từng bước thiết lập nền tảng tương đối toàn diện cho hoạt động phát hành, quản lý và giám sát trái phiếu xanh, song vẫn tồn tại những khoảng trống pháp lý nhất định đối với hành vi “tẩy xanh”. Điều này có nguy cơ ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường và làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư trong dài hạn.
Trước hết, một trong những vấn đề cốt lõi là pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có định nghĩa chính thức về tẩy xanh trong lĩnh vực tài chính. Các văn bản mới chỉ dừng lại ở việc quy định nghĩa vụ minh bạch mà chưa định danh rõ hành vi “công bố sai lệch có chủ ý về lợi ích môi trường” như một dạng vi phạm đặc thù.
Thứ hai, mặc dù Danh mục Phân loại Xanh quốc gia năm 2025 đã thiết lập hệ thống tiêu chí tương đối rõ ràng đối với các dự án đủ điều kiện được gắn nhãn “xanh”, cơ chế xác nhận dự án hiện nay vẫn mang tính khuyến khích nhiều hơn là bắt buộc. Việc xác nhận chỉ được thực hiện theo đề nghị tự nguyện của chủ dự án hoặc chủ thể phát hành nhằm hưởng chính sách ưu đãi từ Nhà nước, thay vì áp dụng bắt buộc cho mọi dự án gắn nhãn xanh. Điều này tạo ra tính linh hoạt cho doanh nghiệp nhưng đồng thời để lại khoảng trống lớn về rủi ro tẩy xanh, khi một số dự án có thể tự gắn nhãn “xanh” mà không qua thẩm định độc lập.
Thứ ba, về chế tài xử lý vi phạm, dù đã thiết lập cơ chế xử phạt đối với hành vi công bố thông tin sai lệch trên thị trường chứng khoán, song vẫn chưa có quy định riêng biệt xác định các dấu hiệu cấu thành hành vi tẩy xanh trong lĩnh vực trái phiếu xanh. Việc thiếu quy định cụ thể về tẩy xanh khiến các cơ quan thực thi pháp luật khó áp dụng chế tài phù hợp và kịp thời đối với các trường hợp phóng đại lợi ích môi trường, sử dụng vốn sai mục đích hoặc báo cáo tác động môi trường không thực chất. Chế tài hiện hành chủ yếu dựa vào các quy định chung về vi phạm công bố thông tin, dẫn đến mức phạt chưa tương xứng với lợi ích kinh tế mà nhà phát hành có thể thu được từ hành vi “tẩy xanh”, từ đó làm giảm hiệu quả răn đe và khả năng bảo vệ nhà đầu tư.
Những hạn chế này không chỉ làm tăng rủi ro tẩy xanh mà còn cản trở sự phát triển bền vững của thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn thị trường còn non trẻ với nhận thức và năng lực giám sát hạn chế. Để lấp đầy các khoảng trống này, việc tham khảo kinh nghiệm từ các quốc gia nơi đã áp dụng các biện pháp tiên tiến hơn để ngăn chặn hiện tượng này là rất cần thiết.
2.3. Kinh nghiệm từ Trung Quốc về tẩy xanh trong thị trường trái phiếu xanh
Trong một thời gian dài, Trung Quốc tồn tại ba hệ thống quản lý và giám sát trái phiếu xanh độc lập (PBoC, NAFMII và CSRC) dẫn đến việc thiếu tiêu chuẩn thống nhất trong phân loại dự án xanh và thiếu bộ chỉ số chung [9, tr.7-8]. Khi tiêu chí xác định dự án “xanh” không được định nghĩa rõ ràng và áp dụng đồng nhất giữa các cơ quan quản lý thì doanh nghiệp phát hành có thể lợi dụng những điểm chưa cụ thể trong quy định để dán nhãn “xanh” cho các dự án không đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường cốt lõi, thậm chí chỉ mang tính hình thức hoặc có tác động môi trường không đáng kể. Hệ quả là doanh nghiệp có thể lựa chọn phát hành ở khu vực pháp lý hoặc cơ chế giám sát có tiêu chuẩn thấp hơn để được công nhận là xanh. Để khắc phục sự phân mảnh và thiếu chặt chẽ này, Trung Quốc đã hợp nhất bộ phân loại xanh qua việc cập nhật Danh mục Dự án được Hỗ trợ bởi Trái phiếu Xanh (2021) nhằm thống nhất tiêu chí và loại bỏ các hoạt động gây tranh cãi (như than sạch).
Trong giai đoạn đầu, Trung Quốc cho phép linh hoạt để kích thích thị trường. Nhưng khi thị trường đã đạt quy mô lớn, họ chuyển sang chuẩn hóa nghiêm ngặt hơn. Vào ngày 29/7/2022, Ủy ban Tiêu chuẩn Trái phiếu Xanh Trung Quốc (Ủy ban Tiêu chuẩn Trái phiếu Xanh (GBSC) ban hành “Nguyên tắc Trái phiếu Xanh Trung Quốc” (China Green Bond Principles) dựa trên sự học hỏi và tham khảo các chuẩn mực quốc tế như Green Bond Principles (ICMA) và Climate Bonds Standard (CBI). Bộ nguyên tắc này yêu cầu toàn bộ nguồn vốn huy động phải được phân bổ cho các dự án đáp ứng tiêu chí xanh, đồng thời tăng cường nghĩa vụ báo cáo định kỳ về tình hình sử dụng vốn và khuyến khích thực hiện đánh giá độc lập bởi bên thứ ba. Trước khi China Green Bond Principles 2022 được ban hành, một số cơ quan quản lý cho phép trái phiếu xanh chỉ cần một tỷ lệ tối thiểu là 70% nguồn vốn được phân bổ cho dự án xanh, trong khi phần còn lại có thể sử dụng cho mục đích chung của doanh nghiệp hoặc tái cấp vốn cho các khoản vay hiện hữu [14]. China GBP ra đời yêu cầu 100% nguồn vốn phải được sử dụng cho các dự án đáp ứng tiêu chí xanh theo hệ thống phân loại thống nhất đã thu hẹp đáng kể không gian cho việc sử dụng vốn sai lệch mục đích môi trường và giảm thiểu rủi ro tẩy xanh. Về phần nguồn vốn tạm thời chưa được phân bổ, China GBP khuyến nghị đầu tư vào các sản phẩm an toàn, thanh khoản cao như trái phiếu chính phủ Trung Quốc, trái phiếu ngân hàng chính sách và trái phiếu chính quyền địa phương [6]. Đồng thời nguyên tắc này yêu cầu thời hạn đầu tư tối đa đối với phần vốn chưa phân bổ không vượt quá 12 tháng, tức là yêu cầu trách nhiệm sử dụng vốn phải gắn với một khung thời gian xác định nhằm ngăn chặn tình trạng kéo dài thời gian treo vốn như một hình thức hợp pháp hóa việc chưa triển khai dự án xanh nhưng vẫn duy trì danh xưng trái phiếu xanh trên thị trường.
Năm 2023, Ủy ban Tiêu chuẩn Trái phiếu Xanh tiếp tục ban hành "Hướng dẫn về Công bố Thông tin trong thời gian tồn tại Trái phiếu Xanh". Theo Hướng dẫn, tổ chức phát hành phải công bố bắt buộc các thông tin như thông tin cơ bản của trái phiếu, tình hình sử dụng vốn, tiến độ dự án xanh, lợi ích môi trường và cơ chế quản lý nguồn vốn, công bố định kỳ trong báo cáo thường niên hoặc báo cáo riêng trước 30/4 hằng năm. Những yêu cầu công bố thông tin này đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế nguy cơ “tẩy xanh” trên thị trường trái phiếu xanh, giúp nhà đầu tư và cơ quan quản lý theo dõi mức độ thực hiện các cam kết xanh của tổ chức phát hành. Mặt khác, các thông tin bổ sung như đánh giá của bên thứ ba, các chỉ số môi trường chi tiết và thông tin quản trị liên quan đến chiến lược phát triển xanh của doanh nghiệp được khuyến khích công bố tự nguyện, góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình và nâng cao độ tin cậy của thông tin môi trường trên thị trường.
Về chế tài, Trung Quốc không xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể về tẩy xanh trong trái phiếu xanh, mà xử lý hành vi này như vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin. Theo Luật Chứng khoán của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2020, tổ chức phát hành có nghĩa vụ công bố thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ và kịp thời (Điều 78) ; mọi hành vi cung cấp thông tin giả mạo, gây hiểu lầm hoặc bỏ sót thông tin quan trọng đều có thể bị xử phạt hành chính (Điều 197), thậm chí truy cứu trách nhiệm dân sự ( Điều 85) hoặc hình sự (Điều 220).
2.4. Bài học kinh nghiệm và kiến nghị cho pháp luật Việt Nam
Trong bối cảnh thị trường tài chính xanh tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc mạnh mẽ, đặc biệt sau khi Danh mục Phân loại Xanh quốc gia được ban hành theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TT và các nghị định sửa đổi năm 2025 chính thức có hiệu lực, vấn đề kiểm soát tẩy xanh trong thị trường trái phiếu xanh trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
2.4.1. Kiến nghị đặt ra là cần nghiên cứu bổ sung khái niệm tẩy xanh vào Luật Chứng khoán hoặc Luật Bảo vệ môi trường theo hướng xác định rõ các hành vi cấu thành, bao gồm: công bố sai lệch hoặc gây hiểu nhầm về tác động môi trường của dự án; sử dụng vốn trái phiếu xanh sai mục đích so với phương án phát hành; phóng đại lợi ích môi trường không có cơ sở khoa học; hoặc không thực hiện nghĩa vụ báo cáo, công bố thông tin theo quy định. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng, việc luật hóa không chỉ dừng lại ở việc định danh hành vi mà còn cần xác định rõ tiêu chí đánh giá, yếu tố lỗi, cơ chế kiểm chứng độc lập và thẩm quyền giám sát. Đồng thời, quy định cũng cần được thiết kế theo hướng mở và linh hoạt nhằm bao quát các hình thức “tẩy xanh” có thể phát sinh trong tương lai, tránh tình trạng quy định quá cứng nhắc hoặc liệt kê mang tính khép kín. Việc định danh cụ thể và xây dựng cấu thành pháp lý rõ ràng sẽ tạo nền tảng vững chắc để áp dụng chế tài tương xứng, thay vì chỉ xử lý chung theo hành vi “công bố thông tin sai lệch” như hiện nay.
2.4.2. Trong bối cảnh Nghị định 245/2025/NĐ-CP đã nâng cao tiêu chuẩn minh bạch và kiểm soát đòn bẩy tài chính của tổ chức phát hành, việc bổ sung cơ chế xác nhận độc lập bắt buộc đối với trái phiếu xanh phát hành ra công chúng, hoặc đối với các đợt phát hành vượt một ngưỡng quy mô nhất định, là hoàn toàn cần thiết. Đồng thời, cần quy định rõ tiêu chuẩn năng lực, cơ chế cấp phép và trách nhiệm pháp lý của tổ chức xác nhận độc lập nhằm tránh tình trạng “xác nhận hình thức”, bảo đảm rằng quá trình đánh giá tác động môi trường được thực hiện trên cơ sở chuyên môn và dữ liệu kiểm chứng được.
2.4.3. Cần thiết phải bổ sung các dấu hiệu nhận diện cụ thể của tẩy xanh, qua đó tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc giám sát và xử lý vi phạm. Trong khi đó, tính chất nguy hiểm của hành vi này không chỉ dừng lại ở việc gây thiệt hại tài chính cho nhà đầu tư mà còn làm méo mó dòng vốn chuyển dịch sang các hoạt động kinh tế bền vững. Vì vậy, thay vì chỉ xem xét tăng mức xử phạt, cần bổ sung quy định cụ thể về các dấu hiệu nhận diện hành vi tẩy xanh trong hoạt động phát hành và công bố thông tin về trái phiếu xanh. Một vài tiêu chí mà nhóm tác giả đề xuất như: thiếu minh bạch trong báo cáo tác động môi trường định kỳ, phóng đại lợi ích môi trường, sử dụng vốn sai mục đích,..
3. Kết luận
Thị trường trái phiếu xanh ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Tuy nhiên nguy cơ tẩy xanh đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường tính minh bạch và hiệu quả của cơ chế quản lý thị trường. Việc hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường tiêu chuẩn phân loại hoạt động xanh, cơ chế công bố thông tin và giám sát thị trường là những yếu tố quan trọng nhằm hạn chế tẩy xanh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
[1] Bảo Thoa (2024). Tẩy xanh - rủi ro tiềm ẩn trong phát triển tài chính xanh. Lao động và Pháp Luật. Ngày 25/01/2024. Nguồn: https://laodongvaphapluat.laodongthudo.vn/tay-xanh-rui-ro-tiem-an-trong-phat-trien-tai-chinh-xanh-5425.html.
[2] China Green Bond Standard Committee (2022). China Green Bond Principles (2022 Edition). National Association of Financial Market Institutional Investors. Nguồn: https://www.nafmii.org.cn/ggtz/gg/202207/P020220801631427094313.pdf
[3] Ellen Kaye Fleishhacker, Arthur Luk, Christian DDHSchultz, Erik Walsh (2023). ESG, Whistleblowing, and Compliance Programs: Key Takeaways from a Recent ESG Misstatement Case. Arnold & Porter. Ngày 12/10/2023. Nguồn: https://www.arnoldporter.com/en/perspectives/advisories/2023/10/esg-whistleblowing-and-compliance.
[4] Hyun, S., Park, D. and Tian, S. (2019). The price of going green: the role of greenness in green bond markets. Accounting & Finance, 60(1), pp. 73-95. doi:10.1111/acfi.12515.
[5] International Capital Market Association (2022). Analysis of China's Green Bond Principles. Nguồn: https://www.icmagroup.org/assets/documents/Analysis-of-Chinas-Green-Bond-Principles.pdf
[6] IIGF (2022). Interpretation of the China Green Bond Principles. Nguồn: https://iigf-china.com/iigf-interpretation-of-the-china-green-bond-principles.
[7] James Gard (2023). ESG Fund Downgrade Accelerates. MorningStar, 2/2/2023. Nguồn: https://global.morningstar.com/en-gb/sustainable-investing/esg-fund-downgrade-accelerates.
[8] Larissa Ku (2024). From greenwashing to green husing: the quiet ESG challenge. Euromoney. 15/05/2024. Nguồn: https://www.euromoney.com/article/2d8k72kn9o3rnlqe1hlhc/opinion/from-greenwashing-to-green-hushing-the-quiet-esg-challenge/.
[9] Leung, V., Wan, W., & Wong, J. (2022). Greenwashing in the corporate green bond markets. Research Memorandum 08/2022. Hong Kong Monetary Authority.
[10] Lin, Lin & Hong, Yanrong (2021). Developing a Green Bonds Market: The Case of China. SSRN Electronic Journal. 10.2139/ssrn.3880280.
[11] Ma, J., Liu, J., Chen, Z., & Xie, W. (2019, July 2). China’s Green Bond Market. Research Center for Green Finance Development. National Institute of Financial Research. Tsinghua University.
[12] National People's Congress (2014). Environmental Protection Law of the People's Republic of China.
[13] National People's Congress. (2019). Securities Law of the People's Republic of China
[14] NetZero.VN (2024). Kinh nghiệm phát triển bền vững thị trường trái phiếu xanh ở một số quốc gia và đề xuất cho Việt Nam. NetZero.VN. 16/08/2024. Nguồn: https://netzero.vn/kinh-nghiem-phat-trien-ben-vung-thi-truong-trai-phieu-xanh-o-mot-so-quoc-gia-va-de-xuat-cho-viet-nam/.
[15] People's Bank of China, National Development and Reform Commission & China Securities Regulatory Commission (2021). Green Bond Endorsed Projects Catalogue 2021.
[16] People's Bank of China (2016). Guidelines for Establishing the Green Financial System.
[17] Samuel Shen & Brenda Goh (2022) China tightens green bond rules to align them with global norms. Reuters. Ngày 24/08/2022. Nguồn: https://www.reuters.com/markets/asia/exclusive-china-tightens-green-bond-rules-align-them-with-global-norms-2022-08-24/.