Nguyễn Vũ Khanh
Trường Cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi
Abstract
Community-based tourism is a type of tourism exploited based on indigenous cultural values. In order to develop the community through tourism or community-based tourism, besides preserving the land, preserving traditional culture, protecting cultural and historical works, protecting the environment, using resources, it is necessary to have support, orientation, experience sharing, and organization for the community to visit and learn. Developing community-based tourism in association with education, especially experiential education, education to raise awareness of indigenous people, vocational education to raise the level of tourism workers.... will bring many practical benefits, contribute to the sustainable development of tourism.
Keywords: Community tourism, education, sustainable development of tourism.
1. Đặt vấn đề
Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là một trong những loại hình du lịch (DL) được ưa chuộng trên toàn thế giới trong nhiều thập kỷ qua. Đối với Việt Nam, DLCĐ xuất hiện cách đây khoảng 3 thập kỷ và phát triển chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc rồi dần tiến đến các tỉnh thành trong cả nước. Trải qua chặng đường đó, mô hình DL này đã khẳng định được vai trò quan trọng trong việc phát triển DL bền vững cũng như bảo tồn những giá trị văn hóa, giá trị làng nghề và tạo công ăn việc làm cho cộng đồng địa phương. Với đầy đủ các điều kiện, tiềm năng, lợi thế để phát triển DL nói chung và DLCĐ nói riêng. Từ vị trí địa lý thuận lợi, giao thông thuận tiện, kết nối với các trung tâm DL lớn của khu vực và cả nước, kết nối quốc tế cả về đường sắt và đường bộ, đường biên giới dài với nhiều cửa khẩu quốc tế trọng yếu đến điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, khí hậu ôn hòa, mát mẻ, nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng, hệ sinh thái tự nhiên đa dạng. Bên cạnh đó, sự đa dạng phong phú về các di sản văn hóa, phong tục tập quán, con người thân thiện, mến khách; nhiều loại hình di tích lịch sử, văn hóa, địa danh gắn với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc… đã giúp cho DL Việt Nam có những bước tăng trưởng và phát triển cả về sản phẩm DL, số lượng khách, doanh thu DL. Tuy nhiên, sự tăng trưởng đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên DL của Việt Nam bởi còn gặp nhiều khó khăn trong công tác phát triển nguồn nhân lực DL, trình độ, ý thức của người dân bản địa trong quá trình làm DL. Vì vậy, phát triển DLCĐ gắn kết với giáo dục là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam
Ngày nay, nhu cầu DL trải nghiệm của du khách thay đổi, thiên về gần gũi thiên nhiên, đi theo nhóm nhỏ, vì thế loại hình DLCĐ phát triển mạnh mẽ với nhiều mô hình sáng tạo. Hiện tại, nhiều địa phương đã triển khai những mô hình DLCĐ khá thành công, trong đó:
Ở những tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, Hà Giang, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Quảng Ninh… Rất nhiều bản DLCĐ có sức lan tỏa mạnh mẽ, thu hút nhiều du khách nội địa và quốc tế như: bản DLCĐ Sin Suối Hồ, Sì Thâu Chải (tỉnh Lai Châu); làng DLCĐ Lô Lô Chải, Pả Vi, Du Già (tỉnh Hà Giang); bản DLCĐ Bản Hồ, Cát Cát (tỉnh Lào Cai)...
Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, điển hình như tỉnh Quảng Ninh hướng dẫn người dân làng chài ven biển làm dịch vụ đưa du khách đi tham quan làng chài Cửa Vạn. Ở Hà Nội, DLCĐ cũng là thế mạnh đang được khai thác. Bên cạnh những khu DLCĐ nổi tiếng như: làng cổ Đường Lâm (thị xã Sơn Tây), chùa Hương (huyện Mỹ Đức)... Hà Nội cũng hình thành các điểm DLCĐ mới: DL gắn với nông nghiệp tại xã Ba Trại, DL chăm sóc sức khỏe tắm lá thuốc của người Dao thuộc huyện Ba Vì…
Tại vùng duyên hải Bắc Trung Bộ: Tỉnh Thanh Hóa hình thành nhiều làng DLCĐ mới của dân tộc Thái tại Pù Luông, bản Mạ. Tháng 4, ngay khi DL mở cửa hoàn toàn, Pù Luông tấp nập đón khách, chủ yếu vẫn là khách nội địa. Những thửa ruộng bậc thang của đồng bào dân tộc Thái tại đây phủ màu xanh đến mát mắt. Pù Luông đẹp nhất là vào mùa lúa mới khi mới lên mạ xanh (từ giữa tháng 5) hoặc khi vào mùa lúa chín (tháng 9, 10). Khi ấy, núi rừng Pù Luông sáng bừng bởi sắc vàng óng ả, hoặc những thảm xanh lá mạ mát lành. Ẩn hiện trong sắc màu rực rỡ ấy là những nếp nhà sàn lợp rơm, ngói cũ. Pù Luông ghi điểm với du khách vì còn giữ được những màu sắc của tự nhiên, ngay cả khi nơi đây có đến gần 10 khu resort, nghỉ dưỡng cỡ 4-5 sao và hàng chục homestay do người dân bản địa tự khai thác DL [1]. Vào mùa hè, nơi đây được ví như thiên đường nghỉ dưỡng dành cho những du khách thích trải nghiệm DL sinh thái.
Không chỉ có Pù Luông, nhiều địa phương khác của Thanh Hóa cũng đẩy mạnh phát triển DLCĐ để khai thác tối đa tiềm năng DL từ người bản địa. Nhiều khu, điểm DL mới với cách làm sáng tạo của bà con dân tộc đã khiến DL Thanh Hóa khởi sắc. Đó là những khu DL ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (Thường Xuân), dọc lưu vực sông Mã, sông Chu và ven biển một số huyện Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia, Thường Xuân…[2].
Ở Quảng Trị, cách trung tâm xã Hướng Phùng 3km, thôn Chênh Vênh có 127 hộ, 75 hộ dân tộc Vân Kiều và 52 hộ dân tộc Kinh; cách đèo Sa Mù khoảng 20km, có danh thắng thác Chênh Vênh hoang sơ và nhiều suối, hồ, giao thông thuận lợi, đa số các hộ dân sinh sống đều nằm trên tuyến đường Hồ Chí Minh có điều kiện khai thác phát triển DLCĐ, DL khám phá nghỉ dưỡng. Nơi đây có đời sống kinh tế ổn định, tỉ lệ hộ nghèo giảm; nhiều hộ gia đình có nhà sàn truyền thống kiên cố có thể sử dụng làm lưu trú cho du khách. Thôn có sân chơi, bãi tập dùng cho việc tổ chức lễ hội và đời sống ẩm thực phong phú. Nhìn chung thôn chênh vênh có nhiều thế mạnh để phát triển Làng văn hóa DLCĐ.
Thôn Chênh Vênh có nhiều tiềm năng phát triển Làng văn hóa DL. Bên cạnh những thuận lợi về các điều kiện tự nhiên của xã Hướng Phùng, thôn Chênh Vênh có vị trí vô cùng thuận lợi để phát triển loại hình DL văn hóa cộng đồng như hệ thống giao thông trên trục đường Hồ Chí Minh, có hệ thống nhà sàn truyền thống cách tân đủ điều kiện phục vụ lưu trú (loại hình Homestay), có hệ thống suối nhỏ, lớn phục vụ DL trải nghiệm. Thôn vẫn giữ được nét giao thoa bản sắc văn hóa dân tộc về lễ hội, trang phục, làng nghề, ẩm thực phong phú của người Bru-Vân Kiều và Kinh. Gắn kết với việc xây dựng hàng rào, khuôn viên các tuyến đường hoa dạ yến thảo Mexico tại thôn Chênh Vênh và hoa dã quỳ ở các tuyến đường trung tâm xã Hướng Phùng. Có lượng khách người nước ngoài đi DL theo hình thức “phượt” trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Có khoảng cách gần với nơi giao thương buôn bán thương mại của cụm trung tâm các xã phía Bắc Hướng Hóa.
Ngoài ra, mô hình DLCĐ có tính gắn kết với các danh thắng, di tích lịch sử hiện có trên địa bàn. Đường Hồ Chí Minh là tuyến đường DL trải nghiệm hấp dẫn cho du khách trong nước và nước ngoài và có điều kiện thuận lợi cho việc gắn kết với các di tích lịch sử văn hóa trên tuyến đường Hồ Chí Minh như: Tượng đài Chiến thắng Khe Sanh, Sân bay Tà Cơn, đồi Động Tri..., di tích lịch sử khảo cổ Khu công xưởng chế tác đồ đá ở Hướng Lập. Gắn kết tham quan các danh thắng có tiềm năng phát triển DL như điện gió Hướng Linh, DL sinh thái hồ thủy điện Quảng Trị, đèo Sa Mù; động Brai, thác Tà Puồng, động Kulum, động Tà Puồng (địa phận của xã Hướng Việt, Hướng Lập) [2].
Những năm gần đây huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế) phát triển nhiều điểm DL sinh thái cộng đồng thú vị như: Thác A Nôr, các điểm DLCĐ Hồng Hạ, các homestay... Mỗi lần lên vùng cao A Lưới đều cảm thấy vô cùng thú vị khi được các nghệ nhân giới thiệu quy trình dệt Dèng truyền thống tại Làng văn hóa Paris - Kavin, xã Lâm Đớt… Có nhiều điểm bán hàng nông sản, đặc sản, các quầy bán hàng lưu niệm tại chợ và điểm DL trên địa bàn. Ngoài ra, gia đình còn được ngắm các vườn hoa, vườn nông sản và vườn trồng thảo dược truyền thống…
Tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: Ở Quảng Nam, mô hình DLCĐ ở Hội An có chiều hướng phát triển mạnh, góp phần cải thiện sinh kế, mang lại lợi ích cho người dân. Loại hình DL này đã thu hút nguồn lực từ cộng đồng trong đầu tư, khai thác, phát huy và bảo vệ, chăm sóc, phát triển tài nguyên cả nhân văn lẫn sinh thái. Hình thành sớm và tạo được sản phẩm đặc sắc là DLCĐ ở các làng nghề truyền thống như rau Trà Quế, gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng. Du khách rất thích thú khi được đến những nơi này, hòa vào cuộc sống thực tại của người dân, được xới đất trồng rau, nhào đất chuốt gốm, cưa xẻ gỗ... và tìm hiểu nét đẹp văn hóa làng nghề như nếp ăn ở, truyền dạy nghề, các ngày hội lễ tổ nghề, lễ cầu mùa, cầu an...
Hiện nay, Phú Yên cũng xây dựng kế hoạch, chương trình, liên kết tổ chức 4 điểm DL nông thôn cộng đồng phát triển mạnh hơn, gồm làng rau Ngọc Lãng, xã Bình Ngọc (TP. Tuy Hòa), buôn Lê Diêm, thị trấn Hai Riêng (huyện Sông Hinh), buôn Xí Thoại, xã Xuân Lãnh (huyện Đồng Xuân) và thôn Hòa Ngãi, xã Sơn Định (huyện Sơn Hòa) [3].
Tây Nguyên: Điển hình Làng Kgiang (Gia Lai) có 140 hộ, 100% là người đồng bào Bahnar sinh sống. Hiện làng vẫn giữ được rất nhiều văn hóa của người Bahnar như đan lát, tạc tượng, đánh chiêng, múa xoang,...Tận dụng những điều này, tỉnh đã tập trung phát triển các sản phẩm đặc trưng để phục vụ khách DL. Tính riêng cuối năm 2019, lượng khách lưu trú theo mô hình homestay đã lên đến gần 2.000 lượt khách trong và ngoài nước [4].
Nằm bên dòng sông Đăk Bla, Kon K’tu là làng xa nhất của xã Đăk Rơ Wa (thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum), nơi đây vẫn giữ được những nét kiến trúc, văn hóa mang đậm chất nguyên sơ, mộc mạc của người Bahnar. Nếu như các làng khác vắng bóng người vì bận chuyện nương rẫy thì hầu hết người làng Kon K’tu đều có người ở nhà để phục vụ du khách. Theo số liệu thống kê, mỗi năm (trước khi xảy ra đại dịch Covid-19), làng Kon K’tu đón từ 700-900 lượt khách DL, trong đó, có khoảng 300 lượt khách nước ngoài [4].
Vùng Đông Nam Bộ: Tây Ninh có nhiều lợi thế để phát triển DLCĐ gắn với các văn hóa của đạo Cao Đài, gắn với miệt vườn sông nước như lợi thế hồ Dầu Tiếng, sông Vàm Cỏ Đông, sông Sài Gòn…Từ cảnh quan là những cánh đồng, vườn cây ăn trái, giúp người dân làm DL ngay trên mảnh đất mình. Tây Ninh hiện có một số loại hình DLCĐ như homestay, farmstay bắt đầu hình thành và đang trong quá trình tạo ra các sản phẩm mới để phục vụ nhu cầu của du khách. Theo thống kê 3 tháng đầu năm 2022, ngành DL Tây Ninh trỗi dậy mạnh mẽ, góp phần tạo đà phục hồi và phát triển kinh tế. Tổng số khách đến Tây Ninh tham quan DL trong 3 tháng đầu năm ước đạt 2,26 triệu lượt, tăng 84,6% so với cùng kỳ; tổng doanh thu DL ước 573,4 tỉ đồng, tăng 40% so với cùng kỳ [1].
Vùng Tây Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long: Trong những năm qua, cồn Sơn (Cần Thơ) DLCĐ đã và đang được chú trọng, xuất phát điểm từ những hộ dân liên kết cùng hỗ trợ nhau làm DL. Họ xây dựng một mô hình chung là câu lạc bộ liên kết, trong đó sản phẩm và dịch vụ của từng nhà đều được quy định và kết nối rõ ràng từ đầu. Vì thế sản phẩm, dịch vụ đa dạng, ít khi trùng lặp và được kết nối để tạo thành chuỗi sản phẩm, dịch vụ phù hợp để du khách lựa chọn. Bên cạnh những sản phẩm nhà vườn, trải nghiệm làm bánh, ẩm thực... cồn Sơn đã hình thành sản phẩm độc đáo là “đặc sản cá”: từ cá lóc bay đến cá ăn cơm bằng muỗng, cá lóc bú bình, massage cá…[5]. Với nhiều trải nghiệm và có sự kết nối chặt chẽ trong một nhóm người cùng hoạt động DL, cồn Sơn có quy trình tổ chức phù hợp với sự kết nối và lựa chọn của các đơn vị lữ hành trong bối cảnh thị trường cần cung ứng sản phẩm theo yêu cầu.
Theo số liệu khảo sát, một số lượng lớn khách tham gia DLCĐ từ lần thứ 2 trở lên. Trong đó, 37.9% khách DL đã 2 lần tham gia hoạt động DLCĐ, 9.9% khách DL đã từng tham gia từ 03 đến 05 lần, còn lại 52.2% khách DL tham gia DLCĐ lần đầu tiên [4]. Số liệu này cho thấy, một số lượng không nhỏ khách DL tiếp tục tham gia vào các chương trình DLCĐ sau khi đã trải nghiệm lần đầu tiên. Điều này chứng tỏ rằng, với chất liệu xây dựng sản phẩm DL độc đáo từ chính những giá trị thường ngày của cộng đồng bản địa, DLCĐ đã tạo nên sức một hấp dẫn lớn với du khách để có thể thu hút họ tiếp tục tham gia trải nghiệm loại hình này.
2.2. Nguyên nhân dẫn đến phát triển du lịch của các địa phương theo hướng Du lịch xanh được đầu tư, kỳ vọng rất lớn nhưng không đạt hiệu quả như mong muốn
- Tính giáo dục, tính văn hóa thường ít được đề cập đến trong quá trình phát triển DLCĐ. Bởi DLCĐ là một hình thức tiếp cận khác. Cộng đồng tham gia làm DL đồng thời tham gia gìn giữ, phát triển văn hóa, ứng xử phù hợp với thiên nhiên, với lịch sử cũng như các hoạt động văn hóa tinh thần của chính họ trong đời sống hằng ngày…Du khách tham gia loại hình DL này sẽ được trải nghiệm cùng cộng đồng, cùng chia sẻ, cùng học hỏi để cùng kết nối, cùng hướng đến những điều tốt đẹp. Muốn thế, đây phải là hoạt động kinh tế đi cùng giáo dục, mang nhiều ý nghĩa văn hóa, giáo dục hơn so với các giá trị giải trí thông thường.
- Nhiều mô hình DLCĐ không thu hút được du khách do phát triển manh mún, tự phát, thiếu định hướng, thiếu chọn lọc. Chính vì thế, các sản phẩm DL ra đời nghèo ý tưởng, rập khuôn, ở các địa phương khác hoàn cảnh địa lý, tập quán sinh sống mà sản phẩm na ná nhau không có sức hấp dẫn... Nhiều nơi bà con đổ xô xây dựng homestay nhưng lại thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức quản lý, cho nên tình trạng dựng nhà lên rồi rơi vào cảnh “đắp chiếu” cũng không ít.
- Người dân làm DL theo phong trào, chưa bảo đảm giữ gìn môi trường tự nhiên và văn hóa, việc quy hoạch cũng như các chính sách chưa rõ ràng và đồng bộ, dẫn đến các mô hình DLCĐ hoạt động lỏng lẻo, kém hiệu quả, thậm chí chết yểu. Tình trạng các hộ gia đình tự làm homestay nhưng nguồn lực mỏng, tâm lý hoàn thiện, sắm sửa dần... dẫn đến làm ẩu, thiếu trách nhiệm với cộng đồng, thiếu kiến thức và kinh nghiệm về lễ tân, cách bố trí, sắp xếp vật dụng phòng nghỉ; đầu bếp chưa đáp ứng đủ tiêu chí, chuẩn. Những hạt sạn đó khiến không thu hút được khách DL lưu lại lâu.
- Không ít khu DLCĐ sau thời gian phát triển đã không giữ được cảnh quan thiên nhiên, bị bê tông hóa, thậm chí bản sắc văn hóa của người dân bản địa cũng bị mai một. Du khách tìm về miền đất của thổ cẩm thì thổ cẩm không còn, tìm nghe tiếng cồng chiêng thì bặt tiếng, những nhạc cụ truyền thống cũng không còn thay bằng những thứ mì ăn liền có thể bắt gặp bất cứ đâu. Tình trạng lúng túng, chồng lấn, thiếu nhất quán trong hoạt động vẫn ở nhiều nơi. Trong khi đó, để các hộ dân làm một cách tự phát, mạnh ai nấy làm theo kiểu đổ xô làm theo phong trào, không có sự đầu tư chất xám trí tuệ, nhỏ lẻ, thiếu bền vững; những sản phẩm, dịch vụ na ná nhau như ngủ nhà sàn, thưởng thức ẩm thực, văn nghệ... làm bản sắc văn hóa của địa phương bị lai tạp, những nét hay, nét riêng biệt vùng miền bị pha tạp thậm chí biến mất.
- Mô hình DL xanh còn hạn chế, chưa xây dựng các tour, tuyến phù hợp với nhu cầu, quỹ thời gian của khách, sự kết nối với doanh nghiệp lữ hành chưa tốt, khách đến chủ yếu là khách lẻ hoặc khách đoàn có đến tham quan rồi đi, chứ chưa dừng lại lâu để tăng nguồn thu cho người dân. Các mô hình DL tham quan làng nghề, cộng đồng, sinh thái cũng rơi vào tình thế tương tự, sự kết nối chưa tốt giữa “ba bên” nên các tour dù trước đó có kế hoạch triển khai cũng khó thu hút được khách.
- Nguồn nhân lực phục vụ DL tại cộng đồng còn thiếu và yếu. Thực tế, vấn đề bồi dưỡng nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc phát triển DL tại địa phương chưa được triển khai đồng bộ và cụ thể. Vì vậy, xảy ra các hiện tượng như chất lượng phục vụ khách tại điểm DLCĐ không đảm bảo như: vệ sinh môi trường xung quanh, môi trường vệ sinh của các cơ sở phục vụ khách, hiện tượng bán hàng rong, đeo bám khách,...
Tất cả những nguyên nhân trên đã làm cho các điểm DLCĐ chưa được nổi tiếng, chưa tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với khách DL trong nước và nước ngoài, đồng thời chưa khai thác hết tài nguyên DL tại điểm đến, góp phần xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
2.3. Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng gắn kết với giáo dục đạt hiệu quả
2.3.1. Phát huy sức mạnh cộng đồng để DLCĐ phát triển bền vững, yếu tố quan trọng nhất vẫn phát huy được sức mạnh, ý chí của cộng đồng dân cư bản địa trong việc đồng thuận cùng làm DL
Để làm được điều này, chính quyền địa phương cần có định hướng, quy hoạch rõ ràng những khu, điểm DL có tiềm năng phát triển DLCĐ, từ đó có chiến lược, kế hoạch hướng dẫn, đào tạo bà con các kỹ năng làm DL, dịch vụ. Các địa phương cần phải có chiến lược phát triển chung trong việc chia sẻ lợi ích kinh tế, tạo việc làm cho người dân; hài hòa được yếu tố phát triển với giữ gìn bản sắc văn hóa, cảnh quan.
2.3.2. Quan tâm, chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cho các đối tượng đoàn viên, thanh niên, lực lượng lao động tiềm năng là người bản địa nhằm nâng cao chất lượng nhân lực tại chỗ, tạo việc làm tại chỗ
Việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho nhân lực DL nông thôn tập trung vào những nội dung chủ yếu về các kĩ năng và nghiệp vụ DL. Tổ chức các lớp tập huấn, trau dồi kỹ năng mềm về văn hóa ứng xử, giao tiếp cho người dân; nâng cao chất lượng dịch vụ tại các điểm đến để phát triển DL bền vững, hiệu quả, góp phần thu hút du khách. Đào tạo cho các học viên là người dân tộc thiểu số về cách làm DLCĐ gắn với bảo vệ, phát triển sinh thái. Người dân cần phải biết cách làm DL đúng cách, giữ gìn bản sắc văn hóa, đặc sản địa phương để thu hút du khách
2.3.3. Định hướng thị trường và phát triển sản phẩm
"Đặc biệt chú trọng đến các sản phẩm du lịch sinh thái và văn hóa lịch sử; chú trọng xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc mang bản sắc văn hóa Việt nam, có sức cạnh tranh cao như du lịch làng nghề, du lịch đồng quê, miệt vườn, du lịch sinh thái ở những khu vực có hệ sinh thái đặc trưng". Về đầu tư phát triển du lịch: tăng cường "đầu tư phát triển các khu du lịch, đầu tư phát triển khu du lịch sinh thái, du lịch văn hóa..."
2.3.4. Cần xây dựng những tiêu chí để phân loại và lựa chọn các địa phương có điều kiện phát triển DLCĐ, đồng thời có chiến lược và lộ trình đầu tư phát triển các điểm DL này
Trong điều kiện hiện nay, khi cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đất nước còn nhiều bất cập, nguồn vốn đầu tư hạn hẹp cần phải tính toán để tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
2.3.5. Khi điểm cộng đồng được lựa chọn là điểm DL cần phải quy hoạch chi tiết phát triển theo định hướng thị trường lâu dài, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
Quy hoạch này phải được sự tham gia đóng góp không chỉ của các chuyên gia về các lĩnh vực mà phải được sự tham gia và đồng thuận của cộng đồng dân cư địa phương, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp.
3. Kết luận
DLCĐ, một hình thức của DL xanh, không chỉ làm đa dạng các sản phẩm DL, giúp cộng đồng gắn kết nhiều hơn mà còn giúp du khách cảm nhận được giá trị sống sâu sắc hơn, cộng đồng địa phương sẽ tự hào hơn về quê hương, văn hóa…của dân tộc mình. DL là ngành kinh tế mũi nhọn, nếu đi cùng giáo dục để nhân lên các giá trị phát triển bền vững thì đó là một hướng đi đúng, cần phát huy. Phát triển DLCĐ gắn kết với giáo dục sẽ là xu thế và đem lại nhiều lợi ích thiết thực. Do vậy, trong bối cảnh phục hồi kinh tế sau đại dịch cùng với công cuộc đổi mới giáo dục của nước nhà - gắn việc đào tạo với đáp ứng nhu cầu nhân lực các ngành kinh tế của đất nước - các bên liên quan cần phối hợp để cùng hành động, hiện thực hóa hướng phát triển DLCĐ đúng bản chất. Qua đó, vừa phát triển DLCĐ, vừa tạo ra cơ hội việc làm cho nguồn nhân lực được đào tạo để phục vụ cho phát triển DL. Ngoài những chủ trương, chính sách chung trong phát triển lĩnh vực DLCĐ thì con người là một nhân tố quan trọng, góp phần để DLCĐ phát triển theo hướng bền vững. Người dân phải thân thiện và tạo cảm giác yên bình cho du khách. Vì thế, các chính sách giáo dục có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng con người biết cách hành xử, tình cảm chân thật, nhiệt thành, có trách nhiệm và có trình độ mới giữ được du khách khi tham gia vào DLCĐ.
Tài liệu tham khảo
[1] Vũ Hương Giang (2019), Nghiên cứu phát triển doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực du lịch cộng đồng tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Viện Nghiên cứu Chiến lược, chính sách công thương, Hà Nội.
[2] Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2006), Kinh tế Du lịch, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội.
[3] Du lịch cộng đồng: Trải nghiệm Top 4 điểm đến hấp dẫn nhất.
Nguồn:https://www.google.com.vn/vinpearl.com/du-lich-cong-dong-trai-nghiem-top-4-diem-den-hap-dan-nhat, ngày 01/02.2023.
[4] Phan Huy Xu, Võ Văn Thành (2018), Du lịch Việt Nam từ lý thuyết đến thực tiễn, NXB Tổng hợp, TP. Hồ Chí Minh.
[5] Nguyễn Bá Lâm,Trịnh Xuân Dũng (2014), Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững (Giáo trình lưu hành nội bộ), Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.