Ngô Cẩm Tú
Khoa Tiếng Anh Cơ sở, Trường Đại học Đại Nam
Abstract
Idioms are what you can encounter very often in natural speech, both in Vietnamese and English. Looking closely at idioms in the two languages, the number of animal idioms is considerably large. With the question of whether there are similarities between English and Vietnamese idioms containing images of animals, I was encouraged to conduct this small research. With the scope of the study, the author chose the idioms of “dog” to analyze and compare them. The results showed equivalents between English and Vietnamese idioms of “dog,” both languages have idioms with positive and negative images of dogs.
Keywords: Investigation, idioms, English and Vietnamese idioms, images of animals, express meanings.
1. Đặt vấn đề
Thành ngữ có vị trí quan trọng trong một ngôn ngữ bởi đó là tinh hoa của ngôn ngữ được đúc kết qua nhiều thế hệ, phản ánh những đặc điểm văn hóa của dân tộc. Trong giảng dạy Tiếng Anh, dạy cho người học thành ngữ là một mảng không thể thiếu. Người học sẽ tiến gần đến việc sử dụng tiếng Anh một cách tự nhiên khi biết vận dụng thành ngữ trong giao tiếp. Vì vậy, thành ngữ từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu thu hút sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Khi tìm hiểu thành ngữ trong tiếng Anh, khía cạnh thường được nghiên cứu là so sánh, đối chiếu thành ngữ Anh - Việt, từ đó giúp người học phần nào nắm được một số đặc điểm về ngôn ngữ và văn hóa giữa hai nước Anh - Việt để vận dụng đúng đắn thành ngữ. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả tiến hành khảo sát một nhóm các thành ngữ gồm 40 thành ngữ tiếng Việt và 25 thành ngữ tiếng Anh có sử dụng hình ảnh con chó nhằm tìm ra nét tương đồng hoặc khác biệt của những thành ngữ này, chủ yếu trên phương diện ngữ nghĩa được thể hiện qua các biện pháp tu từ như so sánh hoặc ẩn dụ. Lý do tác giả chọn nhóm thành ngữ chứa từ “chó” bởi con vật là hình ảnh quen thuộc với cuộc sống của con người, thường xuất hiện trong những ví von so sánh của người dân. Vậy, việc nắm rõ được đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có sử dụng hình ảnh con chó thực sự rất hữu ích cho người học Tiếng Anh.
2. Khái niệm thành ngữ
Trong phần này, tác giả sẽ đưa ra quan niệm về thành ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt. Trước tiên là khái niệm về thành ngữ trong tiếng Anh. Những ai học Tiếng Anh chắc hẳn không ít lần ở trong tình huống khi người viết hoặc người nói sử dụng những diễn đạt dù không phải là từ khó hoặc mới nhưng lại rất khó hiểu. Ví dụ, cụm “over the moon” trong câu “I was over the moon when I heard I’d passed the exams.”. Câu này không thể hiểu theo nghĩa đen là người nói đang đứng trên mặt trăng khi nghe tin mình thi đỗ bởi cụm từ “over the moon” cần hiểu theo nghĩa tổng thể chứ không thể dịch bằng cách xâu chuỗi nghĩa của các từ đơn lẻ, và nghĩa của cụm từ này là chỉ một cảm giác, tâm trạng cực kỳ vui (theo Wright) [1]. Những cụm từ hoặc cách diễn đạt như vậy trong tiếng Anh được gọi là thành ngữ.
Theo McMordie và Seidl [2], thành ngữ là một tổ hợp từ được liên kết với nhau và có nghĩa khác với nghĩa của từng từ đơn lẻ trong thành ngữ đó. Cách mà những từ trong thành ngữ liên kết với nhau thường sẽ kỳ quặc, không có logic và thậm chí sai về mặt ngữ pháp. Tương tự như vậy, McCathy and O’Dell định nghĩa thành ngữ là những cách diễn đạt mà ý nghĩa không hình thành từ những từ đơn lẻ trong thành ngữ [3]. Hai tác giả đã đưa ra một ví dụ minh họa, đó là thành ngữ “drive somebody round the bend” có ý nghĩa là “làm ai đó cáu hoặc giận dữ” và rõ ràng ý nghĩa này không thể có được bằng cách xâu chuỗi nghĩa của các từ đơn lẻ lại.
Dựa vào định nghĩa của các tác giả ở trên có thể nói, thành ngữ trong tiếng Anh là những cụm từ hoặc câu cố định mà nghĩa của chúng không thể được hiểu dựa vào các từ đơn lẻ mà người học hoặc người dùng phải ghi nhớ nghĩa tổng thể để áp dụng sử dụng thành ngữ thật phù hợp với tình huống.
Tương tự, đối với tiếng Việt, thành ngữ cũng được định nghĩa là một cụm từ hoặc cấu trúc cố định và ý nghĩa của thành ngữ là ý nghĩa tổng thể. Tác giả Nguyễn Đình Hùng đã đưa ra một định nghĩa rất cụ thể về thành ngữ [4, tr. 9].
Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó.
Ví dụ: Một nắng hai sương/Rán sành ra mỡ/Đâm ba chẻ củ.
Như vậy, có thể thấy quan niệm về thành ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt là giống nhau, giúp cho việc so sánh đối chiếu của tác giả thuận lợi, chính xác hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt đều mượn hình ảnh các con vật để thể hiện một suy nghĩ, một lời khuyên hoặc một thông điệp, vì vậy thành ngữ về các con vật trở thành một đề tài thú vị cho nghiên cứu. Từ trước đến nay cũng đã có nhiều nghiên cứu về thành ngữ mang yếu tố con chó và những nghiên cứu này hầu hết tập trung vào sự ảnh hưởng của văn hóa, đời sống hay của sự tri nhận lên thành ngữ như trong nghiên cứu của Phạm Ngọc Hàm hay của Thái Thị Xuân Hà [5], [6]. Hai tác giả đã vận dụng lý luận ẩn dụ tri nhận để đi sâu phân tích những đặc trưng về mặt ngữ nghĩa của những thành ngữ có hình ảnh con chó trong tiếng Việt và có so sánh những đặc trưng ý nghĩa này với ngôn ngữ khác (tiếng Trung và tiếng Anh). Trong phạm vi của bài viết, tác giả cũng tìm hiểu về thành ngữ mang yếu tố con chó của hai ngôn ngữ Anh, Việt và mục tiêu chính là xem nhóm thành ngữ này của hai ngôn ngữ có đặc điểm khái quát gì giống nhau.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để có được sự so sánh đối chiếu, từ đó tìm ra xem các thành ngữ có hình ảnh con chó trong tiếng Anh và tiếng Việt tương đồng ra sao; tác giả đã thu thập thông tin từ các sách từ điển như “Từ điển thành ngữ tiếng Việt phổ thông” [7] và “Oxford Idioms Dictionary for Learners of English” [8], do đây là những tài liệu được viết bởi các tác giả nổi tiếng và xuất bản từ các nhà xuất bản uy tín (Oxford University Press & Nhà xuất bản Đại học Quốc gia). Để có thêm thông tin chính xác, tác giả cũng tham khảo thêm sách “Tuyển tập thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Anh thông dụng” của tác giả Nguyễn Đình Hùng [4]. Tuyển tập này liệt kê danh sách các thành ngữ tiếng Việt, đồng thời mỗi thành ngữ tiếng Việt có thêm thành ngữ tiếng Anh tương đương đi kèm. Chính sự sắp xếp Việt - Anh này giúp cho việc tìm hiểu ý nghĩa về thành ngữ có hình ảnh con chó của cả hai ngôn ngữ sẽ cực kỳ chính xác, tăng độ tin cậy của kết quả so sánh. Cùng với các nguồn tham khảo khác, tác giả đã tìm được 40 thành ngữ tiếng Việt có hình ảnh con chó và 25 thành ngữ tiếng Anh để tiến hành phân tích và so sánh. Kết quả được trình bày ở phần tiếp theo của bài viết.
5. Kết quả nghiên cứu
Sau khi phân tích 40 thành ngữ tiếng Việt có yếu tố con chó và 25 thành ngữ tiếng Anh tương tự tác giả nhận thấy nhóm thành ngữ mượn hình ảnh con chó trong tiếng Anh và tiếng Việt có một số đặc điểm giống nhau như sau: - Có các cặp thành ngữ giống nhau về mặt ý nghĩa và cách dùng từ; - Đều có thành ngữ sử dụng hình ảnh con chó biểu đạt khía cạnh tích cực; - Đều có thành ngữ sử dụng hình ảnh con chó nói về đặc điểm tiêu cực.
5.1. Các cặp thành ngữ giống nhau về mặt ý nghĩa và cách dùng từ
Một số thành ngữ trong tiếng Anh có câu thành ngữ tiếng Việt tương đương về mặt ý nghĩa và cách sử dụng từ vựng; đây là kết quả rất thú vị. Từ số lượng thành ngữ Anh - Việt được phân tích, so sánh, tác giả đã thống kê được 5 cặp thành ngữ Anh - Việt như vậy (bảng bên dưới).
|
Thành ngữ tiếng Anh
|
Thành ngữ tiếng Việt
|
|
A dirty dog
|
Bẩn như chó
|
|
Black dogs don’t turn white
|
Chó đen giữ mực
|
|
Barking dogs seldom bite
|
Chó sủa chó không cắn
|
|
A mad dog
|
Chó điên
|
|
A dog’s life
|
Đời chó má
|
Bảng 1: Các cặp thành ngữ Anh - Việt có yếu tố con chó giống nhau cả về ý nghĩa và cách dùng từ
Nhìn vào các thành ngữ được liệt kê ở trên có thể thấy các cặp thành ngữ gần như giống nhau trong cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải chung một ý nghĩa. Trong cặp thành ngữ “A dirty dog - Bẩn như chó” thì tính từ “dirty” trong tiếng Anh tương đương với tính từ “bẩn” trong tiếng Việt ghép với hình ảnh con chó để miêu tả một con người xấu tính, đáng khinh, không đáng được tôn trọng. Cặp thành ngữ tiếp theo là “Black dogs don’t turn white - Chó đen giữ mực” miêu tả sự bảo thủ, cố hữu, khó thay đổi thì cả hai ngôn ngữ đều sử dụng hình ảnh “black dogs - chó đen”. Cặp thành ngữ số ba miêu tả một ai đó hay nói nhiều, hay ầm ĩ thì sẽ không đáng nguy hiểm; và để biểu đạt ý nghĩa này cả hai thành ngữ Anh - Việt để sử dụng cùng một cụm từ “barking dogs - chó sủa” làm chủ ngữ với cùng hành động “seldom bite - không cắn” ở phần vị ngữ. Tiếp theo là cặp thành ngữ số bốn đã cùng dùng từ “mad”, tiếng Việt nghĩa là “điên” gắn với con chó nhằm chỉ những người đang trong trạng thái lồng lộn, mất bình tĩnh. Cuối cùng là cặp thành ngữ số năm để nói về một cuộc sống không ra gì, một cuộc sống khốn khổ, không thuận lợi thì cả hai ngôn ngữ đều liên hệ đến cuộc sống của con chó qua cặp thành ngữ “a dog’s life - đời chó má”.
5.2. Thành ngữ có hình ảnh con chó mang ý nghĩa tích cực và tiêu cực
Trong tổng 40 câu thành ngữ tiếng Việt và 25 câu thành ngữ tiếng Anh được phân tích thì tiếng Anh có 5 câu thành ngữ mang ý nghĩa tích cực, 9 câu thành ngữ mang ý nghĩa tiêu cực; còn tiếng Việt có 4 câu thành ngữ mang ý nghĩa tích cực, 18 câu mang nghĩa tiêu cực.
|
Đặc điểm
Thành ngữ
|
Ý nghĩa tích cực
|
Ý nghĩa tiêu cực
|
|
Tiếng Anh
|
5
|
9
|
|
Tiếng Việt
|
4
|
18
|
Bảng 2: Tổng kết số câu thành ngữ có yếu tố con chó mang ý nghĩa tích cực và tiêu cực
Con chó từ xa xưa là vật nuôi trong nhà có sự gắn bó thân thiết với con người. Vì vậy, con người rất dễ dàng phát hiện ra những điểm tốt và điểm xấu của loài vật này và dùng những đặc điểm đó để làm nổi bật lên tính tích cực và tiêu cực trong cuộc sống thực tế. Các thành ngữ được phân tích đã sử dụng các thuộc tính của con chó như ngoại hình, tính cách, hành vi là những thứ cụ thể để phản ánh các đặc điểm trừu tượng về tính cách, hành vi của con người hay bản chất của sự vật, hiện tượng. Dưới đây, tác giả sẽ đưa ra một số ý nghĩa biểu trưng mang tính tích cực và tiêu cực của loại thành ngữ ở cả hai ngôn ngữ.
5.2.1. Ý nghĩa tích cực
Trong quan niệm của văn hóa phương Tây, chó rất gần gũi với con người và là bạn của người, thậm chí là bạn tri kỷ. Vì vậy, chó đã được lựa chọn trong thành ngữ tiếng Anh để biểu đạt các ý nghĩa tốt đẹp. Ví dụ như để nói về một ai đó có quyền nhất hoặc có sức ảnh hưởng lớn trong nhóm, tổ chức thì tiếng Anh có cụm từ “Top dog” (tạm dịch: con chó đứng đầu). Khi miêu tả tâm trạng vui mừng thì tiếng Anh cũng mượn hình ảnh con chó trong thành ngữ “Be like a dog with two tails” (tạm dịch: như một con chó có hai đuôi - mượn hình ảnh con chó vui mừng hoặc khi rất thích điều gì thì thường vẫy đuôi). Hoặc khi muốn an ủi, động viên ai ở trong giai đoạn khó khăn rằng đó chỉ là sự tạm thời, “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” thì tiếng Anh có câu “Every dog has its/his day” (tạm dịch: mỗi con chó đều có ngày của nó, ý nói rằng người nào rồi cũng đều có khoảng thời gian thành công hoặc vui vẻ trong cuộc đời). Con chó còn là hình ảnh của một người dù đã có tuổi nhưng vẫn hoạt bát, nhanh nhẹn, đủ sức sống để làm gì đó; hình ảnh trên được miêu tả trong câu thành ngữ “There’s life in the old dog yet” (tạm dịch: dù gì vẫn còn sức sống ở con chó già). Trong tiếng Anh, nếu ai đó tốt hoặc làm điều tốt thì họ xứng đáng nhận được những điều tốt đẹp và để nói về ý này thì thành ngữ có câu “A good dog deserves a good bone” (tạm dịch: một con chó tốt thì xứng đáng nhận được một khúc xương ngon). Như vậy, có thể thấy những điều tích cực gắn với hình ảnh con chó trong thành ngữ tiếng Anh chính là sức mạnh, sự vui mừng, sự lạc quan và điều tốt trong cuộc sống.
Thành ngữ tiếng Việt mượn hình ảnh con chó để nêu lên mặt tích cực thì nhìn chung bao hàm những tầng nghĩa liên quan đến sự gắn bó thân thiết và phẩm chất trung thành. Nói về tình cảm gắn bó thì thành ngữ có câu “Lạc đàn nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu”. Chó và trâu là hai con vật rất nhớ đường về nhà do chúng được nuôi ở cùng với chủ nên có sự gần gũi, quấn quýt; vì vậy dù đi đâu con chó và con trâu không dễ quên đường về. Hay khi đề cao sự trung thành thì tiếng Việt có câu “Chó không chê chủ nghèo”, dựa vào ưu điểm không bao giờ phản bội của loài chó. Hoặc người Việt Nam khi khuyên những người có quan hệ thân thích, gần gũi phải yêu thương đùm bọc nhau thì hay dùng câu thành ngữ “Chó cùng nhà, gà cùng chuồng”. Ngoài ra, chó còn biểu trưng cho niềm vui, sự bình an; và tục ngữ Việt Nam có câu “Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang”. Thành ngữ tiếng Việt thường gắn với kinh nghiệm sống của người dân và nhóm thành ngữ có yếu tố chó nêu lên những ý nghĩa tích cực mà tác giả đề cập ở trên cũng mang đặc điểm này. Những kinh nghiệm có thể thiếu cơ sở khoa học nhưng ở khía cạnh thừa nhận vai trò của loài chó thì cho thấy phần nào người Việt đã nhìn ra một số đặc điểm tốt ở loài chó.
5.2.2. Ý nghĩa tiêu cực
Qua phân loại và phân tích ý nghĩa với nhóm thành ngữ tiêu cực, tác giả nhận thấy khi đề cập đến chó ở khía cạnh không tốt thì thật trùng hợp là cả tiếng Anh và tiếng Việt đều gắn hình ảnh con chó với một số nghĩa biểu trưng.
Để biểu thị sự lôi thôi, bừa bãi, bẩn thỉu, tiếng Anh có cụm từ “A dog’s breakfast” (tạm dịch: bữa ăn sáng của chó) nhằm miêu tả tình trạng bừa bộn, lộn xộn và tiếng Việt thì có câu “Bẩn như chó”.
Chó trong cả tiếng Anh và tiếng Việt đều gắn với một cuộc sống khổ sở, nhục nhã; tiếng Anh thì nói “A dog’s life” (tạm dịch: cuộc sống của một con chó), còn tiếng Việt thì có câu “Nhục như chó” hoặc “Đời chó má”. Ngoài ra, ở tầng nghĩa miêu tả cuộc sống khốn khổ, thành ngữ tiếng Việt xuất hiện số lượng phong phú và diễn tả những khía cạnh khác nhau của cái khổ. Chỉ về cuộc sống bất đắc dĩ của một người đàn ông phải sống bên nhà vợ, đi ở rể thì có câu “Chó chui gầm chạn”. Hoặc câu “Chó cắn áo rách” chỉ người nghèo khó, cùng cực đã khổ rồi mà lại còn khổ thêm hơn do bị kẻ xấu làm hại, lừa gạt vật chất. “Lên voi xuống chó” chỉ sự thăng trầm của đời người; lúc thì sướng, có lúc lại khổ và cái khổ được biểu đạt qua hình ảnh con chó.
Chó còn được dùng để biểu thị về sự ỷ thế làm càn. Cả tiếng Anh và tiếng Việt dựa vào mối quan hệ thân thiết của con chó và người chủ để hàm ý một ai đó cậy thế để ức hiếp người khác. “Chó ỷ thế nhà; gà ỷ thế vườn” hoặc “Chó cậy gần nhà; gà cậy gần chuồng” là hai câu thành ngữ chỉ kẻ dựa vào thế có lợi của mình hoặc sự thân quen để bắt nạt người khác. “Chó dại cắn càn” cũng nói về những người hung hãn, liều lĩnh làm bừa, không còn tỉnh táo để suy nghĩ cân nhắc. Người Anh khi nói về sự cậy thế của kẻ mạnh ức hiếp người yếu thì họ dùng hình ảnh con chó trong câu “A dog relies vaingloriously on his nearby master’s house” (tạm dịch: Chó dựa vào nhà của chủ một cách dương dương tự đắc).
Một tầng nghĩa tiêu cực nữa gắn liền với con chó, đó là sự không thực chất. Câu nói “Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi” ám chỉ một người không ra gì, bản chất xấu nhưng lại cố ra vẻ tốt đẹp. Đối với người không khiêm tốn, chưa đủ hiểu biết nhưng lại hay ra vẻ, lanh chanh dạy bảo người khác, tranh đua thì được ví như “Chó chạy trước hươu”. Tiếng Anh thì có câu “A barking dog never bites” (tạm dịch: chó sủa là chó không cắn), nghĩa là một người hay ồn ào hoặc dọa dẫm là người sẽ không dám làm gì, ít khi thực hiện hành động nguy hiểm giống như cách mà họ đang ầm ĩ đe doạ. Để biểu thị tính không trung thực, không thành thật của con người thì người Anh họ dùng thành ngữ “As crooked as a dog’s hind leg” (tạm dịch: cong như chân sau của con chó).
Thêm một nghĩa biểu trưng nữa của thành ngữ con chó mà cả hai ngôn ngữ đều có và ý nghĩa này đã được nhắc tới ở trên; đó là sự ương bướng, bảo thủ, cố hữu. Tiếng Anh có câu “Black dogs don’t turn white”; còn tiếng Việt thì hay nói “Chó đen giữ mực” hoặc “Chó đen quen ngõ”.
Bên cạnh những ý nghĩa biểu trưng mang tính tiêu cực đều có ở cả thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt được phân loại như trên thì mỗi ngôn ngữ lại có thêm những thành ngữ biểu đạt những ý nghĩa tiêu cực riêng khác. Điều này xuất phát từ đặc điểm riêng của văn hóa dân tộc mỗi nước. Điểm riêng biệt sẽ tạo thêm những tầng nghĩa khác cho thành ngữ con chó ở mỗi ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, chó bao gồm các nghĩa như sau: 1) Biểu thị ngu ngốc: “Ngu như chó”; 2) Biểu thị sự lười biếng: “Ngay lưng như chó trèo chạn”; 3) Biểu thị sự nhẫn tâm: “Chó cái bỏ con”; 4) Biểu thị sự thèm ăn: “Chực như chó chực cối”; 5) Biểu thị sự đáng thương hại: “Tâng hẩng như chó cụt tai”. Còn tiếng Anh thì có thêm những ý nghĩa tiêu cực như: 1) Chỉ sự đau ốm, tình trạng sức khỏe không tốt: “As sick as a dog” (tạm dịch: ốm như một con chó); 2) Sự ích kỷ: “A dog in the manger” (tạm dịch: con chó trong máng ăn - đây là thành ngữ liên quan đến câu truyện ngụ ngôn con chó nằm trong cũi để ngăn không cho bò và ngựa ăn cỏ khô); 3) Chỉ tình trạng xấu đi, sự sa sút trầm trọng: “go to the dogs”. Để thành ngữ này dễ hiểu hơn thì có thể đặt vào trong một câu đầy đủ như sau: “After Joe retired, the business went to the dogs.” (theo Online Cambridge Dictionary) [9] và có thể dịch câu như sau: “Sau khi Joe về hưu thì công việc kinh doanh bị sa sút”.
Như vậy, sau khi phân tích nhóm thành ngữ Anh - Việt có yếu tố con chó, kết quả tìm được thực sự rất thú vị do có thể thấy nhóm thành ngữ này giữa hai ngôn ngữ Anh - Việt có nhiều nét tương đồng cả về phương diện ngôn ngữ và ngữ nghĩa.
6. Kết luận
Thành ngữ là một phần quan trọng của ngôn ngữ bởi việc sử dụng thành ngữ là một phần của giao tiếp, làm cho giao tiếp mang tính đặc trưng của văn hóa đất nước. Xét về góc độ nghiên cứu thì thành ngữ thực sự là một ngữ liệu phong phú và thú vị cho các nhà nghiên cứu. Với kết quả tìm được sau khi so sánh một số thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt có yếu tố con chó, tác giả hy vọng đã cung cấp thêm cho người đọc thông tin hữu ích về nhóm thành ngữ và cũng là cơ sở cho những nghiên cứu xa hơn về thành ngữ sử dụng hình tượng con vật của hai ngôn ngữ Anh - Việt. Xét về góc độ của người học, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được sự giống nhau trong cách dùng từ ngữ để biểu đạt cùng một ý nghĩa của thành ngữ Anh - Việt có từ “chó” cũng như sự tương đồng trong vận dụng hình ảnh con vật này để nêu lên những điều tích cực và tiêu cực sẽ là những kiến thức thú vị. Người học sẽ có thể vận dụng các thành ngữ đó một cách chính xác trong giao tiếp dựa trên hiểu biết về ngữ nghĩa và nguồn gốc của chúng sau khi đọc thông tin được cung cấp từ bài viết.
Tài liệu tham khảo
[1] Wright, J. (2002). Idioms Organiser, Organised by Metaphor, Topic and Key Word (Công cụ tổ chức thành ngữ, được tổ chức theo phép ẩn dụ, chủ đề và từ khóa). Boston: Heinle.
[2] McMordie, W. & Seidl, J. (1978). English idioms and how to use them (Thành ngữ tiếng Anh và cách sử dụng). Oxford: OUP.
[3] McCarthy, M. & O’Dell, F. (2002). English idioms in use (Sử dụng thành ngữ tiếng Anh). Cambridge: Cambridge University Press.
[4] Nguyễn Đình Hùng (2002), Tuyển tập thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Anh thông dụng, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Phạm Ngọc Hàm (2018), “Chó” trong ngôn ngữ và văn hóa Trung - Việt, Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 34, số 01, tr. 59-69.
[6] Trần Thị Xuân Hà (2020), Ý niệm hóa hình ảnh con chó trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 5 (67), tháng 9.
[7] Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành (2002), Từ điển thành ngữ Tiếng Việt phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
[8] Parkinson, D. (2002). Oxford idioms dictionary for learners of English (Từ điển thành ngữ cho người học Tiếng Anh của Oxford). Spain: OUP.
[9] Online Cambridge Dictionary (Từ điển Cambridge trực tuyến): Nguồn: https: //dictionary.cambridge.org/dictionary/english/go-to-the-dogs.